Chứng minh mức độ hoàn chỉnh của quan hệ sản xuất phong kiến dựa trên quan hệ sản xuất về tư liệu sản xuất thời Lê sơ (thế kỷ XV - Pdf 28

Vấn đề:
Chứng minh mức độ hoàn chỉnh của quan hệ sản xuất phong
kiến dựa trên quan hệ sản xuất về tư liệu sản xuất thời Lê sơ
(thế kỷ XV)?
I. Mở đầu
Để chứng minh được ở thời Lê sơ, quan hệ sản xuất phong kiến dựa
trên quan hệ sản xuất về tư liệu sản xuất đã đạt được mức độ hoàn chỉnh, cần
phải phân tích và làm rõ được những vấn đề như: nhà vua nắm quyền sở hữu
tối cao về ruộng đất, nhà vua phải thiết lập được mối quan hệ thống trị cũng
như mối quan hệ với toàn bộ thần dân trong nước của mình, và ban hành luật
pháp để pháp lý hóa toàn bộ ruộng đất,…
Chỉ thể làm rõ được những vấn để trên ta mới thấy rõ được sự phát triển
đỉnh cao của thời Lê sơ đã dựa trên những cơ sở nào để phát triển và sẽ thấy
được mối liên hệ hữu cơ giữa những chính sách mà nhà nước trung ương đã đề
ra sẽ đem lại những ảnh hưởng cũng như những hệ quả cho các triều đại sau.
II. Nội dung
1.Quyền sở hữu ruộng đất tối cao thuộc về tay nhà vua
Sau khi lên ngôi vua, Lê Thánh Tông đã tiếp tục nối bước theo các vị
vua trước, ra sức củng cố chính quyền cũng như cải cách lại đất nước sau hơn
40 năm kể từ khi Lê Thái Tổ đánh bại quân Minh xâm lược.
Để đảm bảo cho quyền lực của mình, nhà vua đã ban hành những chính
sách cai trị tối cao và những nguyên tắc luật pháp nghiêm minh. Trước hết, Lê
Thánh Tông đã ra sức xây dựng lại bộ máy chính quyền nhằm đảm bảo quyền
lực tối thượng cho nhà vua. Nhà vua cho xây dựng hệ thống pháp luật (luật
Hồng Đức), cải cách nền giáo dục, ngoài ra nhà vua còn là người nắm quyền
vô hạn về quân đội. Trong những chính sách đó, vua Lê Thánh Tông còn chú
ý đến chính sách kinh tế - ruộng đất, vì đây là cơ sở để nuôi sống bộ máy
thống trị thời phong kiến.
Ngay từ khi giành được độc lập, Lê Lợi lên ngôi vua cũng đã đặt ra
nhiều chính sách ruộng đất nhằm mục đích tập trung sự quản lý của nhà nước
cùng với các nguyên do khác:

đình ở mỗi làng xã để biết được tình hình ruộng đất và mức sản xuất.
Ngoài ra, với chế độ thuế khóa, lao dịch được thiết lập trên mối quan hệ
vua – làng xã, thì mối quan hệ giữa chính quyền trung ương ngày càng chặt
chẽ hơn. Nhà vua xây dựng bộ máy hành chính ràng buộc lẫn nhau, không
chồng chéo nhưng vẫn thống nhất từ chính quyền trung ương cho tới địa
phương mà nhà vua có thể kiểm soát được.
Như vậy, nhà nước trung ương, tiêu biểu là nhà vua đã vươn lên thành
người chủ trực tiếp nắm trọn quyền sở hữu tối cao về ruộng đất đến công làng xã.
2. Sự ràng buộc giữa nhà nước và quan lại trên cơ sở chế độ lộc điền
Song song với quá trình xây dựng bộ máy chính quyền, nhà vua còn ra
sức cải cách bộ máy quản lý hành chính, hệ thống quan lại để nhằm thâu tóm
quyền hành thống trị tối cao cho mình. Lê Thánh Tông đã đơn giản hóa một
số cơ quan giúp việc cho nhà vua và một số chức quan quan trọng như: tể
tướng, tổng chỉ huy quân đội
Bên cạnh đó, Lê Thánh Tông còn thực hiện những chính sách khác
nhằm cai quản và kiểm soát chặt những cận thần quan lại giúp việc cho nhà
nước bằng chính sách ban cấp ruộng đất, đó là nhà nước thiết lập mối quan hệ
giữa vua – quan lại trên cơ sở chế độ lộc điền.
Năm 1471, vua Lê Thánh Tông tiến hành cải tổ bộ máy quan liêu cho
hoàn chỉnh.
2
Năm 1477, nhà vua ban hành chính sách lộc điền, quy định về chế độ
quyền lợi cho các tầng lớp quan liêu, quý tộc.
Với cuộc cải cách này thì đa số quan lại trong triều đều được hưởng
tiền bổng lộc hàng năm theo quy định cấp bậc từ trên xuống. Riêng những
quan lại cao cấp từ quan tòng tứ phẩm trở lên cho đến những người thân
thuộc của nhà vua thì được ban cấp ruộng lộc điền, và nếu ruộng lộc điền ban
cấp không trọn vẹn thì nhà vua còn cho phép lấy cả đất công làng xã thêm
vào, nhưng không lấy đất công làng xã ở nơi cư ngụ của người được cấp, mà
phải lấy ở đất công của làng xã khác để tránh tình trạng tập trung ruộng đất

dâu
Đầm
(ban
bằng
tiền)
Tế
điền
Thân
vuơng
600
mẫu
40
mẫu
1000
mẫu
150
mẫu
80
quan
300
mẫu
Chánh
nhất
phẩm
18
mẫu
100
mẫu
30
mẫu

nhà nước không thể với tay xuống được làng xã, bởi thế nói “phép vua thua lệ
làng” là như vậy.
Ở thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc đã hình thành chế độ ruộng đất chiếm
hữu của các tù trưởng bộ lạc và người thủ lĩnh đứng đầu lãnh đạo. Nhưng mối
quan hệ còn rất lỏng lẽo, sơ sài. Vì thời kỳ đó, công xã nông thôn chỉ biết nộp
cống hay lao dịch cho những người đứng đầu ở bộ phận quản lý các làng xã
như các Lạc tướng, Lạc hầu. Sau đó, các Lạc tướng, Lạc hầu mới chuyển
cống phẩm và lao dịch lên nhà vua, hay người nắm quyền lực tối cao.
Mặc dù ở địa phương ruộng đất đã nằm trong tay những người có
quyền lực cao, nhưng thực chất họ không quan tâm đến mà thường giao lại
cho các tù trưởng, hay thủ lĩnh địa phương cai quản và sau khi đến mùa vụ
hay kỳ hạn thì tù trưởng nộp về trên.
Kết quả thặng dư tạo ra sản phẩm chính là sự hợp sức của một tập thể
công làng xã, tất cả những thành viên công xã phải ra sức cày cấy để nộp cống.
Có thể nói mối quan hệ giữa trung ương và địa phương thời kỳ này thì làng xã
4
được quyền tự trị rất cao, nhưng phải có trách nhiệm thần phục nhà vua, và triều
đình chỉ biết đến tập thể công xã chứ không biết đến thành viên công xã.
Với phương thức “khoán đất”, thông qua tù trưởng để nô dịch nông dân
đã tồn tại và kéo dài đến thời kỳ đầu của chế độ phong kiến như một tập quán
phổ biến, nhưng chế độ phong kiến dần dân xác lập và hình thành thì với sự
can thiệp của nhà nước trung ương, làng xã mới được tổ chức có quy mô và
ngày càng chặt chẽ hơn.
Đến thời Lê sơ thì việc kliểm soát đã xuống tận các làng xã và mỗi
thành viên công xã, để thực hiện việc kiểm soát chặt chẽ và có tổ chức hơn
tình hình đất đai và cư dân ở địa phương. Nhà vua ban hành chính sách pháp
luật với quy định rõ ràng, đã phá vỡ đi hệ thống luật tục của làng xã trước kia,
pháp luật nhà nước từng bước len lỏi, ảnh hưởng xuống tận địa phương.
Triều đình đặt các chức xã quan ở tận đơn vị cơ sở. Bên cạnh đó, chính
quyền nhà vua với tay xuống làng xã thông qua chính sách quân điền (chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status