Quản lý nhà nước về kinh tế
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước ta đang thực hiện nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, theo cơ chế thị trường. Mọi hoạt động diễn ra rất phức tạp, các thành phần kinh
tế hoạt động đan xen, vừa thúc đẩy hợ tác vừa cạnh tranh mâu thuẫn trong quan hệ kinh tế
thường xuyên xảy ra và những khuyết tật của nó là điều không thể tránh khỏi. Do đó cần
phải có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước để hạn chế những khuyết tật này. Nhưng nhiều khi
Nhà nước lại thực hiện một cách quá lỏng lẻo chức năng quản lý của mình và nhiều khi
Nhà nước lại can thiệp quá sâu vào công việc kinh doanh của các doanh nghiệp. Chính sự
chồng chéo này làm cho cả hoạt động quản lý về kinh tế của Nhà nước và hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp trở nên kém hiệu quả gây ách tắc và lãng phí. Vấn đề này được
đặt ra cần phải làm rõ chức năng chức năng quản lý về kinh tế của Nhà nước như thế nào
và giới hạn chức năng kinh doanh là ở đâu.
Với mục đích trau dồi kiên thức đã học và góp phần nghiên cứu, tìm hiểu về chức
năng quản lý Nhà nước về kinh tế, nhóm chúng em đã làm đề tài: “ Chức năng tạo lập
môi trường cho các mục đích kinh tế cuả quản lý Nhà nước về kinh tế. Liên hệ thực tiễn
vấn đề này trong lĩnh vực đầu tư ở Việt Nam hiện nay.”
Trong quá trình thực hiện, do sự hiểu biết và kinh nghiệm còn hạn chế nên bài làm
không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp của giảng viên và các bạn
học viên.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Quản lý nhà nước về kinh tế
PHẦN 1: CÁC CHỨC NĂNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
1.1. Khái niệm, vị trí cuả Quản lý Nhà nước về kinh tế
1.1.1. Khái niệm
Nhà nước thực hiện vai trò kinh tế của mình không chỉ bằng việc xây dựng và quản
lý khu vực kinh tế nhà nước mà quan trọng hơn là quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân
quốc dân.
- Ngày nay, lực lượng sản xuất phát triển, trình độ xã hội hóa sản xuất ngày càng
cao do cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và công nghệ tạo ra, cho nên cần thiết có sự
quản lý của Nhà nước về kinh tế.
- Nhà nước thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo đúng chiến lược phát triển kinh tế xã
hội của mỗi nước. Trong lịch sử kinh tế thế giới, có hai mô hình kinh tế đặc trưng tương
ứng với vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước. Thứ nhất là mô hình kinh tế chỉ huy – vai trò
quản lý cùa Nhà nước được tuyệt đối hóa. Thứ hai là mô hình kinh tế thị trường, nó là kết
hợp giữa vai trò của Nhà nước với vai trò của cơ chế thị trường.
Hiện nay, trên phạm vi toàn thế giới không một Nhà nước nào đứng ngoài việc quản lý
kinh tế. Nhà nước nào cũng có chức năng quản lý kinh tế, tuỳ mỗi nước mà cách quản lý sẽ
khác nhau.
1.2. Chức năng cuả Quản lý Nhà nước về kinh tế
1.2.1. Tạo lập khuôn khổ pháp luật về kinh tế
a) Khái niệm
Pháp luật về kinh tế theo nghĩa rộng là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nông dân lao
động nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phát sinh trong quá trình tổ chức quản lý và
sản xuất – kinh doanh giữa các chủ thể kinh tế với nhau và với các cơ quan quản lý
nhà nước.
b) Vai trò của pháp luật trong nền kinh tế thị trường
Xác định khuôn khổ pháp luật đùng đắn cho các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế
thị trường được xem như điều kiện tiên quyết hơn, đảm bảo thị trường hoạt động có hiệu
quả. Môi trường pháp lý ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của các chủ thể trên thị
trường. Vấn đề cơ bản của kinh tế là sở hữu và lợi ích kinh tế. Chế độ sở hữu và lợi ích
kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của các chủ thể trên thị trường.. Vai trò của pháp luật
kinh tế được thể hiện trên các khía cạnh sau:
+ Pháp luật kinh tế xác định vị trí pháp lý cho các tổ chức và đơn vị kinh tế. Ở nước
ta pháp luật kinh tế thể hiện đường lối chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước
trong từng giai đoạn theo đường lối phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ
triển của nền kinh tế nói chung và cho hoạt động sản xuất-kinh doanh của các doanh
nghiệp nói riêng; ngược lại, môi trường kinh doanh không thuận lợi không những sẽ kìm
hãm, cản trở mà còn làm cho nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng, trì trệ và các
doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản hàng loạt. Vì vậy, việc tạo lập môi trường cho sự
phát triển kinh tế chung của đất nước và cho sự phát triển sản xuất-kinh doanh của doanh
nghiệp là một chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước.
Môi trường kinh doanh là tồng thể các yếu tố tác động trực tiếp hay gián tiếp đến các quyết
định hoặc hoạt động của các chủ thể kinh tế trên thị trường. Nhóm các yếu tố bên ngoài tác
động gián tiếp đến đơn vị được gọi là nhóm các yếu tố môi trường vĩ mô. Nhóm các yếu tố
Quản lý nhà nước về kinh tế
bên ngoài có tác động trực tiếp đến các đơn vị kinh tế là các yếu tố môi trường vi mô. Nhà
nước có vai trò đặc biệt với các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô.
b) Các loại môi trường cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế.
- Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế là một bộ phận của môi trường vĩ mô.
Môi trường kinh tế được hiểu là một hệ thống hoàn cảnh kinh tế được cấu tạo nên bởi một
loạt nhân tố kinh tế. Các nhân tố thuộc về cầu như sức mua của xã hội và các nhân tố thuộc
về cung như sức cung cấp của nền sản xuất xã hội có ý nghĩa quyết định đối với sự phát
triển kinh tế.
+ Đối với sức mua của xã hội. Nhà nước phải có: Chính sách nâng cao thu nhập
dân cư; Chính sách giá cả hợp lý; Chính sách tiết kiệm và tín dụng cần thiết; Chính sách
tiền tệ ổn định, tránh lạm phát;
+ Đối với sức cung của xã hội, Nhà nước cần phải có: Chính sách hấp dẫn đối với
đầu tư của các doanh nhân trong nước và nước ngoài để phát triến sản xuất kinh doanh;
Chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho xuất kinh doanh, giao lưu
hàng hoá; Yêu cầu chung căn bản nhất đối với môi trường kinh tế là ổn định, đặc biệt là gía
cả và tiền tệ. Giá cả không leo thang, tiền tệ không lạm phát lớn.
- Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý là tổng thể các hoàn cảnh luật định được
Nhà nước tạo ra để điều tiết sự phát triển kinh tế, bắt buộc các chủ thể kinh tế thuộc các
họp cấp quốc tế và quốc gia, của các cơ quan, làng xã, các tổ chức tôn giáov.v… Môi
trường văn hoá-xã hội ảnh hưởng đến tâm lý, đến thái độ, đến hành vi và đến sự ham nuốn
của con người.
Trong quá trình phát triển kinh tế và phát triển sản xuất kinh doanh luôn phải
tính đến môi trường văn hoá-xã hội. Nhà nước phải tạo ra môi trường văn hoá-xã hội đa
dạng; đậm đà bản sắc dân tộc của cả dân tộc Việt Nam và của riêng từng dân tộc sống
trên lãnh thổ Việt Nam, quý trọng, giữ gìn, phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp và
tiếp thu nền văn hoá hiện đại một cách phù hợp, tôn trọng và tiếp thu tinh hoa của nền
văn hoá thế giới, xây dựng nền văn hoá mới thích ứng với sự phát triển kinh tế và sản
xuất kinh doanh.
- Môi trường sinh thái: Môi trường sinh thái hiều một cách thông thường, là một
không gian bao gồm các yếu tố, trước hết là các yếu tố tự nhiên, gắn kết với nhau và tạo
điều kiện cho sự sống của con người và sinh vật. Chúng là những điều kiện đầu tiên cần
phải có để con người và sinh vật sống và dựa vào chúng, con người mới tiến hành lao động
sản xuất để tồn tại và phát triển như không khí để thở; nước để uống; đất để xây dựng,
trồng trọt và chăn nuôi; tài nguyên khoáng sản làm nguyên liệu, hoặc những thứ vật liệu để
phục vụ cuộc sống hàng ngày, cảnh quan thiên nhiên để hưởng ngoạn v.v… Môi trường
sinh thái có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nền kinh tế của đất nước và hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà nước phải tạo ra môi trường sinh thái xanh, sạch, đẹp,
đa dạng sinh học, bền vững để bảo đảm nền kinh tế phát triển bền vững. Nhà nước phải có
biện pháp chống ô nhiễm, chống hủy hoại môi trường tự nhiên sinh thái, cảnh quan thiên
nhiên bằng các biệp pháp và các chính sách bảo vệ, hoàn thiện môi trường sinh thái.
- Môi trường kỹ thuật: Môi trường kỹ thuật là không gian khoa học công nghệ bao
gồm các yếu tố về số lượng, tính chất và trình độ của các ngành khoa học công nghệ: về
Quản lý nhà nước về kinh tế
nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất; về chuyển giao khoa
học công nghệ v.v… Ngày nay, khoa học công nghệ đã phát triển với tốc độ cao. Những
thành tựu khoa học công nghệ trong nhiều lĩnh vực đã xuất hiện. Tiến bộ khoa học công
cộng.
Quản lý nhà nước về kinh tế
Để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển thuận lợi, Nhà nước tất yếu phải có trách
nhiệm cung cấp các dịch vụ hạ tầng cho xã hội. Nhà nước có thể thực hiện bằng một trong
hai hướng:
Cung cấp trực tiếp thông qua các doanh nghiệp hoặc các cơ quan sự nghiệp của Nhà
nước. Theo hướng này, Nhà nước trực tiếp dùng vốn đầu tư để đảm bảo cung cấp các dịch
vụ cơ sở hạ tầng.
Nhà nước tạo điều kiện khuyến khích tư nhân cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng
như trợ cấp các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hạ tầng. Nhìn chung cả hai hướng khi giải
quyết vấn đề cơ sở hạ tầng đều cân đối ngân sách Nhà nước.
1.2.4. Chức năng hỗ trợ phát triển.
Bảo trợ sản xuất là sự can thiệp của Nhà nước vào các ngành kinh tế nhằm tạo ra
những điều kiện thuận lợi hơn cho những ngành đó trong quá trình phát triển.
Bảo trợ sản xuất là việc làm cần thiết của Nhà nước. Các nhà đầu tư sẽ không tiến
hành các dự án đầu tư tuy đáp ứng yêu cầu của xã hội nhưng cần phải mất thời gian hay
cần phải có một quá trình học hỏi lâu dài. Vấn đề là cung cấp tài chính cho một dự án như
thế nào trong giai đoạn đầu làm ăn thua lỗ hoặc các đầu vào, đầu ra cho các nhà sản xuất
trong giai đoạn khi họ còn nhỏ bé hoặc chưa thể đứng vững được.
Một nguyên tắc chung đối với sự can thiệp của Nhà nước là phải xử lý tận gốc
những thất bại của thị trường. Đó là chính sách nhằm làm cho thị trường tài chính hoạt
động tốt hơn, chính sách giáo dục hay chính sách hoàn thành luật bản quyền chứ không
phải là những biện pháp nhằm vào từng công ty, từng ngành. Để thực hiện vai trò bảo trợ
thành công, Nhà nước cần đảm bảo 3 yếu tố cơ bản:
+ Sự bảo trợ phải giảm dần theo từng giai đoạn lớn mạnh của ngành được bảo trợ.
+ Chính phủ phải có thực lực, có năng lực và không tham nhũng.
+ Chính phủ phải là người chủ yếu đóng vai trò người điều phối và cung cấp thông
tin rõ ràng.
(thông qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam), vốn viện trợ phát triển chính thức, đầu tư phát
triển của các doanh nghiệp nhà nước và các nguồn vốn khác của Nhà nước.
Đầu tư công có vai trò quan trọng trong việc phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ
thuật, kinh tế và xã hội, tạo động lực thúc đẩy phát triển đất nước. Phần vốn này được Nhà
nước giao cho các bộ, ngành và các địa phương, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, tổ
chức chính trị và chính trị - xã hội quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.
Tính chung trong giai đoạn 2001 - 2005, tổng vốn đầu tư công đạt khoảng 286 nghìn
tỉ đồng, chiếm trên 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; trong giai đoạn 2006 - 2010 ước đạt
trên 739 nghìn tỉ đồng, khoảng trên 24% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Như vậy, tỷ trọng
vốn nhà nước đầu tư cho các dự án công, các chương trình mục tiêu là rất lớn. Chính vì
vậy, việc quản lý và sử dụng có hiệu quả phần vốn đầu tư này là rất quan trọng và cần thiết.
Đầu tư công so với GDP (%)
Năm
Năm
Năm
Năm
Năm
Năm
Năm
Năm
Năm
19,3
19,0
17,3
14,1
17,3
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2009
Trong thời gian qua, bên cạnh những thành công và đóng góp tích cực vào quá trình
phát triển đất nước không thể phủ nhận, đầu tư công của Việt Nam còn nhiều hạn chế, nhất
là về hiệu quả đầu tư. Đầu tư công luôn đi cùng với lãng phí và tốn kém, thậm chí với mức
độ ngày càng nặng nề... Việc Tập đoàn Kinh tế nhà nước Vinashin bỏ 1.000 tỉ đồng để mua
tàu vận tải biển tuyến Bắc - Nam, nhưng chỉ chạy mấy chuyến rồi dừng, đang được nhắc
đến như một điển hình cho sự lãng phí của đầu tư công. Hay, đầu tư cảng biển dọc 600km
ở bờ biển miền Trung quá dày đặc (cứ khoảng 30 - 40km lại có 1 cảng), song, các cảng
biển này lại không hoạt động hết công suất. Thực tế đó cho thấy, mức độ thiếu hiệu quả
Quản lý nhà nước về kinh tế
của các dự án đầu tư công của Việt Nam rất đáng báo động. Với kiểu xin cấp phép xây
dựng tràn lan như hiện nay, thì tỉnh nào cũng đều sẽ có sân bay, cảng biển, khu công
nghiệp, khu du lịch sinh thái, sân gôn, khu đô thị cao cấp,... mà hiệu quả thì chưa biết
được, mới chỉ thể hiện trên báo cáo nghiên cứu khả thi.
Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều, như: quản lý kém, đầu tư không hợp lý,
đầu tư nhiều vào các ngành tư nhân sẵn sàng đầu tư; thiếu đầu tư tương xứng cho những
ngành có khả năng lan tỏa, dẫn dắt chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đầu tư thiếu tập trung,
Quản lý nhà nước về kinh tế
Nhật Bản và Đài Loan. Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa phương dẫn đầu trong thu hút
FDI với 32,67 tỷ USD còn hiệu lực, tiếp theo là Bà Rịa-Vũng Tàu, Hà Nội, Đồng Nai và
Bình Dương.
Về vốn đăng ký năm 2011:
Tính đến 15/12/2011, vốn đăng ký mới và tăng thêm tại Việt Nam đạt 14,7 tỷ USD,
bằng 74% so với năm 2010. Riêng vốn đăng ký mới đạt 11,6 tỷ USD, bằng 65% năm 2010
nhưng đã có những chuyển biến theo hướng tích cực. Vốn đăng ký năm 2011 tập trung
76,4% vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, cao hơn hẳn tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực này
năm 2010 (54,1%). Đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản năm 2011 chỉ chiếm
5,8% tổng vốn đăng ký (trong khi năm 2010 lĩnh vực này chiếm 34,3% tổng vốn đăng ký).
Vốn đăng ký tăng thêm đạt 3,1 tỷ USD, tăng 1,65 lần mức vốn đăng ký tăng thêm của năm
2010 (1,89 tỷ USD). Điều này cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài vẫn có sự đánh giá tích
cực về môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
Về vốn thực hiện và kết quả hoạt động của doanh nghiệp FDI năm 2011:
Vốn thực hiện của khu vực FDI tại Việt Nam năm 2011 ước đạt 11 tỷ USD, bằng
với mức thực hiện của năm 2010 và đóng góp 25,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Xuất khẩu của khu vực FDI (kể cả dầu thô) ước đạt 54,5 tỷ USD, chiếm 59% tổng
kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tăng 39,3% so với năm 2010, cao hơn mức tăng trưởng
xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước. Giá trị kim ngạch xuất khẩu khu vực FDI
(không kể dầu thô) ước đạt 47,2 tỷ USD. Góp phần làm giảm gánh nặng cho cán cân
thương mại. Nhập khẩu của khu vực FDI là 47,8 tỷ USD, tăng 29,3% so với năm 2010.
Thu nội địa từ khu vực FDI năm 2011 khoảng 3,5 tỷ USD, tăng 15% so với năm
2010 (3,04 tỷ USD). Thu từ dầu thô vượt dự toán năm gần 44% và ước đạt 4,8 tỷ USD.
Khu vực FDI góp phần đáng kể tăng thu ngân sách và do đó, làm giảm bội chi ngân sách
nhà nước.
Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, Việt Nam vẫn là địa chỉ hấp dẫn đầu tư đối
với các nhà đầu tư thế giới. Điều tra triển vọng đầu tư thế giới (WIPS) 2010-2012 của Diễn
đàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD) cho thấy Việt Nam đã thăng
hạng 3 bậc, đứng thứ nhất trong ASEAN về mức độ hấp dẫn FDI và là một trong 10 nền
Vốn thực hiện lũy kế đến nay ước đạt khoảng 2,7 tỷ USD; trong đó khoảng 1,4 tỷ USD
trong lĩnh vực dầu khí; Lào đạt khoảng 480 triệu USD; Campuchia đạt khoảng trên 200
triệu USD...
Về vốn thực hiện các dự án đầu tư
Thống kê từ báo cáo của các Tập đoàn, doanh nghiệp có nhiều dự án đầu t ra nước
ngoài cho thấy trong năm 2011, vốn thực hiện ước đạt khoảng 950 triệu USD. Trong đó,
đứng đầu là Tập đoàn dầu khí Việt Nam, với tổng vốn chuyển ra nước ngoài khoảng 347
triệu USD; thứ hai là Tập đoàn Viettel với tổng vốn đầu t chuyển ra nớc ngoài khoảng 185
triệu USD; thứ ba là Tập đoàn cao su Việt Nam với tổng vốn đầu t chuyển ra nớc ngoài
khoảng 134,6 triệu USD; thứ t Tập đoàn Sông Đà, với tổng vốn đầu tư chuyển ra nước
ngoài khoảng 161 triệu USD
Quản lý nhà nước về kinh tế
Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai là 39 triệu USD, Công ty CP Đông Dương xanh là
23,7 triệu USD..
Tổng vốn đầu tư thực hiện của các dự án đầu tư ra nước ngoài, có một phần đáng kể
vốn được thực hiện trong nước (không chuyển ra nước ngoài). Theo báo cáo của Tập đoàn
dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Sông Đà, Tập đoàn cao su Việt Nam, Tập đoàn Than khoáng
sản, Viettel, Hoàng Anh - Gia Lai… một phần vốn đầu tư ra nước ngoài được thực hiện để
trả cho các nhà thầu của Việt Nam hoặc mua háng hóa, dịch vụ của Việt Nam để chuyển ra
nước ngoài thực hiện dự án.
Phần lớn các dự án đầu tư quy mô lớn mới được cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra
nước ngoài nên hiện đang trong giai đoạn triển khai thực hiện. Một số dự án đầu tư khác đã
đi vào hoạt động, đạt hiệu quả tốt như dự án của Viettel tại Campuchia và Lào (Viettel là
một trong những nhà cung cấp dịch vụ lớn và hiệu quả nhất tại Campuchia và Lào); dự án
10.000 ha cao su của Công ty cao su Đăk Lăk đã đi vào khai tác được trên 1.000 ha; dự án
5.000ha cao su của Hoàng Anh Gia Lai sẽ bắt đầu khai thác vào năm 2012; dự án Thủy
điện Sekaman 3, với công suất 250 MW, dự kiến sẽ phát hành tổ máy đầu tiên trong Quý
I/2012..
Tuy vậy, hoạt động quản lý của các Ban QLDA chỉ giới hạn trọng phạm vi quản trị
dự án, chứ không phải là hoạt động QLNN đối với các dự án nhà nước. Các Ban QLDA
vẫn phải chịu sự QLNN của tất cả các cơ quan quản lý khác vì hai lý do:
- Ban QLDA thực hiện trách nhiệm với tư cách chủ đầu tư. Họ là người đại diện cho
nhà nước về mặt vốn đầu tư, có nhiệm vụ làm cho vốn đó sớm biến thành mục tiêu đầu tư.
Như vậy, các ảnh hưởng khác của dự án như tác động của môi trường, an ninh quốc phòng,
trình độ công ghệ… họ không có trách nhiệm và không đủ khả năng để quan tâm đến. Nếu
không có sự QLNN đối với các Ban QLDA này, các DA nhà nước trong khi theo đuổi các
mục đích chuyên ngành có thể làm tổn hại quốc gia ở các mặt mà họ không lường hết hoặc
không quan tâm.
- Mặt khác, bản thân các Ban QLDA cũng có thể không thực hiện trọn vẹn trách
nhiệm đại diện sở hữu vốn, từ đó sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả, thậm chí tham
ô, chiếm đoạt vốn của nhà nước
2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các hoạt động đầu tư.
a.Hoàn thiện khung pháp lý và các chính sách đầu tư tạo một môi trường đầu tư
lành mạnh.
Cùng với sự hội nhập ngày càng sâu rộng về mọi mặt trong nền kinh tế thì hoạt
động đầu tư tại Việt Nam cũng có nhu cầu bức thiết để hội nhập.Để làm được điều đó thì
khung khổ pháp lý về các hoạt động đầu tư cũng như các chính sách đầu tư tư nhân hay
đầu tư nhà nước cần phải hoàn thiện và linh hoạt hơn với luật pháp quốc tế. Đặc biệt là luật
Doanh nghiệp, luật Thương mại, Luật Đầu tư.Điều này càng cần thiết hơn khi chúng ta gia
nhập tổ chức thương mại thế giới.
b.Xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng nhằm tạo lợi thế thu hút đầu tư.
Quản lý nhà nước về kinh tế
Hiện nay cơ sở hạ tầng tại Việt Nam đã được hoàn thiện đáng kể nhưng nhìn chung
chúng ta vẫn phát triển chậm so với các nước trong khu vực và thế giới.Chúng ta phải hoàn
thiện hệ thống đường xá, điện nước, ngân hàng viễn thông…Để làm được điều đó Nhà
nước cần có những chính sách và chương trình dài hạn,nhưng cần phải triển khai ngay.
Quản lý nhà nước về kinh tế
từ đó có thông tin kịp thời phục vụ cho công tác chỉ đạo điều hành và hoạch định chính
sách
e.Nhà nước cần có những biện pháp tích cực hơn nữa trong việc quản lý các
hoạt động đầu tư và dự án đầu tư.
- Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực gây ra bởi đầu ra của các hoạt động đầu tư.
- Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực do việc sử dụng đầu vào của các chủ dự án dầu
tư không đứng trên lợi ích toàn diện, lâu dài của đất nước.
- Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực khác mà có thể gây ra như các công trình xây
dựng được tạo ra bởi dự án cảnh quan, thuần phong, mỹ tục, an ninh quốc gia.
- Hỗ trợ các ban ngành, các chủ dự án thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ
của người đại diện sở hữu nhà nước trong các hoạt động đầu tư.
- Kiểm tra, kiểm soát ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn nhà
nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước.
- Thực hiện chế độ cấp Giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án .
Không cần đăng ký đầu tư: áp dụng đối với những dự án đầu tư trong nước có quy
mô vốn đầu tư dưới 15 tỷ đồng. Những dự án này chủ đầu tư không cần phải xin Giấy
chứng nhận đầu tư.
Đăng ký đầu tư: áp dụng đối với những dự án đầu tư trong nước có quy mô vốn đầu
tư từ 15 tỷ đồng đến dưới 300 tỷ đồng; những dự án đầu tư FDI có vốn đầu tư dưới 300 tỷ
đồng. Theo quy trình này, chủ đầu tư không cần trình bản dự án đầu tư (giải trình kinh tế kỹ thuật) cho cơ quan quản lý đầu tư của nhà nước mà chỉ cần lập hồ sơ hợp lệ, theo mẫu
và sẽ được cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
- Thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư: Áp dụng đói với nhứng dự án ( cả trong
nước và nước ngoài) có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỷ đồng trở lên hoặc những dự án đầu tư
vào các lĩnh vực có điều kiện như an ninh quốc phòng, văn hoá thông tin, giải trí, bất động
sản, khai thác tài nguyên, tài chính ngân hàng… Đối với những dự án này, chủ đầu tư phải
trình bản Dự án đầu tư lên cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư để thẩm tra, xem xét, sau
một thời gian quy định, nếu các cơ quan này đồng ý sẽ cấp giấy chứng nhận đầu tư.
-Thực hiện chế độ phê duyệt nhiều bước
Qua nghiên cứu về lí luận và thực tiễn ở trên chúng ta một lần nữa có thể khẳng
định được vai trò quan trọng của quản lí nhà nước đối với nền kinh tế nói chung đối với
hoạt động đầu tư nói riêng. Đặc biệt trong chức năng tạo lập môi trường kinh doanh cho
các hoạt động kinh tế thì vai trò của nhà nước càng được thể hiện rõ ràng. Hơn nữa các cơ
quan quản lí nhà nước đã nhận thức rõ tầm quan trọng cuả mình. Vì thế họ đã cố gắng phát
huy và nâng cao hơn nữa vai trò quản lí, đưa hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động đầu
tư nói riêng đạt được những thành công đáng kể. Tuy nhiên , do những nguyên nhân chủ
quan cũng như khách quan , hoạt động quản lí nhà nước vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc
phục .
Trong thời gian gần đây , khi quan hệ mở cửa kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày
càng mở rộng , đặc biệt sau hội nghị thượng đỉnh Á- Âu (ASEM 50 , khi Việt Nam gia
nhập các tổ chức quốc tế như ASEAN, APEC, hội nhập AFTA và sắp tới là WTO , chúng
ta hi vọng các hoạt động kinh tế sẽ phát triển tốt hơn, ổn định hơn, lành mạnh hơn đặc biệt
trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngày càng tăng lên . Để phát huy
hiệu quả nguồn vốn đó , việc nâng cao hơn nữa vai trò quản lí nhà nước là rất quan trọng .
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Quản lý nhà nước về kinh tế
1.Bài giảng Quản lý nhà nước về kinh tế, Đại học Thương mại
2.Trường Đại học Kinh tế quốc dân, GS.TS Nguyễn Hoàng Toàn-PGS.TS Mai Văn Bưu,
Giáo trình quản lý Nhà nước về kinh tế.
3.Lê Thanh Bình,Kinh tế đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hóa,NXB Chính trị quốc gia.
4.Niên giám thống kê, Báo cáo tình hình hoạt động đầu tư năm 2011
5.Lập và quản lý dưj án đầu tư,NXB Thống kê 2000
6.Tạp chí những vấn đề kinh tế thế giới số 24, năm 2011
7.Thời báo kinh tế số 70
Lý thuyết chức năng quản lý
nhà nước về kinh tế
4
Nguyễn Thị Hương
-Tổng hợp bài thảo luận chức
năng quản lý nhà nước về kinh
tế: cơ sở lý thuyết, vận dụng vào
lĩnh vực đầu tư tại VN
Thực trạng đầu tư hiện nay ở
Việt Nam
5
Phạm Thị Hương
Nghiên cứu chức năng tạo lập
môi trường kinh tế thuận lợi
trong lĩnh vực đầu tư
6
Phạm Thị Thanh
Hương
Vận dụng chức năng tạo lập
khuôn khổ pháp luật trong quản
lý nhà nước lĩnh vực đầu tư
Chức năng của Nhà nước trong
tạo lập môi trường cho hoạt
động đầu tư tại Việt Nam trong
thời gian qua
Chức
vụ
Nhóm
trưởng
Thư ký
Mức độ
hoàn
thành
(%)
Đánh
giá của
nhóm
(điểm)
Đánh giá
của giáo
viên