Mở đầu
Kể từ dấu mốc lịch sử 1986, khi đất nước chúng ta quyết định thực hiện
công cuộc đổi là một xu thế tất yếu của quá trình hội nhập.Sau bao nhiêu năm đât
nước chìm trong chiến tranh chống Pháp rồi chống Mỹ, thì hậu quả của nó là một
nền kinh tế Việt nam nghèo nàn lạc hậu, sản xuất nhỏ manh mún,đời sống nhân
dân vô cùng khó khăn, thu nhập bình quân đầu người vào loại thấp nhất thế
giới.Việt Nam đang cần rất nhiều nguồn lực cũng như sự ủng hộ để khôi phục nền
kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân lao động.Để thoát khỏi tình trạng đó thì việc
mở cửa hội nhập kinh tế là một xu thế tất yếu, Đảng và Nhà nước đã nhận ra điều
đó nên trong Đại hội Đảng lần VI đã có quết định mở cửa hội nhập.
Đi cùng với vấn đề mở của hội nhập thì việc quản lý và tạo điều kiện cho sự
phát triển kinh tế là một vấn đề cần được quan tâm hàng đầu.Nhà nước sẽ có vai
trò điều tiết kinh tế, định hướng phát triển kinh tế theo hướng đi và chiến lược đã
đề ra.Để làm được điều đó Nhà nước cần thực hiện vai trò, chức năng của mình
thông qua các công cụ của mình.Để làm rõ hơn vai trò của nhà nước trong quản lý
các vấn đề kinh tế, các thành viên nhóm 4 tập trung nghiên cứu một chức năng rất
quan trong của quản lý nhà nước về kinh tế: “ Chức năng tạo lập môi trường cho
các hoạt động kinh tế của quản lý nhà nước về kinh tế.Liên hệ thực tiễn trong lĩnh
vực đầu tư”
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng trong quá trình thu thập tài liệu và phân tích
còn gặp nhiều khó khăn,nên bài của nhóm không tránh được những sai sót, mong
thầy cô và các bạn thông cảm.
Chương 1.
Quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng quản lý nhà nước
về kinh tế.
1.1.Khái niệm Quản lý nhà nước về kinh tế.
Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân là sự tác động có tổ chức và
bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu
quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt
được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đạt ra, trong điều kiện hội nhập và
mở rộng giao lưu quốc tế.
Vì vậy, việc tạo lập môi trường cho sự phát triển kinh tế chung của đất nước và cho
sự phát triển sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp là một chức năng quản lý
kinh tế của Nhà nước.
Để tạo lập các môi trường, Nhà nước cần tập trung tốt các vấn đề sau:
- Đảm bảo sự ổn định về chính trị và an ninh quốc phòng, mở rộng quan hệ
đối ngoại, trong đó có quan hệ kinh tế đối ngoại.
- Xây dựng và thực thi một cách nhất quán các chính sách kinh tế-xã hội
theo hướng đổi mới và chính sách dân số hợp lý.
- Xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật
- Xây dựng mới và nâng cấp cơ sở hạ tầng, bảo đảm điều kiện cơ bản cho
hoạt động kinh tế có hiệu quả: giao thông, điện nước, thông tin, dự trữ quốc gia
- Xây dựng cho được một nền văn hoá trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN trên cơ sở giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc và thừa kế tinh hoa văn
hoá của nhân loại.
- Xây dựng một nền khoa học-kỹ thuật và công nghệ tiên tiến cần thiết và
phù hợp, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế và sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp, cải cách nền giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật
và trí tuệ phục vụ cho sự phát triển kinh tế.
- Xây dựng và thực thi chính sách và pháp luật về bảo vệ và sử dụngcó hiệu
quả tài nguyên thiên nhiên của đất nước, bảo vệ và hoàn thiện môi trường tự nhiên,
sinh thái.
c. Điều tiết sự hoạt động của nền kinh tế.
Nhà nước điều tiết sự hoạt động của nền kinh tế là nhà nước sử dụng quyền
năng chi phối của mình lên các hành vi kinh tế của các chủ thể trong nền kinh tế thị
trường, ngăn chặn các tác động tiêu cực đến quá trình hoạt động kinh tế, ràng buộc
chúng phải tuân thủ các quy tắc hoạt động kinh tế đã định sẵn nhằm bảo đảm sự
phát triển bình thường của nền kinh tế.
Điều tiết sự hoạt động của nền kinh tế và điều chỉnh sự hoạt động kinh tế là
hai mặt của một quá trình phát triển kinh tế. Nhưng điều chỉnh không giống với
điều tiết, điều chỉnh là sửa đổi lại, sắp xếp lại cho đúng, như điều chỉnh tốc độ phát
thủ cạnh tranh, các nhóm quyền lợi trong các cơ sở kinh tế.
Trong số các yếu tố thuộc môi trường kinh tế, nhà nước có vai trò đặc biết
với các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô: duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững ổn
định chính trị, đảm bảo ổn định xã hội
2.1. Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô
Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô là làm giảm những biến động ngắn hạn trong
nền kinh tế khuyến khích tăng trưởng bền vững lâu dài.
Trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô yếu tố hàng đầu là ổn định tiền tệ
và biểu hiện là ổn định tỷ giá hối đoái, ổn định giá cả và lãi suất. Thông qua đó tác
động tích cực đến tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Ổn định kinh tế vĩ mô có ý nghĩ rất lớn với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Nó
củng cố long tin của các chủ thể kinh tế vào tương lai của nền kinh tế, nó tránh cho
nền kinh tế khỏi những cuộc khủng hoảng kinh tế dẫn đến sự tàn phá nền kinh tế.
Nó là điều kiện tiên quyết cho việc tính toán kinh doanh của các chủ thể kinh tế.
Để ổn định kinh tế vĩ mô, nhà nước cần thực hiện hàng loạt các biện pháp:
- Gia tăng tiết kiệm dùng để đầu tư cho phát triển.
- Duy trì sự cân đối giữa thu và chi ngân sách nhà nước nhằm giữ lạm phát ở
mức có thể kiểm soát được bằng cách duy trì tỷ giá hối đoái hợp lý.
- Duy trì sự cân đối giữa tích luỹ và đầu tư nhằm tránh sự lệ thuộc vào nước
ngoài.
- Đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực như nạn quan lieu, tham nhũng, buôn lậu và
gian lận thương mại.
2.2. Giữ vững ổn định chính trị.
Chức năng ổn định chính trị của Nhà nước xuất phát từ sự tác động của
chính trị với kinh doanh. Ổn định chính trị tạo ra môi trường thuận lợi đối với hoạt
động kinh doanh. Một nhà nước mạnh, thực thi hữu hiệu các chính sách phát triển
kinh tế - xã hội đáp ứng được các yêu cầu chính đáng của nhân dân sẽ đem lại lòng
tin và hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trong một xã hội ổn định chính
trị, các nhà kinh doanh được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu và các loại
tài sản khác. Do đó, các nhà kinh doanh sẵn sang đầu tư những khoản tiền lớn vào
số ở mức hợp lý. Hạ thấp tỷ lệ sinh đẻ và giảm tốc độ tăng dân số là nhiệm vụ của
tất cả các nước đang phát triển. Để thực hiện nhiệm vụ này, nhà nước cần quan tâm
đến cả giải pháp về kế hoạch hoá gia đình và những chương trình phát triển kinh tế
xã hội. Ngoài ra cần cải thiện phân phối thu nhập, bao gồm nhiều cơ hội để có việc
làm và giáo dục cho phụ nữ, tầng lớp ít được hưởng các đặc quyền đặc lợi và các
nhóm có thu nhập thấp hơn cũng góp phần giảm tỷ lệ sinh.
Vấn đề việc làm.
Thất nghiệp, thiếu việc làm không chỉ ảnh hưởng đến môi trường xã hội mà
còn ảnh hưởng trực tiếp đến sử dụng nguồn nhân lực của đất nước, hơn nữa việc
thu nhập và đời sống là mục tiêu phát triển kinh tế đất nước. Để giải quyết vấn đề
này, “bàn tay” của Nhà nước có sức mạnh hơn thị trường. Các định hướng trong
việc giải quyết vấn đề này bao gồm:
+ Chương trình giảm tỷ lệ sinh đẻ
+ Khuyến khích phát triển nông nghiệp và nông thôn
+ Thay thế kỹ thuật sản xuất sử dụng nhiều lao động thay vì áp dụng những
kỹ thuật sử dụng nhiều vốn.
+ Thay thế những sản phẩm sử dụng nhiều lao động hơn.
+ Phân phối lại thu nhập cho người nghèo.
+ Tăng sức mua của chính phủ với hàng hoá của các doanh nghiệp quy mô
nhỏ, sử dụng nhiều lao động.
+ Tạo ra công nghệ mới ở địa phương.
+ Quy định tỷ giá hối đoái cân bằng.
+ Chống lại sức ép với mở rộng quá nhanh giáo dục ở cấp cao và từ chối bao
cấp cho giáo dục này, tăng chi tiêu cho giáo dục tiểu học, nhấn mạnh giáo dục
khoa học kỹ thuật và kỹ thuật.
+ Cải thiện sự linh hoạt về lương ở mức cao.
Vấn đề công bằng xã hội:
Công bằng vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển. Đảm bảo công
bằng xã hội là việc Nhà nước can thiệp vào thị trường nhằm một mặt tăng thu nhập
của những người nghèo làm cho khoảng cách giàu nghèo không tăng hơn mà giảm
Song, thị trường không thể giải quyết được tận gốc vấn đề này mà còn làm cho nó
trở nên trầm trọng hơn do vậy nhà nước cần đứng ra để đảm bảo thực hiện được
nhiệm vụ này theo các biện pháp:
+ Xã hội hoá các phương tiện sản xuất,
+ Tín dụng cho người nghèo.
+ Giáo dục tiểu học phổ cập.
+ Xây dựng và thực hiện các kế hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn.
+ Thực hiện các loại thuế thu nhập luỹ tiến, các trợ cấp lương thực.
+ Các chương trình sức khoẻ, kế hoạc hoá gia đình.
+ Các khoản chuyển nhượng thu nhập
+ Các chương trình xoá đói giảm nghèo.
+ Nghiên cứu về lương thực, thực phẩm.
Vấn đề củng cố và phát triển văn hoá.
Văn hoá trong nền kinh tế thị trường có nhiều điều kiện để phát triển, song
cũng gặp không ít trở ngại trên con đường phát triển của nó. Củng cố và phát triển
văn hoá không chỉ là nhiệm vụ mà còn là mục tiêu của quản lý nhà nước về kinh
tế. Thông qua củng cố và phát triển văn hoá mà đảm bảo điều kiện cho kinh tế phát
triển.
Khắc phục những hiện tượng tiêu cực trong xã hội.
Những hiệ tượng tiêu cực làm ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường kinh
doanh gồm: sản xuất hàng hoá, buôn lậu, trốn thuế và gian lận thương mại, vi
phạm quyền sở hữu trí tuệ, tham nhũng. Những tiêu cực này ở Việt Nam còn tương
đối phổ biến do đó nhiệm vụ của Nhà nước ta trong lĩnh vực này còn rất nặng nề.
Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái:
Phát triên phải đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái ,vì mục tiêu lợi nhuận,
các chủ thể kinh tế có thể làm ảnh hưởng tới môi trường sinh thái. Nhà nước cần
can thiệp để hạn chế mức độ ảnh hưởng xấu tời môi trường sinh thái như kiểm soát
mức độ ô nhiễm, đánh thuế và đưa ra những quy định về cấm hoặc cho phép ở mức
độ nào đó.
Chương 3.
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
20,2 21,2 21,4 20,6 19,5 19,3 19,0 17,3 14,1 17,3
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2009
Trong thời gian qua, bên cạnh những thành công và đóng góp tích cực vào
quá trình phát triển đất nước không thể phủ nhận, đầu tư công của Việt Nam còn
nhiều hạn chế, nhất là về hiệu quả đầu tư. Đầu tư công luôn đi cùng với lãng phí
và tốn kém, thậm chí với mức độ ngày càng nặng nề Việc Tập đoàn Kinh tế nhà
nước Vinashin bỏ 1.000 tỉ đồng để mua tàu vận tải biển tuyến Bắc - Nam, nhưng
chỉ chạy mấy chuyến rồi dừng, đang được nhắc đến như một điển hình cho sự lãng
phí của đầu tư công. Hay, đầu tư cảng biển dọc 600km ở bờ biển miền Trung quá
dày đặc (cứ khoảng 30 - 40km lại có 1 cảng), song, các cảng biển này lại không
hoạt động hết công suất. Thực tế đó cho thấy, mức độ thiếu hiệu quả của các dự án
đầu tư công của Việt Nam rất đáng báo động. Với kiểu xin cấp phép xây dựng tràn
thậm chí, càng tăng trưởng, đất nước và người dân càng bị nghèo đi và thiếu bền
vững.
b.Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam ( Vốn FDI)
Vốn đầu tư nước ngoài lũy kế:
Tính đến ngày 15/12/2011, Việt Nam có 13.667 dự án còn hiệu lực với tổng
vốn đăng ký 198 tỷ USD, trong đó công nghiệp và xây dựng chiếm 54%.
Singapore là nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký 24 tỷ USD,
tiếp theo lần lượt là Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan. Thành phố Hồ Chí Minh
vẫn là địa phương dẫn đầu trong thu hút FDI với 32,67 tỷ USD còn hiệu lực, tiếp
theo là Bà Rịa-Vũng Tàu, Hà Nội, Đồng Nai và Bình Dương.
Về vốn đăng ký năm 2011:
Tính đến 15/12/2011, vốn đăng ký mới và tăng thêm tại Việt Nam đạt 14,7
tỷ USD, bằng 74% so với năm 2010. Riêng vốn đăng ký mới đạt 11,6 tỷ USD,
bằng 65% năm 2010 nhưng đã có những chuyển biến theo hướng tích cực. Vốn
đăng ký năm 2011 tập trung 76,4% vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, cao hơn
hẳn tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực này năm 2010 (54,1%). Đầu tư vào lĩnh vực kinh
doanh bất động sản năm 2011 chỉ chiếm 5,8% tổng vốn đăng ký (trong khi năm
2010 lĩnh vực này chiếm 34,3% tổng vốn đăng ký). Vốn đăng ký tăng thêm đạt 3,1
tỷ USD, tăng 1,65 lần mức vốn đăng ký tăng thêm của năm 2010 (1,89 tỷ USD).
Điều này cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài vẫn có sự đánh giá tích cực về môi
trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
Về vốn thực hiện và kết quả hoạt động của doanh nghiệp FDI năm 2011:
Vốn thực hiện của khu vực FDI tại Việt Nam năm 2011 ước đạt 11 tỷ USD,
bằng với mức thực hiện của năm 2010 và đóng góp 25,9% tổng vốn đầu tư toàn xã
hội.
Xuất khẩu của khu vực FDI (kể cả dầu thô) ước đạt 54,5 tỷ USD, chiếm
59% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tăng 39,3% so với năm 2010, cao hơn
mức tăng trưởng xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước. Giá trị kim ngạch xuất
khẩu khu vực FDI (không kể dầu thô) ước đạt 47,2 tỷ USD. Góp phần làm giảm
gánh nặng cho cán cân thương mại. Nhập khẩu của khu vực FDI là 47,8 tỷ USD,
Dương với quy mô vốn đăng ký 2,26 tỷ USD, dự án sản xuất pin mặt trời First
Solar tại thành phố Hồ Chí Minh với quy mô vốn đăng ký trên 1 tỷ USD.
c.Tình hình đầu tư ra nước ngoài tại Việt Nam.
Lũy kế đến thời điểm 30/12/2011:
Có 627 dự án đầu tư ra nước ngoài, với tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của
nhà đầu tư Việt Nam đăng ký đạt 10,8 tỷ USD tại 55 quốc gia và vùng lãnh thổ, tập
trung chủ yếu tại Lào (3,4 tỷ USD), Campuchia (2,1, tỷ USD), Venuezela (1,8 tỷ
USD), Nga (776 triệu USD), Peru (508 triệu USD), Malaysia (412 triệu USD),
Modambic (345 triệu USD)
Vốn thực hiện lũy kế đến nay ước đạt khoảng 2,7 tỷ USD; trong đó khoảng 1,4 tỷ
USD trong lĩnh vực dầu khí; Lào đạt khoảng 480 triệu USD; Campuchia đạt
khoảng trên 200 triệu USD
Về cấp dự án đầu tư ra nước ngoài năm 2011:
Vốn đăng ký:
Trong năm 2011, đã cấp mới cho 75 dự án đầu tư ra nước ngoài tại 26 quốc
gia, vùng lãnh thổ và điều chỉnh điều chỉnh 33 dự án đầu tư. Tổng vốn đầu tư đăng
ký (bao gồm cả cấp mới và tăng vốn) đạt 2,12 tỷ USD, bằng dự kiến của năm
2011.
Các dự án quy mô lớn tập trung trong các lĩnh vực công nghiệp năng lượng,
truyền thông, tập trung tại các địa bàn quen thuộc, phù hợp với các lĩnh vực và địa
bàn ưu tiên đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam.
Về vốn thực hiện các dự án đầu tư
Thống kê từ báo cáo của các Tập đoàn, doanh nghiệp có nhiều dự án đầu t ra
nước ngoài cho thấy trong năm 2011, vốn thực hiện ước đạt khoảng 950 triệu
USD. Trong đó, đứng đầu là Tập đoàn dầu khí Việt Nam, với tổng vốn chuyển ra
nước ngoài khoảng 347 triệu USD; thứ hai là Tập đoàn Viettel với tổng vốn đầu t
chuyển ra nớc ngoài khoảng 185 triệu USD; thứ ba là Tập đoàn cao su Việt Nam
với tổng vốn đầu t chuyển ra nớc ngoài khoảng 134,6 triệu USD; thứ t Tập đoàn
Sông Đà, với tổng vốn đầu tư chuyển ra nước ngoài khoảng 161 triệu USD
Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai là 39 triệu USD, Công ty CP Đông Dương
nghệ… Việc sử dụng các đầu vào đó của chủ dự án đôi khi gây ảnh hưởng đến
cộng đồng về nhiều mặt như lãn phí tài nguyên, bóc lột người lao động, sử dụng
công nghệ đã hết khấu hao… nên Nhà nước phải quản lý để định hướng cho các
chủ đầu tư, khi sử dụng các yếu tố đầu vào phải tuân theo các tiêu chuẩn, quy định
của nhà nước.
- Các nội dung khác của dự án đầu tư như: Quy mô đầu tư, địa điểm phân bố
công trình, kết cấu kiến trúc công trình (độ cao, hình khối, mầu sắc, phản quang,
…), do đều có ý nghĩa về mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an
ninh… rất sâu sắc, nên nhà nước cần phải quản lý xem xét kỹ trước khi cho phép
đầu tư.
b.Sự cần thiết khách quan của QLNN đối với các hoạt động đầu tư quốc
gia
Sở dĩ nhà nước phải quản lý các dự án nhà nước là vì đó là vốn của nhà
nước bỏ ra hoặc vốn tín dụng của nhà nước, hoặc vống viện trợ do nhà nước đứng
ra tiếp nhận và sử dụng. Đối với mọi dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước đều thành
lập Ban quản lý dự án (BQLDA) thay mặt chủ đầu tư trực tiếp quản lý sử dụng vốn
của nhà nước.
Tuy vậy, hoạt động quản lý của các Ban QLDA chỉ giới hạn trọng phạm vi
quản trị dự án, chứ không phải là hoạt động QLNN đối với các dự án nhà nước.
Các Ban QLDA vẫn phải chịu sự QLNN của tất cả các cơ quan quản lý khác vì hai
lý do:
- Ban QLDA thực hiện trách nhiệm với tư cách chủ đầu tư. Họ là người đại
diện cho nhà nước về mặt vốn đầu tư, có nhiệm vụ làm cho vốn đó sớm biến thành
mục tiêu đầu tư. Như vậy, các ảnh hưởng khác của dự án như tác động của môi
trường, an ninh quốc phòng, trình độ công ghệ… họ không có trách nhiệm và
không đủ khả năng để quan tâm đến. Nếu không có sự QLNN đối với các Ban
QLDA này, các DA nhà nước trong khi theo đuổi các mục đích chuyên ngành có
thể làm tổn hại quốc gia ở các mặt mà họ không lường hết hoặc không quan tâm.
- Mặt khác, bản thân các Ban QLDA cũng có thể không thực hiện trọn vẹn
trách nhiệm đại diện sở hữu vốn, từ đó sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả,
còn chưa đồng bộ, quy hoạch chưa rõ ràng.
- Về quản lý sau cấp phép: Trong năm qua, các cơ quan quản lý nhà nước về
đầu tư ở địa phương tuy đã có cố gắng nhưng đôi khi còn quá tải, chưa chủ động
nên chưa sâu sát tình hình triển khai thực hiện dự án. Năm qua, Bộ Kế hoạch và
Đầu tư đã cùng với các Bộ, ngành tiến hành một số cuộc kiểm tra trong lĩnh vực xi
măng, bất động sản, chuyển giá; rà soát việc vay vốn trong nước để nắm bắt tình
hình thức tế, khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp từ đó đề xuất các biện pháp
xử lý phù hợp.
- Về công tác phối hợp giữa các cơ quan: Trong năm 2011, Bộ Kế hoạch và
Đầu tư cũng đã triển khai công tác phối hợp với các Bộ, ngành và các địa phương
thông qua các cuộc giao ban định kỳ về ĐTNN; tiếp tục duy trì các cuộc đối thoại
chính sách với cộng đồng doanh nghiệp thông qua kênh diễn đàn doanh nghiệp,
Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản, gặp mặt với một số Hiệp hội doanh
nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
- Về công tác thông tin: Để tăng cường công tác quản lý, hệ thống thông tin
quốc gia về ĐTNN đang được xây dựng. Các thông tư quy định về báo cáo thống
kê; kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư đã được dự thảo, chuẩn bị ban hành. Làm
tốt công tác này cũng sẽ phục vụ tốt cho việc phân tích xây dựng chính sách. Năm
2012 Bộ KHĐT sẽ triển khai hệ thống thông tin nối mạng với các địa phương để
thực hiện tốt công tác báo cáo thông kê, từ đó có thông tin kịp thời phục vụ cho
công tác chỉ đạo điều hành và hoạch định chính sách
e.Nhà nước cần có những biện pháp tích cực hơn nữa trong việc quản lý
các hoạt động đầu tư và dự án đầu tư.
- Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực gây ra bởi đầu ra của các hoạt động đầu
tư.
- Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực do việc sử dụng đầu vào của các chủ dự
án dầu tư không đứng trên lợi ích toàn diện, lâu dài của đất nước.
- Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực khác mà có thể gây ra như các công
trình xây dựng được tạo ra bởi dự án cảnh quan, thuần phong, mỹ tục, an ninh quốc
gia.
duyệt 3 lần; dự án nhóm A áp dụng chế độ phê duyệt 2 lần; dự án nhóm B, C áp
dụng chế độ phê duyệt 1 lần.
-Thực hiện chế độ phân loại dự án để phân cấp quyết định đầu tư.Phân loại
dự án để phân cấp phê duyệt là phân chia dự án thành các loại, theo đó mỗi loại
được phê duyệt tại một cấp trong hệ thống tổ chức quản lý nhà nước. Cũng tương
tự như biện pháp trên, tiêu chí để phân loại dụ án trong biện pháp này cũng căn cứ
vào quy mô tính chất của dự án. Theo đó dự án sử dụng vốn nhà nước cũng được
phân chia thành 4 nhóm tương tự:
Dự án quan trọng quốc gia: Thủ tướng chính phủ ra quyết định đầu tư
Dự án A, B, C: Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND
cấp tỉnh (NĐ 16CP/2005).
Dự án B, C có thể phân cấp QĐ ĐT cho cơ quan cấp dưới trực tiếp, chẳng
hạn hội đồng quản trị Tổng công ty, Tổng cục trưởng, Chủ tịch UBND cấp huyện,
xã.
-Thực hiện chế độ đầu thầu bắt buộc .Biện pháp này được thực hiện đối với
các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước, DAĐT sử dụng vốn hỗn hợp trong đó vốn
nhà nước chiếm từ 30% trở lên.
Kết luận
Qua nghiên cứu về lí luận và thực tiễn ở trên chúng ta một lần nữa có thể
khẳng định được vai trò quan trọng của quản lí nhà nước đối với nền kinh tế nói
chung đối với hoạt động đầu tư nói riêng. Đặc biệt trong chức năng tạo lập môi
trường kinh doanh cho các hoạt động kinh tế thì vai trò của nhà nước càng được
thể hiện rõ ràng. Hơn nữa các cơ quan quản lí nhà nước đã nhận thức rõ tầm quan
trọng cuả mình. Vì thế họ đã cố gắng phát huy và nâng cao hơn nữa vai trò quản
lí, đưa hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng đạt được những
thành công đáng kể. Tuy nhiên , do những nguyên nhân chủ quan cũng như khách
quan , hoạt động quản lí nhà nước vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục .
Trong thời gian gần đây , khi quan hệ mở cửa kinh tế quốc tế của Việt Nam
ngày càng mở rộng , đặc biệt sau hội nghị thượng đỉnh Á- Âu (ASEM 50 , khi Việt
Nam gia nhập các tổ chức quốc tế như ASEAN, APEC, hội nhập AFTA và sắp tới