Chủ đề 4
SỰ PHÂN HÓA CÁC MIỀN TỰ NHIÊN VIỆT NAM
I. CÂU HỎI
Câu 1. Trình bày sự phân hóa tự nhiên nước ta theo vĩ độ
Câu 2. Trình bày sự phân hóa tự nhiên nước ta theo kinh độ
Câu 3. Trình bày sự phân hóa tự nhiên nước ta theo độ cao
Câu 4. Trình bày sự phân hóa tự nhiên nước ta thành các mùa
Câu 5. Trình bày các vùng địa lí tự nhiên nước ta
II. GIẢI ĐÁP
Câu 1. Sự phân hóa tự nhiên nước ta theo vĩ độ
Nước ta nằm hoàn toàn ở vùng nội chí tuyến thuộc bán cầu Bắc, trải dài gần 15
0
vĩ
tuyến và nhích về phía chí tuyến Bắc hơn là về phía xích đạo.
Tuy vậy, sự phân hóa theo vĩ độ chỉ trở nên rất rõ ràng vào thời kì mùa đông khi
mà gió mùa đông bắc hoạt động mạnh ở miền Bắc làm giảm sút nhanh chóng tính chất
nhiệt đới. Có thể nói gió mùa Đông Bắc đã làm cường điệu thêm sự phân hóa bắc nam và
được biểu hiện rõ rệt nhất trong chế độ nhiệt.
Có thể nhận biết sự phân hóa theo vĩ độ của tự nhiên nước ta theo hai đới tự nhiên
với ranh giới là đèo Hải Vân vắt ngang qua dãy Bạch Mã ở khoảng vĩ độ 16
0
B.
1. Đới rừng nhiệt đới gió mùa (còn gọi là đới rừng chí tuyến gió mùa)
Vị trí, giới hạn: bao gồm Bắc Bộ cho đến miền Trung Trung Bộ từ các tỉnh biên giới
phía Bắc đến đèo Hải Vân.
Địa điểm: Tổng nhiệt độ trung bình năm từ 7500
0
C đến 9300
0
C. Nhiệt độ trung bình
0
B đến
đèo Hải Vân ở vĩ độ 16
0
B
- Đặc điểm: không còn tháng lạnh dưới 18
0
C nhưng vẫn chưa vượt quá 20
0
C và
không còn tháng khô. Lượng mưa trung bình năm lớn hơn độ bốc hơi. Khi bị
ảnh hưởng mạnh của gió mùa đông bắc vẫn có thể có những ngày rét, nhiệt độ
có thể xuống thấp trên dưới 10
0
C và khi có gió Tây khô nóng hoạt động cũng
thường xuất hiện thời tiết khô.
2. Đới rừng á xích đạo gió mùa
Vị trí, giới hạn: bao gồm toàn bộ phần còn lại của lãnh thổ từ phía nam đèo Hải
Vân trở vào cho đến mũi Cà Mau.
Đặc điểm: tổng nhiệt độ trung bình năm từ 9300
0
C đến trên 10.000
0
C. Nhiệt độ
trung bình năm trên 25
0
C, không có tháng nào nhiệt độ xuống dưới 20
0
C. Vì vậy, khí hậu
của đới này nóng quanh năm, không có mùa đông lạnh và nhiệt độ thấp nhất ở các vùng
và Nam Trung Bộ.
Nước ta hàng năm lại chịu sự chi phối chặt chẽ của chế độ gió mùa: Mùa hạ là gió
mùa Tây Nam và mùa đông là gió mùa Đông Bắc. Sự kết hợp của chế độ gió mùa với các
hướng cấu trúc sơn văn chủ yếu trên đã dẫn đến hệ quả là trên lãnh thổ nước ta có sự
phân hóa theo hướng Đông – Tây khá rõ rệt:
- Về mùa đông trong khi ở khu vực phía đông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ chịu ảnh
hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc nên rất lạnh và khô thì ở Tây Bắc do có
địa hình chắn nên bớt lạnh hơn. Ngay ở miền Đông Bắc Bộ, khu vực phía tây
dãy núi cánh cung sông Gâm cũng bớt lạnh hơn và ẩm hơn so với khu vực phía
đông.
- Về mùa hạ, gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh làm cho ở Tây Bắc mùa hạ đến
sớm hơn và gây hiệu ứng phơn với khu vực phía đông dãy núi Trường Sơn.
Chính dãy núi Trường Sơn đã tạo nên một ranh giới khí hậu tự nhiên khác hẳn
giữa hai sườn đông và sườn tây. Trong khi mùa hạ mưa tầm tã ở sườn tây Trường Sơn thì
ở sườn đông còn nắng hạn và ngược lại vào thời kì cuối năm mưa rất lớn ở sườn đông
Trường Sơn thì ở phía tây Trường Sơn lại bước và thời kì khô hạn.
Sự phân hóa Đông – Tây đã làm cho thiên nhiên Việt Nam phân hóa thêm đa dạng
và phức tạp và biểu hiện rất rõ trong một phạm vi hẹp, giữa hai bên sườn của cùng một
dãy núi
Câu 3. Trình bày sự phân hóa tự nhiên nước ta theo độ cao
Nước ta là một nước có nhiều đồi núi, song chủ yếu là đồi núi thấp, đại bộ phận
lãnh thổ nước ta có độ cao dưới 1000m. Tính chất đai cao chỉ thể hiện rõ ở những vùng
núi có độ cao tương đối lớn và mang tính địa phương vì còn lệ thuộc vào vị trí, hướng
núi, hướng sườn.
Nguyên nhân chính gây nên sự phân hóa theo độ cao là có sự giảm nhiệt độ theo
độ cao với độ giảm nhiệt độ khoảng 0,6
0
C mỗi khi lên cao 100m. Theo độ cao, ở Việt
Nam có thể phân biệt được ba đai cao là đai nhiệt đới gió mùa chân núi, đai á nhiệt đới
Á đai này có tổng nhiệt độ trung bình năm trên 4500
0
C, có mùa hè mát (nhiệt độ
từ 20 – 25
0
C) và có độ ẩm cao với tương quan nhiệt ẩm (từ hơi ẩm đến ẩm). Trong đai
này, căn cứ vào đặc điểm sinh thái của thảm thực vật tự nhiên có thể phân chia thành
3 á đai:
- Á đai á nhiệt đới gió mùa trên núi có độ cao từ 600 – 1000m: Á đai này mang
tính chất chuyển tiếp từ đai nhiệt đới gió mùa chân núi sang đai á nhiệt đới gió
mùa trên núi. Ở miền Bắc có thể quan sát thấy ở độ cao 900m đất feralit đỏ
vàng, một số loài thực vật nhiệt đới có biên độ sinh thái rộng như táu, sến. Ở
miền Nam, á đai này không còn tháng nào nhiệt độ trên 25
0
C, có nhiều loài
nhiệt đới song cũng đã bắt đầu xuất hiện một số loài á nhiệt đới và ôn đới như
dẻ, re.
- Á đai á nhiệt đới gió mùa trên núi có độ cao từ 100 – 1600m: đây là á đai mang
tính chất á nhiệt đới gió mùa trên núi điển hình với khí hậu mát, ẩm, loại đất
mùn alít đỏ vàng là chủ yếu, các loài thực vật á nhiệt đới chiếm ưu thế như dẻ,
re, thông.
- Á đai á nhiệt đới gió mùa trên núi có độ cao từ 1600 – 2600m: á đai này mang
tính chất chuyển tiếp từ đai á nhiệt đới trên núi sang đai ôn đới trên núi. Ở đây,
mùa hạ tương đối mát mẻ, mùa đông lạnh nhưng ít khi có băng tuyết. Thảm
thực vật vẫn mang tính chất á nhiệt đới rõ rệt.
3. Đai ôn đới gió mùa trên núi ở độ cao trên 2600m.
Đai này có phạm vi nhỏ, chủ yếu tập trung ở dãy núi cao Hoàng Liên Sơn với các
đỉnh núi cao trên dưới 3000m. Ở đây tổng nhiệt độ trung bình năm đã xuống dưới
4500
Mùa lạnh được xác định là các tháng có nhiệt độ trung bình tháng xuống dưới
20
0
C (theo dự báo thời tiết khi có nhiệt độ dưới 15
0
C là rét đậm, dưới 13
0
C là rét hại).
Mùa lạnh ở Bắc Bộ kéo dài 4 – 5 tháng, ở Bắc Trung Bộ từ 1 – 3 tháng, ở miền Nam
hoàn toàn không có tháng lạnh. Ở các vùng núi trung bình và núi cao, mùa lạnh kéo dài
hơn do bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn.
2. Mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa ở nước ta thông thường diễn ra trong bối cảnh có sự thích ứng của chế
độ hoàn lưu với điều kiện địa hình. Mùa mưa được xác định bởi các tháng có lượng mưa
trung bình ≥ 100mm. Trên phần lớn lãnh thổ nước ta, mùa mưa diễn ra vào thời kì gió
mùa Tây Nam (hoặc Đông Nam) hoạt động mạnh, thường từ tháng 5 đến tháng 10.
Mùa mưa ở Bắc Bộ diễn ra từ thượng – hạ tuần tháng 4 đến trung tuần tháng 9 và
hạ tuần tháng 10. Lượng mưa lớn nhất thường xảy ra vào tháng 7, tháng 8. Ở Tây
Nguyên, cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ kéo dài từ cuối tháng 4, đầu tháng 5 cho đến
thượng tuần hoặc trung tuần tháng 11, ba tháng có lượng mưa cao nhất là các tháng 8, 9,
10. Riêng ở duyên hải Trung Bộ có lượng mưa khá lớn vào 3 – 4 tuần trước và sau tiết
Tiểu mãn (còn gọi là mưa Tiểu mãn và gây nên tình trạng lũ Tiểu mãn) sau đó là thời kì
khô nóng do hiệu ứng phơn kéo dài từ đầu hoặc giữa tháng 6 cho đến tháng 8. Sau tháng
8, mùa mưa bắt đầu và kéo dài tới tháng 11, 12 thậm chí tới tháng 1. Đối với khu vực
duyên hải Bắc Trung Bộ, lượng mưa lớn nhất vào tháng 9, tháng 10, còn đối với khu vực
duyên hải Nam Trung Bộ lượng mưa lớn nhất vào tháng 10, tháng11.
Mùa khô là thời kì ít mưa, cả về lượng mưa và số ngày mưa. Tuy vậy, mùa khô ở
Bắc Bộ bớt khắc nghiệt và gay gắt hơn ở Tây Nguyên và Nam Bộ do lượng mưa trong
những tháng khô tuy ít nhưng vẫn lớn hơn ở Nam Bộ và đặc biệt có nhiều ngày có mưa
Tây Nguyên), duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ (đồng
bằng sông Cửu Long).