thế nào là giá trị hàng hóa vì sao nói giá trị hàng hóa biểu hiện quan hệ sản xuất xã hội - Pdf 10

Đề ra:
Câu 1: Thế nào là giá trị hàng hóa? Vì sao nói giá trị hàng hóa biểu hiện
quan hệ sản xuất xã hội?
Câu 2: Nhà nước ta đã làm gì để chống suy thoái kinh tế hiện nay? Hãy cho
biết những mặt đã đạt được và hạn chế và cho hướng giải quyết.
Bài làm:
Câu 1:
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, nó có thể thỏa mãn những nhu cầu nhất
định nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.
Khi nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản, Mác bắt đầu bằng sự phân tích
hàng hóa. Điều này bắt nguồn từ các lý do sau:
Thứ nhất, hàng hóa là hình thái biểu hiện phổ biến nhất của của cải trong xã
hội tư bản. Mác viết: “Trong những xã hội do phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa chi phối thì của cải xã hội biểu hiện ra là một “đống hàng hóa khổng lồ””.
Thứ hai, hàng hóa là hình thái nguyên tố của của cải, là tế bào kinh tế trong
đó chứa đựng mọi mầm mống mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa.
Thứ ba, phân tích hàng hóa nghĩa là phân tích giá trị - phân tích cái cơ sở của
tất cả các phạm trù chính trị kinh tế học cảu phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa. Nếu không có sự phân tích này, sẽ không thể hiểu được, không thể phân
tích được giá trị thặng dư là phạm trù cơ bản của chủ nghĩa tư bản và những
phạm trù khác như lợi nhuận, lợi tức, địa tô, v.v
Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, sản xuất hàng hóa có bản
chất khác nhau, nhưng một vật phẩm sản xuất ra khi đã mang hình thát là hàng
hóa thì đều có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử dụng và giá trị.
- Giá trị sử dụng
Với tư cách là giá trị sử dụng, hàng hóa “là một vật nhờ có những thuộc tính
của nó mà thỏa mãn được một loại nhu cầu nào đó của con người”.
1
- Giá trị hàng hóa
Muốn hiểu được giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi. Mác viết: “Giá trị

trị hàng hóa.
Nhưng cũng cần nhận thấy hao phí lao động của con người kết tinh trong sản
phẩm không phải lúc nào cũng là giá trị. Trong các xã hội mà người ta sử dụng
sức lao động làm ra sản phẩm để tự tiêu dùng cho bản thân và giá đình mình, thì
sự hao phí lao động đó không có hình thái giá trị. Chỉ trong những xã hội người
ta làm ra sản phẩm để trao đổi, thì hao phí lao động đó mới mang hình thái giá
trị. Do đó, giá trị là một phạm trù mang tính lịch sử.
Đến đây ta nhận thức được, thuộc tính tự nhiên của hàng hóa là giá trị sử
dụng, thuộc tính xã hội của hàng hóa là hao phí lao động kết tinh trong nó và là
giá trị. Bất kì một vật nào muốn trở thành hàng hóa đều phải có đủ hai thuộc
tính: giá trị sử dụng và giá trị, nếu thiếu một trong hai thuộc tính đó, sản phẩm
không thể là hàng hóa.
(Giáo trình những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin)
3
Câu 2:
Nếu như trong sản xuất hàng hóa giản đơn, với sự phát triển của chức năng
phương tiện thanh toán của tiền tệ đã làm xuất hiện khả năng suy thoái kinh tế,
thì đến chủ nghĩa tư bản, khi nền sản xuất đã xã hội hóa cao độ thì suy thoái
kinh tế là điều không tránh khỏi. Từ đầu thế kỉ XIX, sự ra đời của đại công
nghiệp đã làm cho quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa gián đoạn bởi những cuộc
khủng hoảng (suy thoái) có tính chu kỳ.
Nguyên nhân của suy thoái kinh tế tư bản chủ nghĩa bắt nguồn từ chính mâu
thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Đó là mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa cao
của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa eve tưu liệu
sản xuất chủ yếu của xã hội. Mâu thuẫn này biểu hiện thành các mâu thuẫn sau:
- Mâu thuẫn giữa tính tổ chức, tính kế hoach trong từng xí nghiệp rất chặt chẽ
và khoa học với khuynh hướng tự phát vô chính phủ trong toàn xã hội.
- Mâu thuẫn giữa khuynh hướng tích lũy, mở rộng không có giới hạn của tư
bản với sức mua ngày càng eo hẹp của quần chúng do bị bần cùng hóa.
- Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư bản và giai cấp laao động làm thuê.

3. Chính sách vê vốn và nhân lực
Đầu tư và vốn và nhân lực, ít nhất cũng đóng vai trò quant trọng như đầu tư
vào tư bản hiện vật trong việc đóng góp vào sự thành công của nền kinh tế trong
dài hạn của một nước.
Ví dụ: đầu tư vào giáo dục
4. Xác định quyền sở hữu tài sản và sự ổn định vê chính trị:
Các nhà hoạch định chính sách có thể thúc đẩy và tăng trưởng kinh tế bằng
cách bảo hộ quyền sở hữu và tăng cường sự ổn định vê chính trị. Quá trình sản
xuất trong nền kinh tế thị trường nảy sinh từ mối quan hệ qua lại giữu hàng triệu
cá nhân và doanh nghiệp. Nên kinh tế phải được phối hợp hoạt động giữa các
doanh nghiệp cũng như giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp. Một tiền đề quan
5
trọng để đạt được điều trên là sự tôn trọng quyền sở hữu tài sản trên toàn bộ nền
kinh tế.
Do vậy, sự thịnh vượng của nên kinh tế một phần phụ thuộc vào sự thịnh
vượng vê chính trị. Nước có hệ thống tòa án hữu hiệu, quan chức chính phủ
thanh liêm và thể chế ổng định như nước ta đang duy trì sẽ được hưởng mức
sống cao hơn so với các nước có hệ thống tòa án yếu kém, quan chức tham
nhũng, thường xuyên có bạo loạn và đảo chính đe dọa.
5. Chính sách mở cửa nền kinh tế:
Đa số các nhà kinh tế hiện nay tin rằng các nước nghèo được hưởng lợi nếu
theo đuổi chính sách hướng ngoại, tức những chính sách cho phép họ hội nhập
với thế giới. Thương mại quốc tế cải thiện phúc lợi kinh tế của công dân một
nước tham gia vào qua trình thương mại. Nói theo cách khác, thương mại quốc
tế giống như một loại công nghệ nào đó có thể biến hàng hóa mình xuất khẩu
thành hàng hóa mình nhập khẩu. Do đó, một nước tháo dỡ các rào cản thương
mại sẽ tăng trưởng kinh tế giống như khi nó đạt được một tiến bộ vượt bậc trong
công nghệ.
6. Chính sách kiểm soát tăng dân số:
Sự gia tăng dân số cũng chi phối một phần năng suất và mức sống một nước.

7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status