LUẬN VĂN:
Những giải pháp cho con
đường quá độ lên CNXH ở
nước ta
càng nhiều và thêm phần nặng gánh , đòi hỏi chúng em phải cố gắng ,nỗ
lực hết mình để góp phần vào cùng đất nước tiến lên . Đó chính là lý do
khiến em chọn đề tài này . Em mong rằng sau đề tài mà mình làm , em có
thể biết rõ hơn về con đường mà chúng ta đang đi , nhận thức về nó sâu
sắc hơn sẽ có thể hiểu được nhiệm vụ mà cả nước ta phải làm , con đường
mà chúng ta phải vượt qua .
Nội Dung Cơ Bản
I . Lý luận chung về thời kỳ quá độ lên CNXH .
1. Thời kỳ quá độ lên CNXH .
1.1. Thời kỳ quá độ lên CNXH là gì ?
1.2 . Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội .
2.Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH.
Lý luận chung về thời kỳ quá độ lên CNXH.
Khẳng định của Lênin về quá độ lên CNXH ở các nước kém phát triển .
Thực tiễn Cách mạng tháng 10 Nga .
3.Các hình thức quá độ lên CNXH .
4.Thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam .
4.1.Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta .
4.2.Vậy quá độ lên CNXH ở Việt Nam nghĩa là gì ?
4.3.Khả năng quá độ lên CNXH của nước ta .
II.Quá trình nhận thức về con đường quá độ lên CNXH .
1.Quá trình nhận thức của chúng ta .
2.Nhiệm vụ -nội dung của thời kỳ quá độ lên CNXH,bỏ qua CNTB ở nước
ta .
III.Những giải pháp cho con đường quá độ lên CNXH ở nước ta .
và Chủ nghĩa xã hội xen kẽ nhau tác động với nhau , lồng vào nhau ,
nghĩa là thời kỳ tồn tại nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất , do đó
tồn tại nhiều thành phần kinh tế , cả thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa
lẫn thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa , thành phần kinh tế sản xuất hàng
hoá nhỏ cùng tồn tại phát triển , vừa hợp tác thống nhất nhưng vừa mâu
thuẫn và cạnh tranh gay gắt với nhau .
Thời kỳ này bắt đầu từ khi giai cấp vô sản giành được chính quyền và kết
thúc khi xây dựng xong về cơ bản cơ sở vật chất kỹ thuật của Chủ nghĩa
xã hội .
2. Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội .
Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa có thể ra đời từ trong lòng xã hội tư
bản chủ nghĩa do cả hai cùng dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất .
Nhưng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa không thể ra đời từ trong lòng
chế độ tư bản chủ nghĩa bởi nó dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản
xuất . Phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa chỉ ra đời sau khi cách
mạng vô sản thành công, giai cấp vô sản giành được chính quyền và bắt
tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội – giai đoạn đầu của phương
thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa .
Cuộc cách mạng vô sản khác với các cuộc cách mạng trước đó ở chỗ các
cuộc cách mạng trước đó giành được chính quyền là kết thúc cuộc cách
mạng vì nó dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất , còn cuộc cách
mạng vô sản thì việc giành được chính quyền mới chỉ là bước khởi đầu
còn vấn đề cơ bản hơn là giai cấp vô sản phải phải xây dựng một xã hội
mới cả về lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuât , cả về cơ sở hạ tầng
lẫn kiến trúc thượng tầng , cả về tồn tại xã hội lẫn ý thức xã hội .
Không những thế , công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội phải thông qua
quá trình đấu tranh gian khổ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
bản chủ nghĩa . Với các nước này , do đã trải qua giai đoạn phát triển tư
bản chủ nghĩa ,nên đã có sẵn tiền đề về cơ sở vật chất kỹ thuật . Vì thế
công cuộc quá độ , chỉ còn là biến những tiền đề ấy thành cơ sở vật chât
của chủ nghĩa xã hội, thiết lập một quan hệ sản xuất mới , một Nhà nước
mới , một xã hội mới – xã hội chủ nghĩa .
3.2. Quá độ từ các hình thái kinh tế- xã hội trước chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội .
Loại hình này phản ánh quy luật phát triển nhảy vọt của xã hội loài người
.
Với các nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu , kém phát triển , cũng
có khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển . Tuy
nhiên để có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội thì các nước này cần phải thực
hiện từng bước quá độ và phải có những điều kiện phù hợp .
Để có thể quá độ lên chủ nghĩa xã hội , các nước này cần phải có sự giúp
đỡ của giai cấp vô sản ở các nước tiên tiến đang xây dựng Chủ nghĩa xã
hội cả về vốn , kỹ thuật công nghệ lẫn kinh nghiệm xây dựng Chủ nghĩa
xã hội .Đồng thời nước này cũng phải hình thành được các tổ chức đảng
cách mạng và cộng sản , phải giành được chính quyền về tay mình , xây
dựng được các tổ chức nhà nước mà bản chất là xô viết nông dân và xô
viết những người lao động .
Lênin khẳng định rằng ở một nước kém phát triển có thể và cần phải tạo
ra những điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội bắt đầu bằng
một cuộc cách mạng thiết lập chính quyền liên minh công nông và phải
tiến lên Chủ nghĩa xã hội qua các bước quá độ , không được nhảy vọt
cũng như nóng vội .
4.Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa ở Việt
đã cố gắng để thích nghi với tình hình mới , nhưng càng cố gắng thì nó
càng không thể vượt qua khỏi những mâu thuẫn ngày càng gay gắt . Vì thế
chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của nhân loại . Thời đại ngày
nay là thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội . Quá trình
cải biến xã hội cũ , xây dựng xã hội mới – xã hội chủ nghĩa là vì sự
nghiệp cao cả là giải phóng con người , vì sự phát triển tự do và toàn diện
của con người , vì tiến bộ chung của loài người .Đi theo dòng chảy của
thời đại cũng tức là đi theo quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử .Mà
thực tế lịch sử đã cho thấy rằng, trên thế giới , đã có nhiều nước phát
triển theo con đường tư bản chủ nghĩa , nhưng kết quả là chỉ có một số
nước có nền kinh tế phát triển còn lại đa số các nước thì Châu Phi đói ,
Châu á nghèo , Châu Mỹ La Tinh nợ nần chồng chất .
Điều đó cho thấy sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội của nhân dân ta như vậy là sự lựa chọn của chính lịch sử dân tộc lại
vừa phù hợp với xu thế của thời đại . Vì thế việc chúng ta quá độ lên chủ
nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan và
hoàn toàn đúng đắn .
4.2.Vậy quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nghĩa là gì ?
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nghĩa là rút ngắn một
cách đáng kể quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội . Việc bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa không phải là xoá bỏ kinh tế tư nhân nói chung và kinh tế tư
nhân tư bản nói riêng , mà là bỏ qua sự thống trị của kinh tế tư bản tư
nhân , của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa , của kiến trúc thượng tầng
tư bản chủ nghĩa .
Việc quá độ lên chủ nghĩa xã hội không phải là việc có thể làm một cách
nhanh chóng mà cần phải có cả một quá trình lâu dài với nhiều bước quá
độ . Trong quá trình đó , chúng ta phải biết tiếp thu , nhận thức và tận
1. Quá trình nhận thức về con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của
chúng ta .
Việc bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa ,tiến thẳng lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta nghĩa là rút ngắn một cách đáng kể quá trình đi lên
chủ nghĩa xã hội . Tuy nhiên chúng ta cần phải biết tiếp thu ,nhận thức
,vận dụng những thành khoa học –kỹ thuật tiên tiến để phát triển nền kinh
tế , biết tranh thủ tối đa mọi điều kiện thuận lợi . Chúng ta phải biết tận
dụng sức mạnh tổng hợp của mọi thành kinh tế trong nước để phát triển
kinh tế nước nhà .
Với nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu như nước ta , thời kỳ quá
độ phải trải qua rất nhiều chặng đường , đó là :
1.1.Bước đầu hình thành con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc .
Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược 1954,Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân ta chuyển sang
giai đoạn mới của cách mạng : đó là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa
đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội , đồng thời tiếp tục hoàn thành
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để giải phóng miền Nam , thống nhất
đất nước . Đường lối chung của Đảng trong thời kỳ này là đoàn kết toàn
dân , phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn , truyền thống phấn đấu anh
dũng và lao động cần cù của nhân dân ta , đồng thời tăng cường đoàn kết
với các nước xã hội chủ nghĩa anh em do Liên Xô đứng đầu để đưa miền
Bắc tiến nhanh , tiến mạnh ,tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội , xây
dựng cuộc sống ấm no ,hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Nam thành
cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà , góp
phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa . Thực hiện đường lối cách mạng
do Đại hội Đảng lần thứ III nêu ra miền Bắc đã có những bước tiến và
phát triển nhanh các lĩnh vực kinh tế và xã hội ,cơ sở vật chất trong công
Cùng lúc đó , mô hình kinh tế tập trung quan liêu ,bao cấp bộc lộ một
cách toàn diện mặt tiêu cực của nó , hậu quả nó mang lại là một tổn thất
lớn đối với chúng ta .
Với những khó khăn đó Đảng ta đã phân tích tình hình và nguyên nhân ,
tìm ra các giải pháp , từ đó thực hiện đổi mới .
Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện từ đổi
mới kinh tế là chủ yếu , phải đi đến đổi mới chính trị , văn hoá ,xã hội ,
từ đổi mới tư duy , nhận thức , tư tưởng đến đổi mới hoạt động thực tiễn
của Đảng , nhà nước và các tầng lớp nhân dân Chúng ta phải vượt qua mô
hình chủ nghĩa xã hội cũ để xác lập mô hình mới về chủ nghĩa xã hội của
nước ta , mô hình hướng sự phát triển của đất nước đi tới thắng lợi của
chủ nghĩa xã hội . Từ những quan điểm đó , Đảng đã đề ra Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đề ra nhiệm mà
chúng ta phải làm đó là phải xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước , tiến hành công
nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước ,thu hút mạnh mẽ đầu tư của nước
ngoài , tận dụng những thành tựu của nhân loại vào công cuộc xây dựng
và bảo vệ đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội
2. Nhiệm vụ –nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ,bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa .
Nước ta tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một điểm xuất phát về
kinh tế quá thấp ,từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu , lại bị chiến
tranh tàn phá nặng nề trong gần ba thập kỷ ,và một cơ chế quản lý kinh tế
tập trung quan liêu bao cấp kém hiệu quả kéo dài . Thêm vào đó , tình
hình quốc tế có nhiều biến động lớn ,ảnh hưởng bất lợi cho nền kinh tế
nước ta . Tất cả những yếu tố khách quan lẫn chủ quan đó đã làm cho nền
kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng trong đầu những năm 80. Mười
lăm năm trở lại đây nhờ công cuộc đổi mới ,nước ta đã thoát khỏi khủng
hoảng kinh tế xã hội và đạt được nhiều thắng lợi to lớn . Nhưng vì điểm
xuất phát quá thấp ,tốc độ tăng trưởng chậm và chưa có cơ sở thật sự
hóa,tin học hoá và nhờ đó sức lao động của con người được giải phóng ,
năng suất lao động xã hội ngày càng tăng ,sản phẩm được sản xuất ra ngày
càng nhiều và đa dạng ,đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của con
người.Công nghiệp hóa ,hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ có tính quy
luật của sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở những nước kinh tế lạc hậu ,chủ
nghĩa tư bản chưa phát triển nói chung và nước ta nói riêng . Chỉ có hoàn
thành nhiệm vụ công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nước mới có thể xây
dựng được cơ sở vật chất –kỹ thuật cho xã hội mới ,nâng cao năng suất
lao động .Việc thực hiện công nghiệp hoá ,hiện đại hóa ở nước ta hiện nay
vừa nhằm cơ khí hoá sản xuất thay thế lao động thủ công bằng lao động
sử dụng máy móc ,vừa nhằm tạo ra những bước nhảy vọt ,đi tắt từ thủ
công lên thẳng từ động hoá ,tin học hoá ở một số ngành mũi nhọn .
Bên cạnh việc phát triển lực lượng sản xuất –cơ sở vật chất kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội ,trên cơ sở thực hiện cơ khí hoá nền sản xuất xã hội và
áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại –là nhiệm vụ cơ
bản của công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nước .Chúng ta cần phải
chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hoá ,hợp lý và hiệu quả cao
,có nghĩa là chúng ta cần phải giảm dần tỷ trọng nông nghiệp , tăng dần tỷ
trọng các ngành công nghiệp,xây dựng và dịch vụ ;trình độ kỹ thuật phải
ngày càng tiến bộ ,phù hợp với xu hướng của sự tiến bộ khoa học công
nghệ trên toà thế giới ;phải khai thác tối đa mọi nguồn lực trong nước và
thực hiện sự phân công lao động và hợp tác quốc tế theo xu hướng toàn
cầu hoá kinh tế .Nước ta kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay
,dưới ánh sáng của đường lối đổi mới do Đảng đề xướng ,việc chuyển dịch
cơ cấu đã đạt được những thành tựu quan trọng .Đảng ta đã xác định một
cơ cấu kinh tế hợp lý mà "bộ xương " của nó là cơ cấu kinh tế công -nông
nghiệp-dịch vụ gắn với phân công lao động và hợp tác quốc tế sâu rộng .
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ,sở hữu tư bản tư nhân không còn là
hình thức sở hữu thống trị nhưng vẫn tồn tại đan xen với sở hữu nhà nước.
Thứ hai là về tổ chức quản lý : chúng ta phải xây dựng được nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vận động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa .Nền kinh tế thị trường mà
chúng ta đang xây dựng mới chỉ là nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ
nghĩa chứ chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ,nên còn
tồn tại nhiều thành phần kinh tế .Chúng ta đang trong thời kỳ quá độ ,vì
thế cần phải kết hợp và tận dụng thế mạnh của tất cả các thành phần kinh
tế ,chưa nên xoá bỏ hẳn thành phần kinh tế tư nhân ,vì nó còn mang lại
nhiều ích lợi cho con đường chúng ta đang đi .
Thứ ba là về phân phối : Đất nước ta còn nghèo ,chúng ta chưa thể cải
thiện đời sống nhân dân nhanh chóng .Thế nhưng ,sự phát triển của các
quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ cho phép đồng thời
đòi hỏi mỗi bước tiến của sự phát triển kinh tế phải là một bước cải thiện
đời sống nhân dân ,đặc biệt là người lao động.Vì thế trong thời kỳ quá độ
,khi mà các thành phần kinh tế tồn tại đan xen nhau với chế độ sở hữu đa
dạng , chúng ta lấy mục tiêu phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế
làm nền tảng .
Phân phối theo lao động là phân phối trong các đơn vị kinh tế dựa trên cơ
sở sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất .Nó là hình thức phân phối thu
nhập căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động của từng người đã đóng
góp cho xã hội .Người làm nhiều hưởng nhiều ,người làm ít hưởng ít
.Phân phối theo lao động sẽ khuyến khích mọi người cùng cố gắng phấn
đấu , làm cho dân giàu ,nước mạnh ,xã hội công bằng ,văn minh và hạnh
phúc .
Chúng ta sẽ còn gặp rất nhiều khó khăn ,gian lao và thử thách trên con
có không ít khó khăn và thách thức phải đối mặt ,phải vượt qua ,nhưng
với thực tiễn 16 năm đổi mới ,chúng ta có cơ sở để tin rằng hoàn toàn có
thể vượt qua để biến khả năng thành hiện thực .Với đường lối đối ngoại
độc lập ,tự chủ ,đa phương hoá và đa dạng hoá ,sử dụng một cách khôn
khéo những mâu thuẫn trong thế giới tư bản ,chúng ta có thể khai thác
những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và mặt tích
cực của toàn cầu hoá kinh tế đem lại để phục vụ việc xây dựng chủ nghĩa
xã hội trên đất nước ta . Tuy nhiên trong điều kiện và bối cảnh quốc tế
như vậy , quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta phải đồng thời là
quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ . Hai phương hướng phát
triển đó tưởng như đối lập với nhau nhưng thực chất lại gắn bó hữu cơ với
nhau ,làm điều kiện cho nhau để phát triển . Độc lập tự chủ về kinh tế tạo
cơ sở cho hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả .Hội nhập kinh tế quốc tế
có hiệu quả tạo điều kiện cần thiết để xây dựng kinh tế độc lập tự chủ
Muốn vậy,phải từng bước nâng cao sức cạnh tranh quốc tế ,tích cực khai
thác thị trường thế giới ,tối ưu hoá cơ cấu xuất-nhập khẩu
tích cực tham gia hợp tác kinh tế khu vực và hệ thống mậu dịch đa
phương toàn cầu ,xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa mở rộng quan hệ kinh
tế đối ngoại với độc lập tự chủ ,tự lực cánh sinh ,bảo vệ an ninh kinh tế
quốc gia .
III . Những giải pháp cho con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam
Để có thể đưa đất nước vững bước trên con đường quá độ ,Đảng ta đã đề
ra đường lối kinh tế chung là đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá ,xây
dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ,đưa nước ta trở thành một nước công
nghiệp ;ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng quan hệ
sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN ;phát huy cao độ nội lực ,đồng
thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Từ phương hướng chung đó chúng ta sẽ có một loạt các giải pháp cho việc
phát triển từng vùng ,từng ngành ,từng lĩnh vực .
Thứ nhất là giải pháp cho cả nền kinh tế là phát triển kinh tế
nhanh ,có hiệu quả và bền vững ,chuyển dịch cơ cấu kinh tế ,cơ cấu lao
động theo hướng công nghiệp hoá ,hiện đại hoá.Mọi hoạt động kinh tế
được đánh giá bằng hiệu quả tổng hợp về kinh tế tài chính ,xã hội ,môi
trường ,quốc phòng và an ninh.Trước mắt ,tập trung nâng cao hiệu quả
sản xuất ,kinh doanh của các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp nhà
nước ,hiệu quả đầu tư ,hiệu quả sử dụng vốn .Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trên cơ sở phát huy sức mạnh và các lợi thế so sánh của đất nước ,tăng
sức cạnh tranh gắn với nhu cầu thị trường trong nước và ngoài nước ,nhu
cầu đời sống nhân dân ,an ninh và quốc phòng . Tạo thêm sức mua của thị
trường trong nước và mở rộng ở nước ngoài ,đẩy mạnh xuất khẩu.
Thứ hai là giải pháp cho nông nghiệp đó là phải tăng cường sự
chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp
hoá ,hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn .Đầu tư và tạo mọi điều kiện
cho thuận lợi cho việc phát triển nông- lâm -ngư nghiệp bằng cách ứng
dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến đặc biệt là công nghệ
sinh học . Đồng thời đầu tư nhiều hơn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh
tế và xã hội ở nông thôn .
Thứ ba là giải pháp cho công nghiệp :vừa phát triển các ngành sử
dụng nhiều lao động ,vừa đi nhanh vào một số ngành ,lĩnh vực có công
nghệ hiện đại ,công nghệ cao .Phải chú ý phát triển một số ngành công
nghiệp nặng quan trọng ,sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài
nguyên thiên nhiên ,xây dựng một số tập đoàn doanh nghiệp lớn đi đầu
trong cạnh tranh và hiện đại hoá.
Thứ tư là giải pháp cho việc phát triển các vùng:phát huy vai trò
Nhà nước ta phải đề ra chủ chương đúng đắn cho nhiệm vụ này . Tiêu
chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất theo định
hướng XHCN là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất ,cải thiện đời sống
nhân dân ,thực hiện công bằng xã hội.Điều này cũng chính là mục đích
của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của ta nêu ra đó là phát
triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chât -
kỹ thuật của CNXH ,nâng cao đời sống nhân dân,phát triển lực lượng sản
xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả
ba mặt sở hữu ,quản lý và phân phối .
Thứ nhất là giải pháp cho vấn đề sở hữu đó là chế độ sở hữu công
hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu từng được xác lập và sẽ chiếm ưu thế
tuyệt đối khi CNXH được xây dựng xong về cơ bản .Phải từ thực tiễn tìm
tòi ,thử nghiệm để xây dựng chế độ sở hữu công cộng nói riêng và quan
hệ sản xuất theo định hướng XHCN mới nói chung với những bước đi
vững chắc . Đường lối đổi mới của Đảng đã đặt lại vai trò của sở hữu tư
nhân trong công cuộc xây dựng CNXH.Thay cho việc xoá bỏ ngay lập tức
sở hữu tư nhân là việc sử dụng lâu dài sở hữu tư nhân , hợp tác với các
chế độ sở hữu khác để xây dựng CNXH .
Thứ hai là giải pháp cho vấn đề tổ chức quản lý . Nhà nước ta là
nhà nước XHCN ,quản lý nền kinh tế bằng pháp luật ,chiến lược quy
hoạch,kế hoạch ,chính sách ,sử dụng cơ chế thị trường áp dụng các hình
thức kinh tế và quản lý kinh tế của kinh tế thị trường để kích thích sản
xuất,giải phóng sức sản xuất phát huy mặt tích cực ,hạn chế và khắc phục
mặt tiêu cực của cơ chế thị trường,bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động .
Thứ ba là giải pháp cho vấn đề phân phối .Định hướng XHCN trong
quan hệ phân phối đòi hỏi chúng ta phải trước hết bảo vệ quyền lợi chân
chính của người lao động . Vấn đề ưu tiên hàng đầu để bảo vệ quyền lợi
trước hết là độc lập tự chủ về đường lối phát triển theo định hướng
XHCN,sự phát triển của kinh tế Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế
phải dẫn đến CNXH mà không đi chệch hướng,phải là một nền kinh tế mà
các nhân tố XHCN ngày càng lớn lên ,đóng vai trò chi phối nền kinh tế
quốc dân . Tiếp đó chúng ta phải thực hiện thắng lợi công cuộc công
nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nước ,tạo ra một tiềm lực kinh tế ,khoa học
và công nghệ đủ mạnh ,hình thành bước đầu một cơ sở vật chất ,kỹ thuật
mới đủ sức đem lại cho đất nước một tư thế độc lập và bình đẳng trong
hợp tác và đấu tranh khi hội nhập kinh tế quốc tế . Đồng thời phải xây
dựng được một nền kinh tế mà cơ cấu phải chuyển dịch dần theo hướng
tiến bộ ,hiện đại ,có sự cân đối hợp lý giữa công nghiệp ,nông nghiệp
,dịch vụ ,kết cấu hạ tầng kinh tế .Sau cùng đó phải là một nền kinh tế giữ
vững được ổn định kinh tế vĩ mô ,bảo đảm cho nền kinh tế đủ sức đứng
vững và ứng phó được với tất cả các tình huống phức tạp .
Để bảo hiểm cho nền kinh tế của đất nước ,chúng ta phải xây dựng được
một cơ cấu và cơ chế kinh tế thích hợp ,làm cho kinh tế nước ta trong khi
hội nhập kinh tế quốc tế vẫn không bị hoà tan ,không phụ thuộc hoàn toàn
vào thị trường thế giới ,vẫn tự tạo cho mình được một thế đứng vững về
kinh tế tài chính ,giữ được một khoảng cách đủ để chúng ta có thể xoay sở
mỗi khi thị trường thế giới diễn biến không lành mạnh và tác động tiêu
cực đến nền kinh tế của nước ta .
3.4.Giải pháp cho một số lĩnh vực khác .
Thứ nhất là về vấn đề xã hội ,cần phải thực hiện các chính sách xã
hội hướng vào phát triển và lành mạnh hoá xã hội ,thực hiện công bằng
trong phân phối ,tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất ,tăng năng suất
lao động xã hội ,thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội ,khuyến
khích nhân dân làm giàu một cách hợp pháp . Trong đó chính sách giải
quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản .
CNXH ,chúng ta sẽ tìm được thấy hạnh phúc ,ấm no và công bằng ,chúng
ta sẽ thấy được ánh sáng của văn minh nhân loại ,cái mà bấy lâu nay
chúng ta tìm kiếm nó .