Tìm hiểu các hoạt động can thiệp của Ngân hàng nhà nước đối với
thị trường tiền tệ hiện nay và cơ sở pháp lí cho sự can thiệp này
A. Lời Nói Đầu
Trong nền kinh tế hiện đại, mỗi quốc gia đều sử dụng tiền tệ làm công cụ trong các giao
dịch đơn giản trong đời sống hàng ngày cũng như các giao dịch trong các haotj động thương
mại… và chính thị trường tiền tệ đã ngày càng tác động sâu rộng vào nền kinh tế của mỗi
quốc gia, không chỉ vậy, nó còn có sức ảnh hưởng mang tầm quốc tế. Chính vì vậy những
hoạt động can thiệp cần thiết của nhà nước đối với thị trường này có một ý nghĩa hết sức
quan trọng. Với ý nghĩa như trên, trong bài tiểu luận này chúng em xin: “tìm hiểu các
hoạt động can thiệp của Ngân hàng nhà nước đối với thị trường tiền tệ hiện nay và
cơ sở pháp lí cho sự can thiệp này”.
B. Nội Dung
I. Hoạt động của ngân hàng nhà nước
Như chúng ta đã biết, chức năng của ngân hàng là quản lí nhà nước trong lĩnh vực ngân
hàng và chức năng của ngân hàng trung ương.
Hoạt động của NHNN có tác động mạnh mẽ đối với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế
và đời sống xã hội. Do tính phức tạp của nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng và những tác
động mạnh mẽ của kinh doanh ngân hàng đối với nền kinh tế nên phương thức hoạt động
của ngân hàng không thể hình thành một cách tự phát mà cần thiết phải có sự điều chỉnh
của pháp luật. Và phải thông qua một cơ quan nhất định. Ở nước ta cơ quan đó là Ngân
hàng nhà nước Việt Nam. Trong quá trình thực hiện chức năng của mình, ngân hàng nhà
nước đã có những hoạt động nhất định can thiệp vào thị trường tiền tệ.
1. Hoạt động quản lí nhà nước về lĩnh vực ngân hàng.
Trong quá trình thực hiện chức năng quản lí nhà nước của mình, NHNN đã can thiệp vào thị
trường tiền tệ ở tầm vĩ mô như: ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh hoạt động
trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng, thực hiện việc kiểm tra giám sát,…Như vậy, NHNN đã tạo
ra một hành lang pháp lí cho thị trường tiền tệ hoạt động. Việc NHNN can thiệp vào thị
trường tiền tệ thể hiện thông qua việc những giao dịch ngắn hạn về vốn phải thực hiện theo
quy định của ngân hàng nhà nước. Hơn nữa, những giao dịch này được thực hiện chủ yếu
thông qua hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Những chủ thể tiến hành hoạt
động theo quy định của NHNN.
đối với các NH không có trụ sở chính tại Hà Nội thì thời gian này thường bị kéo dài ra, có khi
lên tới 5 ngày làm việc. Đây là một trong những hạn chế cơ bản của công cụ này, làm giảm
tính chất hỗ trợ khẩn cấp của công cụ tái cấp vốn để bổ sung dự trữ của các NH.
Thứ tư là sự quan tâm và hiểu biết của hệ thống NHTM tới các nghiệp vụ tái cấp vốn không
đồng đều và nhìn chung chưa cao. Các NH thường xuyên tiếp cận vốn nguồn vốn này với
nguồn vốn này chỉ là 4 NHTM Nhà nước có trụ sở tại Hà Nội.
Ngoài ra, các cán bộ nghiệp vụ của các NHTM còn lúng túng. Tuy NHNN đã ban hành các
quy chế về các công cụ tái cấp vốn và quy trình thực hiện khá rõ ràng, dễ hiểu nhưng các
cán bộ này vẫn chưa nắm vững được nội dung cần thiết của bộ hồ sơ vay vốn, trình tự thực
hiện nghiệp vụ.
Tổng hạn mức chiết khấu đã phân bổ cho các NH chỉ đạt 60-80% tổng hạn mức được phép
sử dụng trong quý. Điều này thể hiện sự thiếu quan tâm của các NH đối với hình thực tái
cấp vốn này.
Thứ năm, về cơ bản, không có nhiều khác biệt giữa hình thức chiết khấu có thời hạn và hình
thức cầm cố GTCG có thời hạn. Tuy nhiên lãi suất áp dụng lại khác nhau. Mặt khác, hình
thức chiết khấu GTCG của NHNN trên thị trường mở. Điều này dẫn tới sự khác biệt không
cần thiết trong việc tiếp cận các công cụ của NHNN.
Để khắc phục một số hạn chế nêu trên chúng em xin đưa ra một số kiến nghị như sau:
Một, nên gọi tái cấp vốn là công cụ cho vay hỗ trợ vốn của NHTW để đúng với bản chất và
mục tiêu của công cụ này.
Hai, NHNN cần hiện đại hoá hệ thống thông tin, hệ thống vi tính và công nghệ.
Ba, tổ chức đăng ký giao dịch và xử lý, giải quyết các yêu cầu của NHTM qua hệ thống
mạng vi tính.
Bốn, Thống đốc NHNN nên uỷ quyền, phân cấp cho Vụ trưởng Vụ Tín dụng chủ động giải
quyết ở mức độ nào đó.
Năm, NHNN cũng cần đẩy mạnh tuyên truyền về công cụ này đối với tất cả các NHTM, nhất
là các NHTM cổ phần, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài mạnh dạn sử dụng công cụ vay tái
cấp vốn.
Sáu, NHNN cũng nên bãi bỏ hạn mức tín dụng, mà cần căn cứ vào nhu cầu thực tế của
NHTM và giấy tờ có giá của NHTM để quyết định cho vay.
ngắn LS thấp, nghĩa là có đường cong LS). Lúc đó nguồn vốn huy động mới ổn định và các
NHTM sẽ không phải dùng LS cao để giữ tiền gửi nữa.
Nếu như ở Việt Nam sự can thiệp hành chính vào LS huy động có rất ít hiệu lực, bên cạnh
đó còn đẩy các ngân hàng thương mại buộc phải “lách luật” (LS huy động VND cao nhất
trong thực tế gần gấp rưỡi so LS trần, LS huy động USD cao nhất đến nay đã gấp LS đôi
trần), khiến công chúng mất niềm tin vào tính công khai, minh bạch của hoạt động ngân
hàng, người gửi lượng tiền giá trị thấp bị thua thiệt, dư luận nghi ngờ về vai trò, năng lực
quản lý của NHNN, thì tại Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thay đổi lãi suất liên bang thì những
lãi suất do thị trường quyết định như lãi suất thế chấp hay lãi suất ưu tiên của các tổ chức
tín dụng sẽ thay đổi theo cùng hướng), từ đó tạo ra một chuỗi các phản ứng lan truyền tác
động của chính sách đó tới toàn bộ nền kinh tế theo mục tiêu mình mong muốn, mà không
phải can thiệp trực tiếp vào LS giữa tổ chức tín dụng với khách hàng. Vì vậy, nhà nước cần
sử dụng tốt hơn các công cụ của mình để điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và tác động gián
tiếp đến lãi suất thị trường.
2.3. Hoạt động quy định tỉ giá hối đoái
Quy chế hoạt động giao dịch hối đoái được ban hành nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt
động kinh doanh hối đoái, đa dạng hoá các loại hình giao dịch trên thị trường; tạo các công
cụ phòng ngừa rủi ro trước những biến động của tỷ giá và lãi suất trên thị trường trong
tương lại; giúp cho các nhà xuất khẩu, nhập khẩu, các đơn vị kinh tế chủ động trong kinh
doanh; thúc đẩy và phát triển các giao dịch hối đoái để góp phần hoàn thiện thị trường hối
đoái ở Việt Nam.
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng chính thức được hình thành từ năm 1994. Thị trường này
giúp kết nối cung cầu ngoại tệ cho các ngân hàng. Qua thị trường này, NHNN đã theo dõi
được các giao dịch về ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng, thấy được diễn biến cung cầu và
tham gia thị trường với vai trò là người mua bán cuối cùng. NHNN tham gia thị trường này
nhằm thực thi chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Kể từ năm 1999, ngoài điều hành linh
hoạt tỷ giá, NHNN còn thực hiện các biện pháp can thiệp kịp thời tỷ giá trên thị trường giúp
các NHTM cân đối ngoại tệ đã góp phần làm ổn định tỷ giá.
Ở một nền kinh tế áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định, chính sách tiền tệ sẽ bị hạn chế
sử dụng, bởi bất cứ sự thay đổi nào của cung tiền cũng làm thay đổi tỷ giá hối đoái.
điều chỉnh linh hoạt. Trong thời điểm thị trường cần, NHNN đã kịp thời bán ngoại tệ để can
thiệp, hạ nhiệt thị trường. Trong thời điểm thị trường dư cung, NHNN sẽ mua ngoại tệ vào
với mức độ nhất định và hợp lý. Vừa đảm bảo tỉ giá không giảm quá sâu, vừa góp phần thực
hiện mục tiêu kiềm chế nhập siêu, góp phần ổn định thị trưởng tiền tệ.
2.4. Hoạt động quy định dự trữ bắt buộc
Cùng với lãi suất, chính sách chiết khấu, thị trường mở thì dự trữ bắt buộc là một trong
những công cụ quan trọng để Ngân hàng nhà nước thực hiện mục tiêu ổn định và tăng
trưởng thông qua việc cung ứng tiền và điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông. Dự trữ bắt
buộc là một phần số dư tiền gửi các loại mà các ngân hàng thương mại phải dự trữ dưới
dạng tiền mặt hoặc tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước.
Trong hoạt động kinh doanh của mình, các Ngân hàng thương mại sử dụng các khoản tiền
gửi của khách hàng để cho vay hoặc đầu tư một cách khá linh hoạt. Nếu như các khoản cho
vay đều có thời hạn, thậm chí có khi vượt thời hạn nhưng ngân hàng vẫn không thu được nợ
- trong khi đó, đối với nguồn tiền gửi của khách hàng thì các ngân hàng lại rất khó kiểm
soát thời hạn, ngay cả khi gửi tiết kiệm có kỳ hạn thì khách hàng gửi tiền vẫn có thể rút tiền
trước khi đến hạn; tình trạng tiền cho vay ra chưa thu hồi về nhưng khách hàng gửi tiền lại
có nhu cầu rút tiền trước hạn là hiện tượng luôn có thể xảy ra. Điều này cho thấy rủi ro
thanh khoản luôn là mối lo đối với các Ngân hàng thương mại. Mặt khác, trên thực tế, thời
hạn cho vay còn dài hơn thời hạn của nguồn tiền gửi, nói khác đi là kỳ hạn gửi tiền của mỗi
loại tiền gửi không phải lúc nào cũng là cơ sở để xem xét và quyết định thời hạn cho vay,
mà ngân hàng có thể khai thác tính ổn định tương đối của tổng số dư tiền gửi không kỳ hạn
để cho vay có thời hạn, dùng nguồn tiền gửi thời hạn ngắn để cho vay với thời hạn dài
hơn nên nguy cơ rủi ro cao hơn. Nói như vậy có nghĩa là dự trữ bắt buộc đóng vai trò rất
quan trọng, nó giúp các Ngân hàng giải quyết được phần nào những rủi ro không mong
muốn, giúp các ngân hàng vượt qua thời kỳ hoảng loạn.
Những tác động của dự trữ bắt buộc:
Tác động đến lãi suất:
Do dự trữ bắt buộc có thể thu mở rộng hay thu hẹp tiềm năng tín dụng cho nên lãi suất thị
trường cũng vì thế mà có thể giảm xuống hoặc tăng lên.
Hiệu ứng của tác động trên càng tăng lên khi phần dự trữ bắt buộc của các ngân hàng ở
ngày 09/3/2000. Qua quá trình hoạt động, NHNN đã không ngừng hoàn thiện cơ sở pháp lý
để thị trường mở ngày càng phát huy vai trò, tác dụng trong sự phát triển của thị trường
tiền tệ.
Ngoài việc sử dụng các công cụ khác nhằm can thiệp vào thị trường tiền tệ, ngân hàng nhà
nước còn sử dụng nghiệp vụ thị trường mở như là một biện pháp hữu hiệu trong việc can
thiệp vào thị trường tiền tệ .Việc sử dụng nghiệp vụ thị trường mở cho phép ngân hàng nhà
nước chủ động trong việc điều hòa khối cung tiền tệ ,từ đó có thể điều tiết sức mua của
đồng tiền bản tệ trong từng giai đoạn nhất định và đáp ứng các yêu cầu khách quan của
nền kinh tế.
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ đặc thù của Ngân Hàng Nhà Nước. Theo đó ngân hàng
nhà nước tiến hành mua ,bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ như tín phiếu
,trái phiếu và các giấy tờ có giá khác nhằm thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
Khi sử dụng biện pháp nghiệp vụ thị trường mở trong điều kiện nền kinh tế lạm phát nghĩa
là sức mua của đồng bản tệ bị giảm sút cùng sự tăng giá của giá cả hàng hóa ,dịch vụ trên
thị trường dẫn dến sản xuất lưu thông bị đình đốn thì nguyên tắc xử lí tình trạng này là
ngân hàng nhà nước phải sử dụng các biện pháp giảm lượng tiền tệ trong lưu thông .Các
giải pháp làm cho thị trường tiền tệ trong lưu thông cân đối cung cầu với nhau. Để đạt được
mục đích này Ngân hàng nhà nước cần sử dụng các công cụ linh hoạt và nghiệp vụ thị
trường mở sẽ là một trong những công cụ được áp dụng. Ngân hàng nhà nước sẽ sử dụng cơ
chế hợp đồng để bán ra các loại giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ như tín phiếu
,trái phiếu ,giấy tờ có giá khác mà ngân hàng nhà nước đang sở hữu để làm giảm bớt lượng
tiền từ lưu thông về, nhờ thế sức mua của đồng bản tệ được nâng cao.
Ngược lại trong tình trạng nền kinh tế bị giảm phát (hay thiểu phát) nghĩa là phải tăng cung
tiền ra lưu thông ngân hàng nhà nước sẽ chủ động mua vào các giấy tờ có giá hay ngoại hối
trên thị trường tiền tệ hoặc thị trường ngoại hối trong nước bằng tiền dự trữ phát hành.Việc
này có tác dụng đưa một lượng tiền mới vào lưu thông ,làm thay đổi tỉ giá đồng nội tệ với
ngoại tệ theo xu hương đồng nội tệ giảm giá và đồng ngoại tệ tăng giá.
Thực tiễn điều hành NVTTM thời gian gần đây cho thấy, NHNN đã giúp các NHTM gia tăng
lượng vốn khả dụng thông qua việc điều hành thị trường mở theo hướng chủ yếu là chào
mua giấy tờ có giá với kỳ hạn 7 ngày và 28 ngày. Lãi suất qua kênh này cũng được giảm
lượng tiền lớn trong lưu thông. Chính vì vậy, những hoạt động của hệ thống ngân hàng và
các tổ chức tín dụng có liên quan trực tiếp tới thị trường tiền tệ.
2. Hoạt động tái cấp vốn
Cơ sở pháp lí cho hoạt động tái cấp vốn của ngân hàng được được quy định tại khoản 2 điều
11 Luật NHNN 2010, trong đó NHNN quy định và thực hiện việc tái cấp vốn cho các tổ chức
tín dụng theo 3 hình thức: cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá, chiết khấu giấy
tờ có giá và các hình thức khác.
Như vậy hoạt động tái cấp vốn diễn ra trong hoạt động ngân hàng do NHNN thực hiện và
quy định cụ thể. Tức là ngân hàng sẽ quy định khi thực hiện hoạt động tái cấp vốn, các tổ
chức tín dụng phải tiến hành như thế nào, mức lãi suất là bao nhiêu…. Dựa vào sự biến
động của thị trường tiền tệ, NHNN sẽ quyết định tăng cường thực hiện hoạt động tái cấp vốn
hay hạn chế hoạt động này nhằm kiểm soát thị trường tiền tệ trong nước.
3. Hoạt động quy định lãi suất
Cơ sở pháp lí cho hoạt động này là điều 12 luật NHNN 2010. Theo đó thì lãi suất tái cấp vốn,
lãi suất lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác do NHNN quy định để điều hành chính sách
tiền tệ. Và khi thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường thì ngân hàng nhà nước cũng tham
gia vào cơ chế điều hành áp dụng lãi suất trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau
và với khách hàng cùng với các quan hệ tín dụng khác.
Khi thị trường tiền tệ hoạt động bình thường thì sự can thiệp can thiệp của NHNN chỉ dừng
lại ở việc quy định chung cho tổ chức tín dụng và hệ thống ngân hàng tiến hành. Chỉ khi có
những diễn biến bất thường xảy ra trên thị trường tiền tệ thì sự can thiệp của ngân hàng
nhà nước mới thực sự rõ nét thông qua việc quyết định đẩy tiền ra lưu thông hay hút tiền từ
lưu thông về.
4. Hoạt động quy định tỉ giá hối đoái
Cơ sở pháp lí của hoạt động này được quy định tại điều 13 Luật NHNN 2010. Sự can thiệp
của NHNN trong hoạt động này là điều tất yếu bởi lẽ: ngân hàng tham gia quản lí thị trường
tiền tệ, và ở thị trường tiện tệ không chỉ có sự lưu thông của nội tệ ( đồng Việt Nam ) mà
còn rất nhiều ngoại tệ khác.
Ngân hàng Trung ương công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng. Do đó tỷ giá đồng Việt Nam được hình thành trên cơ sở giao dịch trên thị trường và
Hiểu Lan
Trường Đào tạo và PTNNL
4. Ngân hàng nhà nước Việt Nam - The State Bank of VietNam