Những nguyên tắc cơ bản trong quản lý nhà nước về kinh tế liên hệ thực tiễn vấn đề này trong lĩnh vực thương mại ở nước ta hiện nay - Pdf 34

1

LỜI MỞ ĐẦU
Mỗi một quốc gia trên thế giới đều có môi trường chính trị, kinh tế và xã hội
khác nhau nên đối với mỗi nền kinh tế, nhà nước lại có các nguyên tắc quản lý cơ bản
khác nhau.
Muốn tìm hiểu mỗi quốc gia có cách quản lý kinh tế ra sao thì chúng ta nên
tìm hiểu qua các nguyên tắc của quản lý nhà nước về kinh tế.
Nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế chính là những đặc trưng riêng của
quyền lực nhà nuớc, các nguyên tắc này phải phù hợp với mục tiêu của quản lý; phải
phản ánh đúng tính chất các quan hệ kinh tế; phải đảm bảo tính hệ thống, tính nhất
quán và phải được đảm bảo bằng pháp luật.
Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước tiến vuợt bậc trong kinh
tế. Sự phát triển vuợt bậc này chính là do sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà
nước trong việc điều hành nền kinh tế một cách linh hoạt, hiệu quả. Việt Nam phát
triển kinh tế thị truờng định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế mà vai trò kinh tế
nhà nuớc là chủ đạo nên các nguyên tắc quản lý nhà nuớc về kinh tế cần phải phù hợp
với mục tiêu của quản lý; phải phản ánh đúng tính chất các quan hệ kinh tế; phải đảm
bảo tính hệ thống, tính nhất quán và phải được đảm bảo bằng pháp luật.
Trong thời kỳ hiện nay, càng tìm hiểu rõ những nguyên tắc cơ bản của quản lý
nhà nước về kinh tế, chúng ta sẽ tìm ra đuợc nhiều phuơng pháp để giúp đất nước phát
triển bền vững, theo đúng con đường mà Đảng và Nhà nuớc đã chọn. Chính vì lý do
đó, nhóm em xin phép được đi sâu vào đề tài: “ Những nguyên tắc cơ bản trong quản
lý nhà nước về kinh tế? Liên hệ thực tiễn vấn đề này trong lĩnh vực thương mại ở
nước ta hiện nay”.
Và để hiểu rõ vấn đề này chúng em đã đi sâu nghiên cứu các nội dung sau:
Chương 1: Cở sở lý thuyết về nguyên tắc cơ bản trong quản lý nhà nước về
kinh tế.
Chương 2: Thực trạng vận dụng những nguyên tắc cơ bản trong quản lý nhà
nước về thương mại ở nước ta hiện nay
Chương 3: Phương hướng, giải pháp vận dụng hiệu quả các nguyên tắc trong

- Nguyên tắc hài hòa lợi ích giữa người lao động, doanh nghiệp và xã hội.
- Nguyên tắc tăng cường pháp chế XHCN trong quản lý Nhà nước về kinh tế.
1.1. Nguyên tắc thống nhất chính trị và kinh tế.
Thống nhất lãnh đạo, chính trị và kinh tế, đảm bảo quan hệ đúng đắn giữa
kinh tế và chính trị và tạo được động lực cùng chiều cho mọi người dân trong xã hội
là một trong những nguyên tắc cơ bản của việc quản lý kinh tế có căn cứ khoa học
trong phạm vi quốc gia.
Nội dung của nguyên tắc:
- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng.
- Bảo đảm sự quản lý của Nhà nước.


3

- Vừa phát triển kinh tế vừa giữ gìn bảo vệ chủ quyền độc lập đất nước
1.2. Tập trung dân chủ.
Nội dung cơ bản của nguyên tắc: Phải đảm bảo mối quan hệ kết hợp
chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ trong quản lý kinh tế. Tập trung phải trên
cơ sở dân chủ, dân chủ phải thực hiện trong khuôn khổ chung.
Biểu hiện của quản lý tập trung: Có kế hoạch chung phát triển đất nước;
Thống nhất ban hành luật pháp; Thực hiện chế độ một thủ trưởng trong quản lý kinh
tế.
Biểu hiện của quản lý dân chủ: xóa bỏ cơ chế xin – cho; cạnh tranh bình
đẳng; tăng cường phân cấp quản lý kinh tế
1.3. Kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ.
1.3.1. Quản lý Nhà nước theo ngành.
a) Khái niệm ngành trong kinh tế (ngành kinh tế kỹ thuật)
Ngành kinh tế kỹ thuật là tổng hợp của nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh, mà
hoạt động của chúng có những đặc trưng kỹ thuật – sản xuất giống nhau, hoặc tương
tự nhau về cùng thực hiện một phương pháp công nghệ hoặc công nghệ tương tự; sản

đơn vị kinh tế trong ngành với Ngân sách Nhà nước.
- Thống nhất trong toàn ngành và liên ngành về việc tiêu chuẩn hóa quy cách,
chất lượng sản phẩm. Hình thành tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng sản phẩm.
- Trong việc thực hiện các chính sách, biện pháp phát triển và mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm chung cho toàn ngành và thực hiện sự bảo hộ sản xuất của
ngành nội địa trong những trường hợp cần thiết.
- Trong việc áp dụng các hình thức tổ chứ sản xuất khoa học và hợp lý các
đơn vị sản xuất kinh doanh trong toàn ngành.
- Trong việc thanh tra và kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn
vị kinh tế trong ngành. Định hướng đầu tư xây dựng lực lượng của ngành, chống sự
mất cân đối trong cơ cấu ngành và vị trí ngành trong cơ cấu chung cua rnền kinh tế
quốc dân.


5

- Thực hiện các chính sách, các biện pháp phát triển thị trường chung cho
toàn ngành, bảo hộ sản xuất ngành nội địa.
- Thống nhất hóa, tiêu chuẩn hóa quy cách, chất lượng hàng hóa và dịch vụ,
hình thành hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng sản phẩm để cơ quan có thẩm
quyền ban bố.
- Thực hiện các biện pháp, các chính sách quốc gia trong phát triển nguồn
nhân lực, nguồn nguyên liệu, nguồn trí tuệ khoa học và công nghệ chung cho toàn
ngành.
- Tham gia xây dựng các dự án Luânt, pháp lệnh, pháp quy, thẻ chế kinh tế
theo chuyên môn của mình để cùng các cơ quan nguyên tắc quản lý chuyên môn khác
hình thành hệ thống văn bản pháp luật quản lý ngành.
1.3.2. Quản lí theo lãnh thổ.
a) Khái niệm lãnh thổ
Lãnh thổ của một nước có thê chia ra thành nhiều vùng lãnh thổ khác nhau,

thổ ( không phân biệt kinh tế trung ương, kinh tế địa phương, các thành phần kinh tế
khác nhau) nhằm xây dựng một cơ cấu kinh tế lãnh thổ hợp lí và có hiệu quả.
- Điều hòa, phối hợp hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các đơn vị
kinh tế trên lãnh thổ nhằm tận dụng tối đa và sử dụng một cách có hiệu quả nhất
nguồn lực sẵn có tại địa phương.
- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật của từng vùng lãnh thổ bao
gồm: hệ thống giao thông vận tải; cung ứng điện năng; cấp thoát nước; đường sá, cầu
cống; hệ thống thông tin liên lạc….để phục vụ chung cho cả cộng đồng kinh tế trên
lãnh thổ.
- Thực hiện công tác thăm dò, đánh giá tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn
lãnh thổ.
- Thực hiện sự phân bố các cơ sở sản xuất trên địa bàn lãnh thổ một cách hợp
lí và phù hợp với lợi ích quốc gia.
- Quản lý, kiểm soát việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên quốc gia
trên địa bàn lãnh thổ.
- Quản lý, kiểm soát việc xử lí chất thải, bảo vệ môi trường sinh thái trên địa
bàn lãnh thổ.
1.3.3. Kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ.


7

a) Khái niệm
Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ đòi hỏi phải có sự
phối hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ trên tất cả mọi lĩnh
vực kinh tế. Cả hai chiều quản lý đều phải có trách nhiệm chung trong việc thực hiện
mục tiêu của ngành cũng như của lãnh thổ. Sự kết hợp này sẽ tránh được tư tưởng bản
vị của bộ, ngành, trung ương và tư tưởng cục bộ địa phương của chính quyền địa
phương. Theo đó, Bộ chỉ quan tâm đến lợi ích của các đơn vị kinh tế do mình thành
lập và Ủy ban nhân dân địa phương chỉ quan tâm đến lợi ích của các đơn vị kinh tế

hai mặt khác nhau của quá trình quản lý, cần có sự phân biệt vì những lý do sau đây:
Một là, trong thời kỳ đổi mới, trong cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung, đã
từng không có sự phân biệt giữa hai loại quản lý nói trên. Điều này thể hiện ở việc
Nhà nước can thiệp một cách toàn diện, triệt để và sâu rộng vào mọi hoạt động của
sản xuất- kinh doanh của các doanh nghiệp, đồng thời các doanh nghiệp lại được giao
cho thực hiệnc một số nguyên tắc quản lý vượt quá khả năng và tầm kiểm soát của
chúng. Đó là chế độ quản lý tập trung, quan liêu, can thiệp quá sâu vào nội bộ của
doanh nghiệp. Bên cạnh đó còn là việc giao cho bộ máy quản lý doanh nghiệp một số
nguyên tắc quản lý quản lý mà chỉ có Nhà nước mới có thể đảm nhận được.
Hai là, việc phân biệt quản lý nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh cho
phép định rõ được trách nhiệm của cơ quan nhà nước và trách nhiệm của cơ quan sản
xuất kinh doanh tại doanh nghiệp. Chỉ khi đó, mọi sai lầm trong quản lý dẫn đến tổn
thất tài sản quốc gia, lợi ích của nhân dân sẽ được truy tìm nguyên nhân, thủ phạm.
Không ai có thể trốn tránh trách nhiệm.
Ba là, trong điều kiện nền kinh tế tồn tại nhiều hình thức sở hữu, việc không
phân biệt quản lý nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh là vi phạm tính tự do kinh
doanh và sự chịu trách nhiệm cảu các đơn vị kinh tế trong nền kinh tế thị trường và
trong khuôn khổ pháp luật, làm thui chột tính năng động, sáng tạo của giới kinh doanh
và hạn chế hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
1.4.2. Nội dung cần phân biệt giữa quản lý nhà nước về kinh tế và quản lý
sản xuất, kinh doanh
Có thể phân biệt sự khác nhau trên 5 tiêu chí sau đây:
- Về chủ thể quản lý: chủ thể quản lý nhà nước về kinh tế là các cơ quan nhà
nước, còn chủ thể quản lý sản xuất kinh doanh là các doanh nhân.


9

- Về phạm vi quản lý: Nhà nước quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân, quản
lý ttất cả các doanh nhân, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trên tất cả các


10

nước phải quản lý đối với nền kinh tế bằng những biện pháp, trong đó đặc biệt phải
coi trọng phương pháp quản lý bằng pháp luật, trên cơ sở pháp luật. Thực tiễn quản lý
nhà nước đối với nền kinh tế ở nước ta trong những năm qua cho thấy, tình trạng
buông lỏng kỷ luật, kỷ cương, sự hữu khuynh trong việc thực hiện nguyên tắc quản lý
tổ chức, giáo dục, xem nhẹ pháp chế trong hoạt động kinh tế của nhiều doanh
nghiệp…đã làm cho trật tự kinh tế ở nước ta có nhiều rối loạn, gây ra những tổn thất
không nhỏ cho đât nước, đồng thời làm giảm sút nghiêm trọng uy tín va làm lu mờ
quyền lực của Nhà nước. Vì vậy, việc thực hiện nguyên tác tăng cường pháp chế
XHCN là một yêu cầu khách quan của quá trình quản lý kinh tế của Nhà nước ta.
1.5.2. Yêu cầu của việc thực hiện nguyên tắc
Để thực hiện nguyên tắc trên cần phải tăng cường công tác lập pháp và tư
pháp.
- về lập pháp, phải từng bước đưa mọi quan hệ kinh tế vào khuôn khổ pháp
luật. Các đạo luật phải được xây dựng đầy đủ, đồng bộ, có chế tài rõ ràng, chính xác
và đúng mức.
- Về tư pháp, mọi việc phải được thực hiện nghiêm mimh (từ khâu giám sát,
phát hiện, điều tra, công tó đến khâu xét xử, thi hành án…) không để xảy ra tình trạng
có tội không bị bắt, bắt rồi không xét xử hoặc xét xử quá nhẹ, xử rồi mà không thi
hành án hoặc thi hành án nửa vời v.v …


11

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ
BẢN TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI Ở NƯỚC TA HIỆN
NAY.
2.1.

quản lý cấp trên, cơ quan đầu não trung ương đối với những quyết định quan trọng về
thương mại mang tính quốc gia và quốc tế, đồng thời mở rộng quyền tự chủ, tự quyết
định cho các địa phương đối với những vấn đề thương mại mà trung ương không cần,
không thể quản lý hoặc trực tiếp quản lý sẽ kém hiệu quả; (2) tập trung sự quản lý


12

trong tay Nhà nước (có thẩm quyền riêng của cá nhân và thẩm quyền chung của tập
thể) và mở rộng quyền kinh doanh, tham gia vào quyết định quản lý Nhà nước của
mọi người dân, người tiêu dùng và các doanh nhân (tức là dân chủ cho mọi chủ thể
tham gia trao đổi hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, chứ không chỉ dân chủ đối với bộ
máy quản lý thương mại cấp dưới hoặc dân chủ trong tập thể của hệ thống lãnh đạo).
Hoạt động thương mại diễn ra trên phạm vi cả nước và từng địa phương, trong
phạm vi thị trường nội địa và thị trường quốc tế, cần thiết vừa phải có lãnh đạo, chỉ
huy tập trung thống nhất, thể hiện trong các định hướng và chính sách điều tiết vĩ mô,
kiểm soát Nhà nước, vừa phải mở rộng quyền dân chủ, tự quyết và tự chịu trách
nhiệm cho địa phương cho các doanh nghiệp là do mỗi địa phương có những đặc thù
về lợi thế so sánh, những đặc sắc về văn hóa, khác biệt về tập quán tiêu dùng,… hơn
nữa những hoạt động thương mại của các doanh nhân, của những người bán và người
mua, nên họ có tự quyết trong kinh doanh và đầu tư vào những lĩnh vực, sản phẩm mà
pháp luật không cấm, họ có quyền dân chủ trong việc tham gia đóng góp ý kiến vào
các chủ trương, chính sách, hoàn thiện hệ thống luật pháp, họ có quyền đòi hỏi Nhà
nước phải bảo vệ lợi ích chính đáng cho họ và giải quyết hài hòa lợi ích giữa Nhà
nước, cộng đồng doanh nhân và xã hội.
Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải giải quyết tốt vấn đề phân công và
phân cấp trong quản lý Nhà nước về thương mại. Xử lý tốt mối quan hệ phân công và
hợp tác theo “chiều ngang” giữa Bộ Thương Mại và các Bộ ngành ở Trung ương, Sở
Thương Mại với các Sở ngành địa phương (tỉnh, thành phố), quan hệ theo “chiều dọc”
theo ngành giữa Bộ Thương Mại và Sở Thương Mại trong cả nước. Đồng thời phải

Quản lý theo lãnh thổ có nội dung quy hoạch, xây dựng và phát triển hạ tầng
thương mại hoặc địa phương hoặc vùng cụ thể hóa chính sách thương mại của quốc
gia, đồng thời xây dựng chính sách, quy định đặc thù lãnh thổ nhằm khai thác lợi thế
so sánh trong thương mại. Phối hợp thương mại với các ngành khác trong công tác
quản lý nhà nước từ công tác hoạch định đến tổ chức, điều tiết thị trường và kiểm tra,
kiểm soát các hoạt động trao đổi hàng hóa, cung cấp các dịch vụ, chấp hành luật pháp
…. giữa các chủ thể kinh doanh với người tiêu dung và dân cư trong phạm vi lãnh thổ.
Hoạt động của các doanh nghiệp trên thị trường có thể diễn ra ở phạm vi địa
phương theo lãnh thổ hành chính hoặc theo lãnh thổ thương mại, nhưng suy cho cùng
đều chịu sự quả lý nhà nước đồng thời theo ngành và lãnh thổ. Sự quản lý theo ngành
đặt dưới sự lãnh đạo điều hành của Bộ Thương mại theo sự phân quyền và nhiệm vụ
do Chính phủ giao. Sự quản lý theo lãnh thổ đặt dưới sự lãnh đạo của Ủy ban nhân


14

dân tỉnh hoặc thành phố và trực tiếp là Sở Thương mại theo quyền hạn, tránh nhiệm
do chính quyền lãnh thổ giao cho.
Kết hợp tốt mối quạn hệ quản lý trên sẽ hạn chế hiện tượng chồng chéo hoặc
bỏ trống nhiệm vụ trong quản lý nhàn nước về thương mại. Để thực hiện việc kết hợp
đó, cần có sự phân công rõ rang và quy định trách nhiệm tham gia quản lý song trùng,
quy định về sự hợp tác, bàn bạc trong trường hợp ngành hoặc cấp lãnh thổ ra quyết
định. Bất cứ trường hợp nào ra quyết định bỏ qua ý kiến của phía bên kia đều dẫn đến
những trục trặc, gây khó khăn trở ngại cho sự phát triển thương mại và làm giảm hiệu
quả quản lý nhà nước về kinh tế.
2.4. Kết hợp quản lý bảo vệ, phát triển thị trường nội địa với mở cửa thị
trường và hội nhập quốc tế.
Trong nền kinh tế mở và hội nhập quốc tế, thị trường trong nước và thị trường
nước ngoài ngày càng có sự thống nhất trong sự tương tác qua lại lẫn nhau. Thị trường
trong nước là tiền đề cho mở rộng thị trường xuất nhập khẩu và thị trường ngoài nước

văn bản nhà nước ban hành. Nếu quyết định quản lý không được chuyển tới đối tượng
quản lý kịp thời hoặc đối tượng quản lý không chấp nhận, không thực thi hoặc thực thi
rất chậm, điều đó có ý nghĩa quản lý kém hiệu lực.
Tính hiệu quả của quản lý thể hiện ở mức độ thành công hay kết quả mang lại
so với chi phí nguồn lực đã bỏ ra nhờ có các chính sách, biện pháp hoặc công cụ quản
lý của nhà nước tác động tới thương mại, thị trường. Hiệu quả của quản lý được nhận
biết trực tiếp qua hiệu lực thực hiện các công cụ và chính sách quản lý của nhà nước,
mặc khác cũng được đánh giá thông qua kết quả và hiệu quả thương mại nói chung
của quốc gia cũng như của từng lãnh thổ.
Hiệu quả của quản lý nhà nước về thương mại phụ thuộc vào mức độ chuẩn
xác của việc ra quyết định và hiệu suất triển khai thực hiện quyết định đó. Nếu quyết
định quản lý đúng, hiệu suất triển khai cao thì hiệu quả sẽ cao và ngược lại sẽ gây ra
tổn thất lớn hoặc nghiêm trọng cho nền kinh tế và đời sống xã hội. Trường hợp quyết
định đúng, hiệu suất triển khai thực hiện thấp thì hiệu quả thấp, trường hợp quyết định
sai nhưng triển khai có giới hạn thì mức độ tổn thất nhỏ hoặc không đáng kể.
Để quản lý có tính hiệu lực, hiệu quả cao cần chú trọng đến chất lượng của
các quyết định và tính hợp lý của bộ máy tổ chức cũng như năng lực, độ tin cậy của


16

đội ngũ cán bộ công chức trong việc triển khai đưa ra các quyết định quản lý đó vào
đồi sống của cộng đồng kinh doanh và người tiêu dùng, dân cư. Các quyết định quản
lý phải đảm bảo kết hợp các mục tiêu, hài hòa các lợi ích, có tính ưu tiên, ưu đãi trong
những trường hợp, đối tượng, lĩnh vực kinh doanh và phạm vi thị trường cụ thể, phải
cân đối giữa mục đích và phương tiện, các nguồn lực sử dụng.


17


với các quốc gia và tổ chức quốc tế trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, chế độ chính trị và
cùng nhau phát triển. Yêu cầu đặt ra có tính nguyên tắc và mục tiêu trong việc hoàn
thiện nguyên tắc quản lý kinh tế của Nhà nước hiện nay thích ứng với điều kiện mới.
Cụ thể là :


18

- Cần phải có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của toàn cầu hóa và vấn đề hội
nhập: Không nóng vội, chủ quan hội nhập bằng mọi giá hoặc chậm trễ mà bỏ lỡ thời
cơ.
- Việc hoàn thiện nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế hiện nay không thể xuất
phát từ những yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế mà phải trở thành chính sách chủ
động, đồng thời giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Tiến hành cải cách toàn diện theo các chuẩn mực quốc tế để bắt kịp với các xu
hướng phát triển của thế giới, đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa tăng trưởng với tiến
bộ và công bằng xã hội, giữa tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững, đồng thời giữ
gìn bản sắc văn hóa của dân tộc.
- Nhà nước xúc tiến xây dựng chiến lược tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 để chủ động hơn trong quá trình
hội nhập và hội nhập mới thực sự trở thành phương tiện hữu hiệu thúc đẩy phát triển
mạnh kinh tế - xã hội của đất nước.
3.2.

Phương hướng hoàn thiện nguyên tắc quản lý kinh tế của Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

3.2.1. Tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức về nguyên tắc quản lý kinh tế của Nhà nước

trong nền kinh tế thị trường.

quản lý của Nhà nước trong cung cấp các dịch vụ công. Nhà nước cần tăng chi tiêu
cho cả giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội khác, đồng thời đảm bảo cho mọi người
được bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ đó. Nhà nước nên tạo điều kiện để khai
thác tiềm năng của khu vực kinh tế tư nhân trong việc hỗ trợ Nhà nước cung ứng kết
cấu hạ tầng và dịch vụ xã hội.
- Tăng trưởng trong nền kinh tế thị trường cần phải đi đôi với việc phát triển bền
vững. Nhà nước sử dụng có hiệu quả công cụ pháp luật, thuế, điều lệ hoặc chính sách
quyền sở hữu công khai nguồn tài nguyên...để kiểm soát mức độ nguy hiểm đối với
môi trường sinh thái.


20

KẾT LUẬN
Để đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững lâu dài, Đảng và nhà nước ngoài
việc quản lý nhà nước thông qua hệ thống chính trị còn phải quản lý nhà nước thông
qua hệ thống kinh tế mà cụ thể một trong những nhiệm vụ đó là xây dựng các kế
hoạch, chính sách dài hạn, đồng bộ phù hợp với các ngành, các lĩnh vực, các vùng
miền tránh sự trùng lặp, chồng chéo để tạo một môi trường kinh doanh hoàn chỉnh về
mặt pháp lý tạo ra sự bình đẳng trong cạnh tranh nhằm thu hút các nguồn lực vốn, kỹ
thuật, công nghệ, kỹ năng quản lý…Quan trọng từ bên ngoài để tạo các bước nhảy vọt
về tăng trưởng và phát triển thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
Nhà nước có vai trò quan trọng đối với bất cứ cuộc cách mạng nào trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nhà nước của dân, do dân và vì dân, thực
hiện đường lối phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo quy chế
thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hi vọng rằng trên cơ sở những phân tích và phương hướng đã thực hiện cùng
với những định hướng và giải pháp mới mà Đảng và Nhà nước ta đang vận dụng sẽ
giúp nền kinh tế của nước ta nhanh chóng thoát khỏi nền sản xuất nhỏ lẻ, thủ công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status