Lời mở đầu
Trong giai đoạn hiện nay, vốn là một hoạt động vật chất quan trọng
cho mọi hoạt động của nền kinh tế. Nhu cầu về vốn đang nổi lên nh một
vấn đề cấp bách. Đầu t và tăng trởng vốn là một cặp phạm trù của tăng tr-
ởng kinh tế, để thực hiện chiến lợc phát triển nền kinh tế trong giai đoạn
hiện nay ở nớc ta cần đến một lợng vốn lớn.
Vốn cho phát triển kinh tế- xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp
bách trong cuộc sống hiện nay và nhiều năm tới ở nớc ta. Đơng nhiên để
duy trì những thành quả đã đạt đợc của nền kinh tế nhờ mấy năm đổi mới
vừa qua, giữ vững nhịp độ tăng trởng kinh tế cao, tránh cho đất nớc rơi vào
tình trạng lạc tụt hậu so với nhiều nớc láng giềng trong khu vực và trên
thế giới. Trong giai đoạn hiện nay nớc ta đang tìm mọi cách khơi dậy mọi
nguồn vốn trong nớc từ bản thân nhân dân và việc sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn đã có tại các cơ sở quốc doanh. Nguồn nớc ngoài từ ODA, NGO
và từ đầu t trực tiếp nớc ngoài FDI. Tuy nhiên cần thấy rõ nguồn vốn trong
nớc là chủ yếu, nguồn vốn trong nớc vừa phong phú vừa chủ động nằm
trong tầm tay. Nguồn trong nớc vừa là tiền đề vừa là điều kiện để đón các
nguồn vốn từ nớc ngoài. Nguồn vốn nớc ngoài sẽ không huy động đợc
nhiều và sử dụng có hiệu quả khi thiếu nguồn vốn bạn hàng trong nớc.
Mặc dù điều kiện quốc tế thuận lợi đã mở ra những khả năng to lớn để
huy động nguồn vốn từ bên ngoài, nhng nguồn vốn ở trong nớc đợc xem là
quyết định cho sự phát triển bền vững và độc lập của nền kịnh tế.
Qua nghiên cứu thực tế, và với cơ sở kiến thức đã tích luỹ đợc trong
thời gian qua em nhận thấy tầm quan trọng của việc huy động nguồn vốn
đầu t trong nớc phục vụ cho phát triển kinh tế Việt nam trong giai đoạn hiện
nay. Cũng nh xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề này, em chọn đề tài:
Những biện pháp cơ bản để tăng cờng huy động vốn đầu t trong nớc
phục vụ cho phát triển kinh tế Việt nam trong giai đoạn hiện nay.
Nội dung của đề tài này bao gồm các nội dung sau:
Phần I: Cơ sở phơng pháp luận để huy động nguồn vốn.
PHầN II: Thực trạng huy động vốn trong nớc trong thời gian qua ở
tăng trởng. Để tao ra tốc độ tăng trởng kinh tế từ 7-8% thì cần tích luỹ một
lợng vốn từ 20- 25% GDP. Nếu trong những năm tới mục tiêu tăng trởng
kinh tế là hai con số trong vài thập niên tới thì cần thì tỷ lệ tích luỹ vốn phải
lên tới trên 30% GDP. Đây là một nhu cầu lớn cần phải giải quyết để khai
thác nguồn vốn đặc biệt là nguồn vốn trong nớc.
Vốn ngân sách nhà nớc một thời gian giảm xuống nay đã bắt đầu tăng
lên. năm 1990 là 20% thì tới năm 1994 đã tăng lên là 44% ngân sách. Để
đạt đợc kết quả đó thì nguyên nhân cơ bản là chính sách thuế đã đợc cải
cách một cách toàn diện và thu đợc nhiều kết quả cho ngân sách. Năm1990
thu ngân sách từ thuế phí chiếm 73,69%, năm 1993 phần thu đó là 93,8%.
Nếu so với GDP thì các tỷ trọng tơng tự là 17,3% và 17,06% vốn huy động
từ các nguồn khác cũng có xu hớng tăng do chính sách khuyến khích đầu t,
t nhân và tạo dựng đợc môi trờng đầu t cho mọi thành phần kinh tế phát
triển. Điều mà ai cũng có thể đồng ý với nhau là một nền kinh tế kém phát
triển có thể cất cánh đợc nếu không có sự tham gia của các nguồn vốn từ n-
ớc ngoài. Vai trò của nguồn vốn bên ngoài có ý nghĩa quan trọng nhằm hỗ
trợ khai thông những cản ngại, tạo sức bật cho nền kinh tế phát triển. Vì vậy
chúng ta nên nỗ lực huy động nguồn vốn từ bên ngoài dới nhiều hình thức
3
khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta không nên trông chờ và ỷ lại vào nguồn vốn
từ bên ngoài. Trong việc huy động vốn để đầu t phát triển, chúng ta cần
phải khẳng định vai trò của nguồn vốn trong nớc đóng vai trò quan trọng
hay quyết định. Mặc dù nguồn vốn này còn thấp so với vốn dài hạn ( cho
thời kỳ 1996- 2000) vẫn còn khó huy động trong hiện tại. Theo ý kiến của
các chuyên gia trong và ngoài nớc , cùng với kinh nghiệm của các nớc đang
phát triển cho thấy: Nguồn vốn trong nớc vẫn là nguồn vốn có tính chất
quyết định, ngời dân trong nớc vẫn cha dám bỏ vốn ra đầu t thì ngời nớc
ngoài cũng cha mạnh dạn bỏ vốn dầu t vào Việt nam.
Vấn đề đặt ra là không phải tìm mọi cách để huy động cho đợc các
nguồn vốn, mà phải coi trọng việc quản lý và sử dụng nguồn vốn ấy cho
- Vốn huy động từ ngân sách nhà nớc.
- Vốn huy động trong dân c.
- Vốn huy động từ tiết kiệm của các doanh nghiệp.
b. Nguồn vốn ngoài nớc bao gồm:
- Vốn đầu t trực tiếp
- Vốn đầu t gián tiếp
- Vốn hỗ trợ và phát triển chính thức.
II/ Các bộ phận cấu thành vốn trong nớc.
1/ Vốn huy động từ ngân sách nhà nớc
Là bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lợng đầu t, nó có vị trí rất
quan trọng trong việc tạo ra môi trờng đầu t thuận lợi nhằm thúc đẩy mạnh
đầu t của mọi thành phần kinh tế theo định hớng chung của kế hoạch.
Chính sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một
số lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế đảm bảo theo đúng định hớng của
chiến lợc và quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội.
Nguồn ngân sách bao gồm: Nguồn thu trong nớc và nguồn thu bổ sung
từ bên ngoài, chủ yếu thông qua nguồn vốn ODA và một số ít là vay nợ của
t nhân nớc ngoài. Để nâng cao hiệu quả nguồn vốn từ ngân sách nhà nớc
cần có những sửa đổi trong chính sách đầu t.
Nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nớc:là các nguồn tàI
chính có khả nămg tạo lập nên quỹ ngân sách nhà nớc do kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh trong nớc mang lại.
-Nguồn thu đợc hình thành và thực hiện trong khâu sản xuất.
-Nguồn thu đợc thực hiện trong khâu lu thông-phân phối.
-Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ.
Thu ngân sách nhà nớc bao gồm các khoản:
-Thuế ,phí và lệ phí.
-Thu về bán và cho thuê các tài sản thuộc sở hữu của Nhà nớc.
-Thu lợi tức cổ phần của Nhà nớc.
-Các khoản thu khác theo luật định.
tích, cân nhắc nhiều nhân tố khác nhau. Những nguồn thu thuộc khu vực
kinh tế quốc doanh và có ý nghĩa đặc biệt thì cần chú ý bồi dỡng thông qua
các biện pháp hỗ trợ đầu t, trợ giúp về khoa học kỹ thuật, công nghệ và
nhân lực trong một chừng mực không bao cấp.
Không tận thu NSNN quá mức để bao cấp trong cấp phát mà chỉ thu
trong chừng mực tốt nhất để đáp ứng các nhu cầu chi của Nhà nớc. Đối với
những ngành , những địa phơng có thất thu lớn thì cần tăng cờng thu và tận
6
thu, nhng quan điểm bao trùm thì không phải là tận thu-Vì điều đó sẽ ảnh
hởng đến khả năng tăng trởng của nền kinh tế.
+ Cải tiến các hệ thống thuế, làm cho diện thu thuế tăng lên, nhng thuế
xuất đơn giản hoá. Kết quả là: giảm đợc tỷ lệ trốn lậu thuế, tăng nguồn thu
cho ngân sách, đáp ứng đợc nhu cầu chi thờng xuyên và chi cho đầu t phát
triển, đồng thời tránh đợc các khoản lạm thu, gây khó khăn phiền hà đến
sinh hoạt và các hoạt động khác của đời sống dân c.
+ Quản lý tốt vấn đề nợ, đảm bảo đúng đối tợng trả nợ và tính kỹ các
điều kiện trả trớc khi ký hợp định khung vay vốn, và hiệp định vay cho từng
công trình, chơng trình dự án đầu t.
Các chính sách về ngân sách nhằm huy động vốn dàI hạn cho phát triển
kinh tế -xã hội cần thờng xuyên đổi mới cảI tiến các hình thức huy động,
đặc biệt là hệ thống thuế.
- Phân bổ và sử dụng tốt các nguồn vốn đầu t từ ngân sách nhà nớc
+ Tăng quy mô đầu t từ ngân sách nhà nớc và sử dụng đúng hớng nguồn
vốn này với biện pháp bao chùm là chống thất thu và tiết kiệm chi thờng
xuyên để tăng quy mô nguồn đầu t từ ngân sách nhà nớc.
+ Từng bớc xoá bỏ triệt để cơ chế bao cấp trong lĩnh vực cấp phát quản
lý đầu t xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn của nhà nớc.
+ Tăng cờng công tác quản lý sau dự án. Những dự án này dùng nguồn
vốn nhà nớc thờng có quy mô vốn rất lớn, hiện nay việc thẩm định các dự
án là tơng đối chặt chẽ thì trái lại việc quản lý sau dự án lại bị buông lỏng
đặc biệt thì đều có cơ chế về thuế, tín dụng và lãnh thổ.
- Cùng với quá trình hình thành các tập đoàn kinh tế, cần xây dựng cơ
chế chính sách đồng bộ để tránh tình trạng thêm tầng lớp trung gian, gây
khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các bộ
chuyển nhanh sang các chức năng quản lý nhà nớc và chuyển nhanh về cơ
chế Bộ chủ quản để các doanh nghiệp tự chủ trong bảo bảo toàn và phát
triển nguồn vốn.
- Hiện nay nguồn tích luỹ của các doanh nghiệp còn rất hạn chế. Bởi lẽ
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả còn thấp, công nghệ cha đ-
ợc đổi mới, chất lợng của sản phẩm cha cao, nên khả năng tiết kiệm cho
đầu t cha nhiều. Mặt khác vốn khấu hao cha đợc quản lý nghiêm ngặt và
khấu hao đủ. Vì vậy để huy động đợc nguồn vốn lớn trong doand nghiệp
nhà nớc thì đòi hỏi nhà nớc phải tiến hành sửa đổi và ban hành các chính
sách để khuyến khích doanh nghiệp làm ăn có hiệu , để có thể đầu t phát
triên sản xuất.
- Trong giai đoan 1996- 2000 vốn của doanh nghiệp nhà nớc tự đầu t
khoảng14-15% tổng số của toàn xã hội. Mở rộng quyến tự chủ của các
doanh nghiệp theo hớng cơ cấu lại vốn sản xuất và tài sản của doanh
nghiệp một cách hợp lý, tính đầy đủ giá trị quyền sử đất vào vốn vào tài
sản tại doanh nghiệp.
8
3/ Nguồn vốn huy động từ trong dân c:
Theo ớc tính của các chuyên gia về kinh tế tài chính nguồn vốn trong
dân c có khoảng 6 tỷ USD đợc sử dụng qua điều tra của bộ kế hoach kế
hoạch đầu t và tổng cục thống kê nh sau:
- 44% để dành của dân là dùng để mua vàng và ngoại tệ
- 20% để dành của dân đợc dùng để mua nhà đất và cải thiện đời sống
sinh hoạt.
- Tuy nhà nớc cho phép các doanh nghiệp nhà nớc huy động vốn từ
trong dân với nhiều chính sách khác nhau, khi thực tế áp dụng còn nhiều
thông tin. Vì vậy, phảI xây dung một chiến lợc kinh tế đối ngoại đúng đắn,
phù hợp voí những chuyển biến to lớn về kinh tế, chính trị -xã hội và khoa
học hiện nay. Cần có chính sách tàI chính thích hợp để khuyến khích đầu te
nớc ngoàI dới hình thức vay nợ, đầu t tàI chinh, đầu t trực tiếp, mở chi
nhánh kinh doanh, thuê chuyên gia Thực hiện chế độ tàI chính u tiên nh
thuế nhập khẩu vật t kỹ thuật , dịch vụ thông tin, thuế xuất nhập khẩu thành
phẩm, thuế thu nhập , quyền đợc đảm bảo tàI sản, đIều kiện chuyển lợi
nhuận và vốn về nớc và các dịch vụ đầu t u đãI khác. Khuyến khích đặc biệt
đôi với đầu t nớc ngoàI cho các công trình cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc,
công nghệ mũi nhọn, các ngành sử dụng nhiều lao độngvà những dự án
khai thác tài nguyên có số vốn khổng lồ. Mở rộng thị trờng hối đoái bằng
cách cho phép nhiều ngân hàng thơng mại có đủ điều kiện về vốn và nghiệp
vụ, đợc kinh doanh ngoại hối và thực hiện dịch vụ thanh toán ngoại thơong
nhanh chóng, thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nớc .
Tóm lại, việc kết hợp giữa khơi trong và hút ngoài;giữa vốn tập
trung của Nhà nớc và vốn doanh nghiệp (có đợc từ mọi nguồn )theo một
định hớng đầu t đúng đắn trong một cơ chế hoạt động tài chính thích hợp
với tong giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta là
yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc củng cố và làm lành mạnh nền tài
chính quốc gia, đồng thời cũng là nhân tố tạo nên bớc chuyển biến có ý
nghĩa cơ bản của công cuộc đổi mới cơ chế kinh tế.
II/ Vai trò của vốn trong nớc với phát triển kinh
tế và ý nghĩa của vấn đề huy động vốn trong nớc.
1/ Vốn trong nớc với vấn đề đáp ứng nhu cầu của đẩu t cho phát triển
kinh tế.
- Chủ trơng phát triển nền kinh tế hàng hoá có tính kế hoạch nhiều
thành phần , định hớng XHCX nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất của
xã hội, khai thác và sử dụng có tiềm năng vốn của đất nớc đã đặt nền kinh
tế nớc ta đến một loạt các mâu thuẫn lớn cần giải quyết cấp bách. Trong đó
có mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu t và nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu ấy.
quả đIều tra mức sống gần đây của uỷ ban nhà nớc và tổng cục thống kê
cho thấy số tiền của ngời dân đợc tích luỹ dới nhiều hình thức.
Vì vậy việc bán tín phiếu với lãi xuất thích hợp đang thu hút nhanh
nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c. Và gần đây chính phủ cho phép thành lập
quỹ tín dụng nhân nhân, cũng nh ngân hàng dành cho ngời nghèo để hỗ trợ
cho các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn.
2/ Huy động vốn trong nớc với vấn đề phát triển kinh tế.
11
Trong năm năm 1991- 1995 vốn đầu t xã hội khoảng 18 tỷ USD, trong
đó đó đầu t nhà nớc chiếm khoảng 43%. Đầu t của khu vực t nhân chiếm
khoang 1/3 tổng số vốn đầu t.Tổng mức tiết kiệm mà các tổ chức huy động
dợc tăng từ 5300 tỷ đồng năm 1990 lên trên 24000 tỷ đồng, chiếm 35,5%
tổng đầu t xã hội . Sang kế hoạch 1996- 2000 lợng vốn dự báo cần cho đầu
t phát triển khoảng 41- 43 tỷ USD trong đó thì 50% từ nguồn vốn trong nớc.
Phần vốn đầu t từ ngân sách Nhà nớc dự kiến chỉ chiếm 12,6%, do đó phải
đẩy mạnh việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c, khuyến khích các
doanh nghiệp nhà nớc và các doanh nghiệp khác tự bỏ vốn ra hoạt động sản
xuất kinh doanh. Trớc yêu cầu mới, vấn đề huy động và sử dụng vốn vẫn
đang gặp nhiều khó khăn phức tạp cần phải khắc phục. Ngân sách nhà nớc
luôn ở trong tình trạng căng thẳng, không thể đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu
t phát triển. Đầu t của nhà nớc bị phân tán do phải đáp ứng nhiều nhiệm vụ,
các nguồn thu từ thuế, các khoản lệ phí, dịch vụ công cộng còn nhiều thất
thoát và lãng phí. Số vốn huy động đợc thông qua tín dụng chủ yếu là vốn
vay ngắn hạn không đáp ứng đợc nhu cầu đầu t phát triển và chuyển đổi cơ
cấu sản xuất. Vốn đầu t trực tiếp từ khu vực t nhân hãy còn chiếm tỷ lệ nhỏ
tập trung chủ yếu (80%) vào các lĩnh vực thơng mại dịch vụ, phục vụ tiêu
dùng. Một bộ phận không nhỏ nguồn vốn huy động ở trong nớc còn đang
nằm ở ngân hàng thơng mại đang bị ứ đọng không trở thành nguồn vốn đầu
t đợc.
Theo các ý kiến dự báo thì khoảng 50- 70 nghìn tỷ đồng của nhân dân
cuối cùng với việc tích cực tranh thủ các nguồn vốn bên ngoài, nhân dân ta
góp tiền của và sẽ tiếp tục bỏ tiền của để xây dựng đất nớc nhanh chóng
thiết lập các cơ chế chính sách thích hợp đồng bộ hoá các thủ tục hành
chính và các giải pháp vi mô để lập môi trờng đầu t lành mạnh, an toàn,
hiệu quả.
3/ Huy động vốn trong nớc với các vấn đề xã hội.
Trong 5 năm (1991- 1995) vốn đầu t thực hiện toàn xã hội là 193,537
tỷ đồng ( tính theo giá hiện hành) tơng đơng 18,6 tỷ USD. Trong đó vốn đầu
t trong nớc là 137,305 tỷ đồng chiếm 29%. Vốn đầu t trong nớc thuộc khu
vực nhà nớc là: 70.011 tỷ đồng ( bao gồm vốn ngân sách, tín dụng nhà nớc,
doanh nghiệp nhà nớc đầu t ), chiếm 31,6%, bình quân hàng năm tăng 16%.
Khu vực ngoàI nhà nớc đã đầu t 67,294 tỷ đồng chiếm 37,7% so với vốn
đầu t trong nớc.
Trong 3 năm (1996- 1998) tổng mức vốn đầu t toàn xã hội thực hiện
là253,614 tỷ đồng tơng đơng khoảng 20- 21 tỷ USD. So với mục tiêu toàn
xã hội của kế hoạch 5 năm 1996- 2000 là 41- 42 tỷ USD thì 3 năm1996-
1998 đã thực hiện đợc khoảng 40- 50%.
Nguồn vốn đầu t huy động toàn xã hội ngày càng tăng so với GDP.
Naawm 1989 chỉ đạt 8-9% GDP, thì đến năm 1991 đạt 15,22%, năm 1993
13
đạt 21%, năm 1995 đạt 26,3%, năm 1996 đạt 26,9% , nawm 1997 đạt
27,5% và năm 1998 đạt28,2%.
Nguồn vốn đầu t toàn xã hội ngày càng đa dạng hoá, hình thức huy
động đợc huy động qua nhiều kênh nh vốn ngân sách nhà nớc, phát hành
tráI phiếu công trình. Hiện nay hình thức cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà
nớc để tái đầu t hoặc đầu t xây dựng mới đang đợc mở rộng. Hình thức
doanh nghiệp tự vay vốn của nớc ngoào để đầu t có sự bảo lãnh của nhà nớc
cũng đã đợc mở rộng và hoàn thiện dần. Những năm gần đay đã triển khai
nhiều dự án đầu t theo hình thức BOT ( xây dựng- chuyển giao- kinh
doanh), BTO ( xây dựng kinh doanh- chuyển giao). Đối tợng sử dụng
28,0
20,1
33,9
3,04
90800
38000
22000
14743
30800
-
100
41,9
24,2
16,2
33,9
3,49
85000
39000
20000
13500
26000
-
100
45,9
23,5
15,9
30,6
3,6
253614
107614
Các nhà kinh tế đã tổng kết và đa ra các nhân tố tác động đến sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trởng kinh tế của Nhật là:
- Sự gia tăng nguồn vốn nhanh chóng, đa dạng hoá cơ cấu sản xuất,
đẩy mạnh công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản
xuất, tăng cờng điều tiết và vai trò của chính phủ trong nền kinh tế quốc
dân, mở rộng thị trờng.
- Bớc đàu bớc vào thời kỳ công nghiệp hoá Nhật đã có tỷ lệ tích luỹ
vốn hàng năm là 21,8% đến năm 1968 là 29,2% lớn hơn hai lần so với Mỹ
và gần bằng 2 lần của Anh.
Năm 1959 GDP của Nhật bằng 81% của Đức nhng tổng đầu t vào t
bản cố định của Nhật đã vợt Đức.
- Nhật duy trì đợc mức tích luỹ cao là nhờ mức lơng thấp trong khi
năng xuất lao động thì rất cao và có xu hớng ngày càng tăng nhanh. Huy
động đợc khối lợng lớn nguồn vốn từ ngời dân vào trong kinh doanh, chi
phí cho quan sự thấp, chi phí sử dụng nguồn vốn thấp và khống chế đợc
mức chi tiêu công cộng ở mức thấp.
2/ Kinh nghiệm của Hàn Quốc.
Kinh tế Hàn Quốc bắt đầu cất cách từ thập kỷ 60, kể từ kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ nhất ra đời năm 1962, nền kinh tế đã duy
trì đợc tốc độ tăng trởng kinh tế nhanh. Bình quân tốc độ tăng GDP hàng
năm là 9% cao hơn rất nhiều so tốc độ tăng bình quân của thế giới. Trong
cùng thời gian công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến có tốc độ tăng
trên 20% năm, dịch vụ tăng trên 14%/ năm. Tốc độ tăng trởng kinh tế
nhanh đã giúp cho Hàn Quốc giải quyết đợc nhiều vấn đề nh giảm thất
nghiệp, giảm tỷ lệ nghèo đói, giảm mức chênh lệch về thu nhập giữa nông
thôn và thành thị.
- Tài trợ cho các nhu cầu đầu t trớc tình hình kinh tế trong nớc kém
phất triển, nguồn tích luỹ từ nội bộ ít, nguồn tài trợ bên ngoài giảm sút
15
chính phủ đã khuyến khích đầu t làm tăng việc sử dụng nguyên liệu trong
lớn. Đây là một mô hình kinh tế bổ ích cho quá trình phát triển kinh tế ở
Việt nam vì vậy chúng ta phải tiến hành công tác nghiên cứu nó một cách tỉ
mỷ xem cái gì có thể vận dụng đợc và cái gì không áp dụng đợc.
Nó góp phần vào giải quyết bài toán khó về huy động vốn đầu t trong
nớc, tích luỹ trong nớc chỉ đợc cải thiện nhờ chính sách lãi suất mà còn
nhờ tiết kiệm chi tiêu của chính phủ. Việc hạn chế phần chi tiêu này góp
phần tích cực trở lại với vấn đề huy động vốn trong nớc. Một chính phủ gọn
nhẹ với những nguyên tác chi tiêu một cách hợp lý có ý nghiã thực sự đối
với tích luỹ cho nội bộ nền kinh tế quốc dân.
17
phần II.
Thực trạng của việc huy động vốn trong nớc của việt
nam trong thời gian vừa qua.
I /Tthực trạng của việc huy động vốn trong nớc.
1. Tình hình chung
Nền kinh tế nớc ta mới bớc ra khỏi cuộc chiến tranh trên mình còn
mang đầy thơng tích, khủng hoảng trầm trọng. Vì thế nền kinh tế nớc ta
mang nặng tính tập trung , quan liêu, bao cấp cho nên cha tạo ra động lực
kinh doanh phát triển. Chính Phủ tiến hành đổi tiền theo tỷ lệ 10 đồng tiền
cũ lấy một đồng tiền mới, mỗi ngời dân chỉ đợc đổi ở một mức độ giới hạn,
nếu vợt qua giới hạn thì bị giữ lại ở ngân hàng một thời gian khá dài sau đó
mới đợc rút ra. Bằng việc đổi tiền sẽ hy vọng sớm cải thiện đợc cán cân tiền
tệ trong nền kinh tế. Tuy nhiên biện pháp này chỉ cắt giảm đợc lợng tiền
tích trữ ngoài sổ sách của các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế quốc
doanh còn trong khu vực t nhân và trong nhân dân kết quả thu đợc rất hạn
chế vì phần lớn tiền tồn tại dới dạng vàng và đô la Mỹ. Sau khi tiến hành
đổi tiền mặt thì các doanh nghiệp quốc doanh gàn nh bị tê liệt, gây nên tình
trạng thiếu tiền mặt nghiêm trọng. Để giải quyết vấn đề này buộc Chính
phủ phải phát hành tiền để duy trì sự hoạt động cho các doanh nghiệp quốc
doanh và vì vậy làm tăng thêm mức độ lạm phát. Trong khi đó:
tiềm năng và khả năng khaio thác của nớc ta, cũng nh cha tơng xứng với
công cuộc đổi mới ở nớc ta đang trong giai đoạn thực hiện quá trình công
nghiệp hoá nền kinh tế. Trong quá trình công nghiệp hoá nó đòi hỏi phải
phát triển nền kinh tế với tốc độ cao, ổn định và bền vững, đồng thời phải
chuyển đổi cơ cấu kinh tế một cách mạnh mẽ theo hớng các nớc công
nghiệp phát triển. Bên cạnh nguồn vồn nớc ngoài, nguồn vốn trong nớc
phaior đợc huy động một cách tối đa, đảm bảo vai trò có ý nghĩa to lớn cho
công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc .
Nhìn vào bảng cơ cấu tốc độ nguồn vốn trong nớc ta thấy cơ cấu vốn
trong nớc tăng dần qua các năm, còn vốn ngoài quốc doanh và các vốn khác
thì giảm dần cả về tỷ trọng và tốc độ. Qua đó cho ta thấy đợc tầm quan
trọng của vốn đầu t trong nớc ngày càng quan trọng và quyết định mọi
hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh tế. Giai đoạn 1991- 1997 các
chính sách về đầu t đã thực sự phát huy tác dụng thu hút mọi tầng lớp dân
c và mọi thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động đầu t phát triển sản
xuất kinh doanh bằng tất cả các nguồn lực của mình, nhiều ngời đã bỏ cả
phần của cải tích luỹ vào đầu t phát triển sản xuất. Tổng cộng trong 7 năm
từ năm 1991- 1997 cả nớc đã huy động đợc 386 nghìn tỷ đồng ( tính theo
mặt bằng giá cả năm 1995) tơng đơng với khoảng 35 tỷ đô la. Trong đó vốn
bình quân trong nớc chiếm trung bình từ 52- 53%. Năm 1998 tổng vốn đầu
t phát triển đạt 9200 tỷ đồng, kế hoạch năm 1999 là 120.000 tỷ đồng. Muốn
đạt đợc kế hoạch đã đề ra thì nhà nớc nên ấn định mức lãi suất cao để hấp
dãn ngời gửi. Trên thực tế việc áp dụng biện pháp này bớc đầu đã mang lại
19
một số kết quả khả quan đặc biệt là số ngời gửi tiết kiệm ngày càng gia tăng
cả về quy mô và khối lợng.
II/ Hiệu quả sử dụng nguồn vốn trong nớc trong
thời gian qua .
1/ Trong lĩnh vực nông nghiệp.
Sự tăng trởng của nền kinh tế có đợc nh trên là do hầu hết các ngành
dụng, dịch vụ du lịch, dịch vụ y tế, giáo dụcĐã đạt đợc mức tăng trởng
20
cao qua các năm là do phát triển hàng hoá và dịch vụ đa dạng phong phú, lu
thông lại thông thoáng nên quan hệ giữa cung và cầu về hàng hoá dịch vụ
ngày càng đợc cải thiện dần ổn định giá cả do cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ gây ra.
4/ Các chính sách đợc sử dụng đẻ huy động nguồn vốn trong nớc thời
gian qua.
Xuất phát từ chiến lợc phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 với
trọng tâm cua đổi mới nền kinh tế là công nghiệp hoá- hiện đại hoá nền
kinh tế quốc dân, nhu cầu về vốn cho đầu t phát triển của toàn xã hội thời
kỳ 1996- 2000 sẽ vào khoảng 45- 50 tỷ USD. Để nhìn nhận và đánh giá
việc sử dụng các công cụ vĩ mô nói chung và các công cụ của chính sách tài
chính tiền tệ nói riêng cần phải dạ vào các mục tiêu chủ chốt mà các công
cụ và chính sách nhằm đạt tới. Trong thời gan qua nhà nớc ta đã sử dụng
một số chính sách sau:
- Chính sách huy động tiết kiệm:
+ảnh hởng của công cụ lãi suất đến tiết kiệm: Khi lãi suất tiền gửi của
hộ gia đình tăng lên điều này sẽ làm cho nhu cầu về tiết kiệm giảm đi. Điều
này trái ngợc với lý thuyết kinh tế là khi lãi xuất tiền gửi tăng lên thì chi phí
cơ hội của việc giữ tiền tăng nhng nó lại phản ánh đúng thực tế ở việt nam
trong thời gian qua. Nh vậy có thể nói trong mấy năm qua tỷ lệ tiết kiệm
của nớc ta tăng nhanh nhờ chủ yếu vào tốc độ tăng trởng cao của nền kinh
tế và cả sự ổn định của nền kinh tế và phần nào vào chính chính sách lãi
suất thực dơng hợp lý của Nhà nớc ta. Mặc dù tiết kiệm tăng nhanh nhng nó
vẫn không đủ khả năng cung cấp đủ nguồn vốn cho đầu t vào sản xuất.
+ Giá cả tác động đến tiết kiệm. Về mặt lý thuyết khi giá cả tăng thì
tiết kiệm sẽ giảm, thì việc ổn định giá cả và kiềm chế lạm phát có tác động
to lớn đến khả năng huy động nguồn vốn nội địa.
+ Tác động của bản thân cầu về đầu t tới tiết kiệm.
tăng trởng kinh tế, giả quyết các vấn đề xã hội nói chung và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nói riêng, trên cơ sở phát huy tiềm năng và lợi thế so sánh của
các ngành các thành phần kinh tế và các vùng kinh tế. Việt nam cũng đã
phát động chuyển dần nền kinh tế sang thời kỳ phát triển mới- Thời kỳ nền
kinh tế bớc sang giai đoạn công nghiệp hoá- hiện đại hoá theo tinh thần
nghị quyết hội nghị đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ Đảng cộng
sản Việt nam tháng 1-1994. Đây cũng là một nguồn lực và môi trờng trong
hành trang kinh tế việt nam tiến vào thế kỷ 21. Vì thế trong những năm tới
đây, cơ chế quản lý kinh tế sẽ tiếp tục hoàn thiện theo hớng đồng bộ các
yếu tố của thị trờng nh: Thị trờng hàng hoá, thị trờng lao động, thị trờng
nhà cửa, thị trờng chứng khoánĐồng thời hoàn thiện chính sách kinh tế,
đổi mới mạnh mẽ công tác kế hoạch hoá, đổi mới các chính sách tài chính
tiền tệ, giá cả và nâng cao hơn nữa năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế của
nhà nớc. Việc tạo ra cơ chế nh vậy sẽ tạo môi trờng thuận lợi để tiếp tục mở
22
rộng quá trình dân chủ hoá nền kinh tế, giải phóng sức sản xuất, khuyến
khích các thành phần kinh tế phát triển. Vì vậy, chiến lợc huy động và sử
dụng vốn đầu t cho trung hạn và dài hạn cũng đang đợc khẩn trơng soạn
thảo . Theo dự kiến ban đầu chỉ riêng vốn đầu t cho 5 năm 1996- 2000 đã
tăng lên 41- 42 tỷ USD gấp 2,2 lần tổng mức đầu t trong giai đoạn 1991-
1995. Trong đó năm 1996 là 6,0 tỷ USD, năm 1997 là7,0 tỷ USD, năm1998
là 8,25 tỷ USD , năm 1999 là 9,25- 9,75 tỷ USD , năm 2000 dự đoán là
10,5- 11 tỷ USD. Trong tổng số vốn đầu t đó thì 50% đợc lấy từ nguồn vốn
trong nớc còn lại là nguồn vốn ngoài nớc, so với nhu cầu phát triển vốn đầu
t thì số vốn trên còn hạn hẹp, do vậy hớng sử dụng vốn trong thời gian tới:
Chính phủ sẽ tập trung vào lĩnh vực mà t nhân không làm đợc, đặc biệt là
các hạng mục đầu t cho xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân
lực. Đầu t các hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp chủ yếu là các hoạt
động của các doanh nghiệp.
Vốn đầu t trong 5 năm 1996- 2000 sẽ đợc tập trung với mức độ tơng
- Huy động vốn trong nớc là tiền đề vật chất cho việc vay vốn nớc
ngoài, thể hiện sức mạnh của nền kinh tế các nớc đang phát triển đảm bảo
khả năng thanh toán bền vững trong quan hệ tín dụng đối với các nớc, là
động lực thúc đẩy các nớc đầu t mà không sợ mất vốn.
- Biện pháp hữu hiệu nhất cho việc quản lý và điều hành lu thông tiền
tệ, ổn định sức mua của đồng tiền, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát dới 10% là
khả năng có thể thực hiện đợc.
- Cơ sở để Nhà nớc hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội và
cân đối vốn vay trong nớc và vốn vay nớc ngoài, bảo đảm sự ổn định nền tài
chính quốc gia. Sự tăng trởng nguồn vốn nội lực là pháo đài chống đỡ
những rủi ro của nền kinh tế và khủng hoảng tài chính trong nớc nh một số
nứơc trong khu vực.
- Huy động vốn bằng lãi xuất cao là động lực thúc đẩy ngời có tiền
tiết kiệm, chi tiêu, mua sắm xây dựng cha cần thiết dành tiền gửi vào nhà
nớc để sinh lời nh một hoạt động dòng chảy theo thời gian tự nguyện đa
tiền đến gửi nhà nớc mà không phải băn khoăn lo sợ.
- Muốn huy động đợc nhiều phải có lãi suất cao tức là đầu vào cao
dẫn đến đầu ra cao đó là nguyên tắc trong kinh doanh tiền tệ. Tuy nhiên
đó chỉ là bề nổi còn bề sâu cũng cần phải suy ngẫm một cách nghiêm túc là
lãi suất có cao nhng nhà nớc tập trung và tích tụ đợc vốn , giảm dần vốn đi
vay nớc ngoài, nhân dân tăng thêm thu nhập là cái gốc để huy dể huy động
không ngừng tăng lên làm cho nớc mạnh dân giàu
- Nguồn vốn huy động trong nớc ngày càng tăng, tỷ lệ vay nớc ngoài
giảm đi một cách hợp lý, là biện pháp tiết kiệm ngoại tệ cho nớc nhà.
24
25