tỷ giá và chính sách tỷ giá - Pdf 10

1. Khái niệm về tỷ giá và chính sách tỷ giá
1.1 Khái niệm về tỷ giá
Có nhiều khái niệm về tỷ giá được đưa ra từ những trường phái khác nhau:
Theo trường phái cổ điển: Tỷ giá là so sánh ngang giá vàng trong nội dung
đồng tiền mỗi nước. Khái niệm này đúng trong chế độ bản vị vàng, theo chế độ
bản vị vàng các quốc gia ấn định giá trị đồng tiền của mình với vàng: 1 ounce
vàng đổi được bao nhiêu đồng tiền mỗi nước, từ sự ngang giá vàng đó tỷ giá
giữa hai đồng tiền được xác định. Như vậy bản vị vàng giữa hai đồng tiền trở
thành tỷ giá hối đoái.
Theo trường phái tự nhiên học: Tỷ giá là quan hệ, là hệ số dùng để chuyển
đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác. Theo trường phái này thì tỷ giá được
công bố cố định bởi ngân hàng trung ương cho phép đổi lượng đơn vị tiền tệ của
nước này sang tiền tệ nước khác và tỷ giá này không chịu sự tác động của bất kỳ
yếu tố thị trường nào.
Theo trường phái hiện đại: Tỷ giá là giá cả đồng tiền nước này được biểu
hiện bằng đơn vị tiền tệ nước khác. Theo Kinh tế chính trị Mác-Lênin giá cả là
biểu hiện bằng tiền của giá trị. Giá trị đồng tiền của một quốc gia được xác định
dựa vào cung cầu tiền tệ nước đó. Như vậy khái niệm mà trường phái hiện đại
đưa ra, tỷ giá đã được xác định dựa trên quan hệ cung cầu trên thị trường. Tỷ giá
được hình thành dựa trên quan hệ cung cầu chính là tỷ giá mà các nền kinh tế
đều hướng tới. Do đó có thể đưa ra định nghĩa về tỷ giá như sau: “ Tỷ giá là giá
cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác”.
Phân loại:
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại tỷ giá:
Thứ nhất: Căn cứ vào cơ chế quản lý tỷ giá được phân loại thành tỷ giá cố
định, tỷ giá thả nổi và tỷ giá thả nổi có quản lý.
Tỷ giá cố định: Là tỷ giá được NHTW công bố cố định trong một biên độ
dao động hẹp. Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duy trì tỷ giá cố định,
1
buộc NHTW phải thường xuyên can thiệp, do đó làm cho dự trữ ngoại hối quốc
gia thay đổi.

thị trường ngoại tệ liên ngân hàng): Là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh
chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ. Tỷ giá này được áp dụng để tính
thuế xuất nhập khẩu và một số hoạt động khác liên quan đến tỷ giá chính thức.
Ngoài ra ở VN tỷ giá chính thức còn là cơ sở để các NHTM xác định tỷ giá kinh
doanh trong biên độ cho phép.
Tỷ giá tự do: Là tỷ giá hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng, do quan
hệ cung cầu trên thị trường tự do quyết định.
Thứ năm: Căn cứ theo bản chất tỷ giá được phân loại thành tỷ giá danh
nghĩa và tỷ giá thực.
Tỷ giá danh nghĩa: Là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua
đồng tiền khác mà chưa đề cập tới tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ
giữa chúng.
Tỷ giá thực: Là tỷ giá được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đã được
điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát giữa trong nước với nước ngoài, do đó nó là chỉ số
phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ.
Thứ sáu: Căn cứ theo hồ sơ, chứng từ thanh toán tỷ giá được phân loại
thành:
Tỷ giá điện hối: Là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện. Ngày nay do ngoại
hối được chuyển chủ yếu bằng điện nên tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng là tỷ
giá điện hối.
Tỷ giá thư hối: Là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư ( không phổ biến).
Tỷ giá tiền mặt: Là tỷ giá áp dụng cho ngoại tệ tiền kim loại, tiền giấy, séc
du lịch và thẻ tín dụng. Thông thường tỷ giá mua tiền mặt thấp hơn và tỷ giá bán
tiền mặt cao hơn tỷ giá chuyển khoản.
Tỷ giá chuyển khoản: Là tỷ giá áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ
là các khoản tiền gửi tại ngân hàng.
3
1.2 Khái niệm chính sách tỷ giá.
Theo nghĩa rộng: Chính sách tỷ giá là những hoạt động của chính phủ ( mà
đại diện thường là NHTW) thông qua 1 chế độ tỷ giá nhất định và hệ thống các

chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết tồn tại khi NHTW tiến hành can thiệp tích cực
trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá biến động trong một vùng nhất
định, nhưng NHTW không cam kết duy trì một tỷ giá cố định hay một biên độ
dao động hẹp xung quanh tỷ giá trung tâm. Chẳng hạn NHTW không công bố và
không cam kết duy trì một mức tỷ giá cố định nào, nhưng cam kết can thiệp để
tỷ giá ngày hôm nay chỉ biến động trong một giới hạn tỷ lệ phần trăm nhất định
so với ngày hôm trước. Đây được xem như chế độ tỷ giá hỗn hợp giữa chế độ tỷ
giá cố định và chế độ tỷ gíá thả nổi hoàn toàn.
Các công cụ can thiệp của chính phủ:
Công cụ can thiệp của chính phủ gồm hai nhóm công cụ: nhóm công cụ tác
động trực tiếp và nhóm công cụ tác động giá tiếp:
Nhóm công cụ tác động trực tiếp lên tỷ giá:
Được thực hiện thông qua hoạt động của NHTW trên thị trường ngoại hối
thông qua việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố định ( trong chế
độ tỷ giá cố định) hay ảnh hưởng làm cho tỷ giá thay đổi đạt tới một mức nhất
định theo mục tiêu đã đề ra ( trong chế độ tỷ giá thả nổi). Để tiến hành can thiệp,
buộc NHTW phải có một lượng dự trữ ngoại hối đủ mạnh. Hơn nữa các hoạt
động can thiệp trực tiếp của NHTW tạo ra hiệu ứng thay đổi cung tiền tệ trong
lưu thông, có thể tạo ra áp lực lạm phát hay thiểu phát không mong muốn cho
nền kinh tế; chính vì vậy, đi kèm theo hoạt động can thiệp trực tiếp, NHTW
thường phải sử dụng thêm một nghiệp vụ thị trường mở để hấp thụ lượng dư
cung hay bổ sung phần thiếu hụt tiền tệ trong lưu thông. Do có những hạn chế
nhất định, nên các NHTW của các nước phát triển đã dần dần chuyển từ can
thiệp trực tiếp sang can thiệp gián tiếp mà chủ yếu là thông qua công cụ lãi suất
tái chiết khấu.
Ngoài ra trong nhóm công cụ trực tiếp phải kể đến các biện pháp can thiệp
hành chính của chính phủ có thể áp dụng là:
5
Biện pháp kết hối: Là việc chính phủ quy định đối với các thể chế và pháp
nhân có nguồn thu ngoại tệ phải bán một tỷ lệ nhất định trong một thời gian nhất

Ngoài các công cụ gián tiếp thông dụng nêu trên, trong từng thời kỳ chính
phủ ( chủ yếu là các nước đang phát triển) còn có thể áp dụng một số biện pháp
cá biệt khác:
+ Điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các NHTM: Khi
ngoại tệ khan hiếm trên thị trường ngoại hối, NHTW có thể tăng tỷ lệ dự trữ bắt
buộc đối với vốn huy động bằng ngoại tệ của các NHTM, làm cho chi phí sử
dụng vốn ngoại tệ tăng lên; để kinh doanh có lãi buộc các NHTM phải hạ thấp
lãi suất huy động ngoại tệ, kết quả là việc nắm giữ ngoại tệ trở nên kém hấp dẫn
hơn so với nắm giữ nội tệ, khiến cho những người sở hữu ngoại tệ phải bán đi
lấy nội tệ, làm tăng cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.
+ Quy định mức lãi suất trần kém hấp dẫn đối với tiền gửi bằng ngoại tệ
+ Quy định trạng thái ngoại tệ với các NHTM ngoài mục đích chính là
phòng ngừa rủi ro tỷ giá, còn có tác dụng hạn chế đầu cơ ngoại tệ, làm giảm áp
lực lên tỷ giá khi cung cầu mất cân đối.
II. Chính sách tỷ giá của Việt Nam qua các giai đoạn trong các giai đoạn từ
năm 1955 đến nay
1. Thời kỳ 1955- 1989:
Đây là thời kỳ nền kinh tế mang tính kế hoạch hóa tập trung bao cấp, Nhà
nước can thiệp vào mọi mặt đời sống xã hội, quyết định các chính sách kinh tế
vi mô và vĩ mô theo một kế hoạch quy mô tập trung toàn quốc. Sự can thiệp này
đã ngăn cản khả năng phát huy tác dụng của quy luật cung cầu trên thị trường,
nếu có thì cũng bị bóp méo, sai lệch. Hơn nữa, hệ thống các nước XHCN lại áp
dụng một chiến lược phát triển kinh tế hướng nội, đóng cửa, các mối quan hệ
bên ngoài đều thông qua hệ thống độc quyền của Nhà nước về ngoại thương và
ngoại hối do đó độc quyền trong việc ban hành và ấn định tỷ giá. Vì vậy việc áp
dụng chế độ tỷ giá cố định do Nhà nước độc quyền xác định, không cần tính đến
yếu tố cung cầu của thị trường. Với cơ sở kinh tế như vậy, Việt Nam cũng như
7
các nước Xã Hội Chủ Nghĩa khác đều duy trì phương pháp xác định tỷ giá dựa
trên cơ sở so sánh sức mua đối nội và sức mua đối ngoại giữa các đồng tiền và

Hoạt động của hai trung tâm này chính là hình thức sơ khai của thị trường
ngoại hối. Hoạt động của 2 trung tâm này đã phát huy tích cực vai trò của mình
trong việc điều hòa cung cầu ngoại tệ, tạo phương thức kinh doanh giao dịch
mang tính thị trường góp phần ổn định tỷ giá, giá cả và kích thích đầu tư tăng
trưởng kinh tế tuy nhiên với nhu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu phát triển
của thị trường thì hai Trung tâm giao dịch ngoại tệ đã bộc lộ những hạn chế
không thể đáp ứng được nhu cầu giao dịch ngoại tệ của toàn quốc gia, cũng như
tính nhanh nhạy kịp thời trong giao dịch và thanh toán của cơ chế thị trường
ngày càng sôi động. Thực tế đòi hỏi phải có một mô hình mới linh hoạt hơn,
toàn diện hơn cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong phạm vi cả nước chứ không
chỉ gói gọn tại Hà Nội và TP HCM.
Đứng trước tình hình đó, NHNN đã ra Quyết định số 203/QĐ – NH9 ngày
20/9/1994 về việc thành lập Thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng và Quyết định
số 203/QĐ- NH13 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường
ngoại tệ liên Ngân hàng. Và khi đó tỷ giá chính thức được hình thành trên cơ sở
tỷ giá liên ngân hàng
Từ năm 1992 đến năm 1997, chính sách tỷ giá hối đoái được điều chỉnh để
chống lạm phát và thu hút đầu tư nước ngoài. Để thực hiện mục tiêu chống lạm
phát, chính sách tỷ giá được điều hành cố gắng duy trì sự ổn định của tỷ giá hối
đoái danh nghĩa. Vì vậy, nếu so sánh chỉ số CPI của Mỹ và CPI của Việt Nam,
các nhà kinh tế tính toán cho rằng, tỷ giá hối đoái thực tế đã bị giảm tới hơn
20%. Sự ổn định tỷ giá hối đoái danh nghĩa những năm này đã tạm thời góp
phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao trên 8% năm. Nhưng việc duy trì tỷ giá hối
đoái danh nghĩa gần như cố định trong điều kiện lạm phát đã được kiềm chế
song vẫn cao hơn lạm phát của Mỹ (nước có đồng tiền chiếm tỷ trọng chủ yếu
trong giỏ ngoại tệ để xác định tỷ giá của Việt Nam) và các nước có quan hệ
thương mại chủ yếu của Việt Nam, đồng thời đồng USD có xu hướng tăng giá
9
từ năm 1995 đã làm cho VNĐ có xu hướng ngày càng bị đánh giá cao hơn thực

tháng 10 năm 1997, NHNN đã quyết định mở rộng biên độ giao dịch giữa tỷ giá
chính thức và tỷ giá giao dịch tại các thị trường liên ngân hàng từ (+) (-) 5% lên
(+) (-)10%. Nới rộng biên độ giao dịch đã làm cho tỷ giá thị trường tăng mạnh.
Đồng thời, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lãi suất VND có xu hướng giảm,
cộng thêm lãi suất trên thị trường quốc tế có xu hướng tăng nên xẩy ra hiện
tượng chuyển dịch từ VND sang USD, tỷ lệ tiền gửi USD / tổng tiền gửi tăng từ
mức 33% năm 1997 lên mức 36,6% năm 2000 và 41% năm 2001. Ngược lại thì
các khoản vay bằng ngoại tệ/ trên tổng dư nợ lại có xu hướng giảm từ mức năm
1997: 31,3%, năm 1998: 25,4, năm 1999: 16,1%, năm 2000: 20,6%, năm 2001:
21%. Mặc dù tỷ giá tăng, nhưng giá cả trên thị trường không có những biến
động đáng kể. Điều này, có thể sẽ gây mất cân đối nguốn vốn và với sử dụng
vốn của các ngân hàng thương mại, gây mất an toàn hoạt động của các NHTM.
Việc điều chỉnh tỷ giá của NHNN trên đây đã có tác động tích cực đối với
xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu của Việt Nam, giảm nhập siêu trong các năm
1997-1999, cán cân tài khoản vãng lai và cán cân thanh toán cũng giảm dần
thâm hụt, mặc dù đầu tư nước ngoài suy giảm mạnh trong các năm này. Nhưng
điều chỉnh tỷ giá như trên cũng có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế, bởi
vì khi VND giảm giá đã làm tăng thêm gánh nặng nợ nước ngoài của cả chính
phủ và các doanh nghiệp có vốn vay nước ngoài, giảm đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
Vì vậy có thể thấy rằng, đó cũng chính là cái giá phải trả khi lựa chọn chính
sách tỷ giá thiên về cố định bằng cách duy trì sự ổn định của tỷ giá danh nghĩa
quá lâu. Và một khi duy trì tỷ giá cố định càng dài thì cái giá phải trả càng lớn.
3. Thời kỳ 1999 đến nay:
Để tránh những hậu quả tương tự như giai đoạn trước, chính sách tỷ giá
phải được điều chỉnh linh hoạt, phản ánh đúng với quan hệ cung cấp về ngoại
hối, sở thích của người tiêu dùng, lạm phát, lợi tức của tài sản nội, ngoại tệ… để
chống đỡ được các cú sốc của nền kinh tế. Do đó, từ năm 1999, ngân hàng nhà
nước chấm dứt công bố tỷ giá chính thức, mà chỉ công bố tỷ giá giao dịch bình
11

Trong năm 2008, để kiểm soát tình hình lạm phát cao trong nước, ổn định
kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bên cạnh các giải pháp giữ ổn
định các mức lãi suất (không thay đổi lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu, lãi
suất chiết khấu), trong năm 2008, NHNN thực hiện điều chỉnh tỷ giá, không để
tăng giá hoặc mất giá quá mức đồng Việt Nam; tiếp tục mua ngoại tệ bổ sung dự
trữ ngoại hối Nhà nước trên cơ sở nguồn tiền cung ứng đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt, đồng thời tiếp tục triển khai có hiệu quả các giải pháp hút
tiền về phù hợp với tình hình thị trường tiền tệ trong từng thời kỳ.
Trong tháng 4, tỷ giá bình quân liên ngân hàng dao động trong khoảng
15.956-15.967 đồng/USD. Các ngân hàng thương mại đã luôn bám sát trần cho
phép trong giao dịch ngoại tệ. Trên thị trường tự do, tỷ giá VND/USD biến động
theo xu hướng tỷ giá giao dịch của các tổ chức tín dụng và đang ở mức 16.160 –
16.190 đồng/USD. Tỷ giá VND/EUR vẫn theo sát diễn biến của đồng EUR trên
thị trường quốc tế. Đến cuối tháng 4, tỷ giá trên thị trường chính thức ở mức
25.082-25.390 đồng/EUR, giảm 0,74% so với tháng trước và tăng 6,96% so với
cuối năm 2007; tỷ giá trên thị trường tự do ở mức 25.250-25.350 đồng/EUR.
Ngân hàng Nhà nước đã ban hành mới cơ chế cho vay bằng ngoại tệ của tổ
chức tín dụng đối với khách hàng là người cư trú nhằm khuyến khích cho vay
ngoại tệ để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; đồng thời hạn chế cho vay đối với
nhu cầu mà khách hàng không nhất thiết phải sử dụng vốn vay bằng ngoại tệ.
Bên cạnh việc ưu tiên xem xét mua ngoại tệ từ các tổ chức tín dụng có trạng thái
ngoại tệ dương và mua ngoại tệ của doanh nghiệp xuất khẩu, NHNN cũng đã kịp
thời bán ngoại tệ đáp ứng nhu cầu của các tổ chức tín dụng.
Do tạo được sự đồng thuận, trong tháng 4, lãi suất huy động ngoại tệ giảm
0,05%-0,15%/năm; lãi suất cho vay USD hầu như không thay đổi. Trên thị
trường liên ngân hàng, do vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng thiếu hụt nên
trong tháng 4, lãi suất phổ biến ở mức 9,64%-11,38%/năm, tăng khoảng
0,96%/năm - 3,88%/năm so với tháng trước. Tổng số dư tiền gửi ngoại tệ của
khách hàng tại các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 4/2008 tăng khoảng 1,73%.
Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế bằng ngoại tệ đến cuối tháng 4 tăng 1,64%./.

+ Lựa chọn cơ cấu dự trữ ngoại tệ khả thi. Trong số các đồng tiền mạnh hiện
nay, đáng quan tâm chỉ có ba loại: USD, EUR và JPY.
Công cụ lãi suất tái chiết khấu: Bản thân lãi suất chỉ có tác động gián tiếp
đến tỷ giá vì đóng vai trò là biến ngoại sinh; tuy nhiên nó lại tác động trực tiếp
đến đầu tư và sản xuất kinh doanh vì gắn liền với chi phí sử dụng vốn. Do vậy,
việc sử dụng công cụ này cần nhiều sự cân nhắc.
Luồng vốn ra vào nền kinh tế VN chủ yếu là đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI). Đầu tư gián tiếp và dòng vốn ngắn hạn gần như không có do thị trường
chứng khoán và tiền tệ chưa phát triển. Tình trạng này hãy còn tiếp diễn trong
nhiều năm. Hơn nữa, giao dịch vốn chưa được mở cửa một phần bởi các quy
định của Chính phủ, một phần do điều kiện tài chính VN chưa chín muồi và
đồng VN chưa được tự do chuyển đổi. Tất cả cho thấy lãi suất chưa thể có ảnh
hưởng mạnh đến tỷ giá. Tác động của nó chỉ giới hạn ở chỗ làm thay đổi những
dòng tiền tệ lưu thông trong thị trường nội địa, từ nội tệ chuyển sang ngoại tệ và
ngược lại. Vậy, giải pháp để từng bước nâng cao sức mạnh của công cụ này sẽ
đồng nhất với việc tự do hóa tài khoản vốn quốc gia (mà trước hết là các giao
dịch vốn ngắn hạn và đầu tư gián tiếp). Đây cũng chính là con đường từng bước
đưa đồng VN trở thành một đồng tiền chuyển đổi.
Công cụ hành chính: Những biện pháp hành chính trong thời gian qua đã
đem lại hiệu quả khá tốt, nhờ chúng mà VN đã thành công trong việc điều hành
chính sách tỷ giá hối đoái và hạn chế tác động của cuộc khủng hoảng tài chính
Đông Nam Á. Tuy đây chỉ là giải pháp tình thế nhưng việc dỡ bỏ tức thời các
biện pháp hành chính cũng không phải khả thi. Chúng chỉ nên được nới lỏng
tương xứng với mức can thiệp của các công cụ kinh tế. Để hoàn thiện công cụ
này có thể tập trung vào một số điểm sau:
+ Tăng cường giám sát các giao dịch ngoại hối thông qua việc kiểm soát
chặt hợp đồng thanh toán ngoại tệ; đề ra mức phạt nặng đối với trường hợp kê
khống giá của hợp đồng xuất nhập khẩu và đối với các hành vi gian lận khác.
15
+ Duy trì công tác thanh tra, kiểm tra việc thực thi quy định về chế độ quản

trong dự trữ ngoại tệ nhưng cũng cần đa dạng hóa ngoại tệ dự trữ để phòng tránh
rủi ro khi USD mất giá.
Bên cạnh đó hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là
điều kiện cần thiết để qua đó Nhà nước có thể nắm được mối quan hệ cung cầu
ngoại tệ, đồng thời qua đó thực hiện các biện pháp can thiệp khi cần thiết. Trước
mắt cần tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi đế các thành viên tham gia thị
trường được tích cực hơn.
4. Theo sát những tín hiệu trên thị trường ngoại tệ chính thức.
Khoảng cách giữa tỷ giá mua và bán của một ngoại tệ, trên lý thuyết cũng
như thực tiễn, tùy thuộc vào phạm vi giao dịch, mức độ rủi ro và tính thanh
khoản của ngoại tệ đó trên thị trường. Trong trạng thái cân bằng của thị trường,
áp lực cạnh tranh luôn giữ sự chênh lệch này ở vào một mức độ hợp lý. Việc nới
lỏng biên độ dao động tỷ giá là một nhu cầu thiết thực để đưa công tác điều
chỉnh tỷ giá tiến gần tới các quy luật thị trường hơn, hay cũng đồng nghĩa với
việc tự do hóa dần các giao dịch ngoại tệ. Khi thị trường hối đoái thế giới có
biến động mạnh, các quy định hành chính về biên độ có thể làm đóng băng thị
trường ngoại tệ trong nước, khuyến khích các hoạt động phi pháp.
5. Theo dõi những xu hướng vận động trên thị trường chợ đen.
Sự tồn tại của thị trường ngoại tệ chợ đen là một tất yếu xuất phát từ thực
trạng kinh tế và cơ chế quản lý ngoại hối của VN. Nắm bắt những tín hiệu trên
thị trường này, nơi mà các lực thị trường về cơ bản là không bị điều phối bởi các
quy định hành chính, có thể giúp ích công tác điều hành tỷ giá.
Cụ thể:
Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước ở các tỉnh, thành phố nên hình thành chân
rết tại những đầu mối giao dịch trên trường chợ đen nhằm nắm bắt kịp thời xu
hướng vận động của thị trường này.
Độ chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá chợ đen tạo nên khái niệm
độ mở “cánh kéo”, được xem là hàn thử biểu để đánh giá mức độ hợp lý trong
17
điều hành tỷ giá. Tính hợp lý bộc lộ khi hai tỷ giá này xích gần lại nhau. Không

PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Huyền - NXB Khoa học và kỹ thuật.
Tạp chí ngân hàng tháng 10/2008.
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA VIỆT NAM THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status