1
CHƯƠNG 1
SỰ CẦN THIẾT HOẠT ĐỘNG THANH TRA CỦA NGÂN HÀNG
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH, CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI
1.1. Sự hình thành và phát triển của Ngân hàng liên doanh,
Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài
1.1.1. Sự phát triển của hệ thống Ngân hàng và hoạt động quản lý
Nhà nước đối với các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Sự phát triển của hệ thống Ngân hàng trên thế giới gắn liền với sự phát
triển của trình độ sản xuất và tiến bộ của xã hội loài người. Đến những năm
cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, các Ngân hàng thương mại trên thế giới nhất là ở
Mỹ và các nước Tây Âu đã phát triển mạnh, cùng giai đoạn lịch sử đó đã xuất
hiện ngân hàng phát hành - đó là Ngân hàng Trung ương làm nhiệm vụ phát
hành tiền, nhận tiền gửi và cho vay đối với các Ngân hàng thương mại. Đến
thời kỳ này, hệ thống Ngân hàng hai cấp trong nền kinh tế thị trường đã được
xác lập và phát triển thành hệ thống Ngân hàng hiện đại. Các Ngân hàng đã và
đang có những bước phát triển và hoàn thiện, thể hiện tính đa dạng và phong
phú về thể chế; sự phân hoá thành những ngân hàng lớn và nhỏ trong sự cạnh
tranh quyết liệt của cơ chế thị trường; chất lượng hoạt động nghiệp vụ không
ngừng được nâng cao trở thành công nghệ ngân hàng hiện đại như ngày nay.
Sự mở rộng về quy mô và không ngừng được nâng lên về chất lượng của
các Ngân hàng thương mại cùng với sự phát triển của hoạt động ngoại thương
và xu hướng toàn cầu hoá hoạt động ngân hàng, làm cho hoạt động của các
Ngân hàng thương mại không chỉ bị giới hạn trong mỗi quốc gia mà nó được
phát triển mở rộng sang nhiều nước khác. Lúc này, sự chu chuyển vốn từ nơi
thừa đến nơi thiếu cũng vượt ra ngoài phạm vi quốc gia và mang tính quốc tế.
2
Mặt khác, mục tiêu của các Ngân hàng thương mại là tìm kiếm lợi
nhuận, sự tìm kiếm này không chỉ ở trong nước mà còn được thực hiện cả ở
nước ngoài. Khi các Ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động của mình ra
Ngân hàng. Điều này được quy định trong Luật các Tổ chức tín dụng, đó là:
"Các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng phải chịu sự
thanh tra của Thanh tra Ngân hàng theo quy định của pháp luật " [5].
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ và là Ngân
hàng Trung ương của nước ta, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ
và hoạt động ngân hàng, là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ
chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Thực hiện chức
năng quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước bao gồm:
" - Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
của Nhà nước;
- Xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia để Chính phủ xem xét trình
Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện chính sách này; xây dựng chiến lược
phát triển hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng Việt Nam;
- Xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về tiền tệ và hoạt
động ngân hàng; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt
động ngân hàng theo thẩm quyền;
- Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng,
trừ trường hợp do Thủ tướng Chính phủ quyết định; cấp, thu hồi giấy phép hoạt
động ngân hàng của các tổ chức khác; quyết định giải thể, chấp thuận chia,
tách, hợp nhất, sát nhập các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật;
- Kiểm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng; kiểm soát tín dụng; xử lý các
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo thẩm
quyền;
- Quản lý việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp theo quy
định của Chính phủ;
- Chủ trì lập và theo dõi kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế;
4
- Quản lý hoạt động ngoại hối và quản lý hoạt động kinh doanh vàng;
- Ký kết, tham gia các điều ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân
hàng theo quy định của pháp luật;
nước ngoài đầu tiên được Nhà nước ta cấp giấy phép đặt văn phòng đại diện.
Đến năm 1990, Ngân hàng nước ngoài đầu tiên được cấp giấy phép hoạt động
tại Việt Nam dưới hình thức liên doanh theo Luật đầu tư nước ngoài.
Từ khi Ngân hàng nước ngoài đầu tiên được cấp giấy phép hoạt động tại
nước ta năm 1990, hiện nay (tháng 12/2006) trên đất nước ta đã có 6 Ngân hàng
liên doanh, 37 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 60 văn phòng đại diện của
Tổ chức Tín dụng nước ngoài đang hoạt động cùng với các Tổ chức Tín dụng
trong nước càng làm cho hoạt động tài chính - tiền tệ nước ta phong phú, đa
dạng và sôi động hơn.
1.1.3. Những đặc điểm chủ yếu của Ngân hàng liên doanh,
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại nước ta
Theo Luật "Các Tổ chức Tín dụng" được Quốc hội nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 15/6/2004,
theo khoản 4, Điều 20 "Tổ chức Tín dụng nước ngoài là tổ chức tín dụng được
thành lập theo luật pháp nước ngoài". Tại Chương VII, Luật này về "Tổ chức
tín dụng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài tại
Việt Nam" quy định hình thức hoạt động của Tổ chức tín dụng nước ngoài
(Điều 105) gồm:
- Tổ chức tín dụng liên doanh;
- Tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài;
- Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
6
- Tổ chức tín dụng nước ngoài được đặt văn phòng đại diện tại Việt
Nam. Văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài không được thực
hiện các hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.
Với những quy định trong Luật "Các tổ chức tín dụng" trên đây và Luật
"Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam", đặc điểm của Ngân hàng liên doanh,
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam là:
+ Được thành lập theo luật pháp nước ngoài;
+ Đối với Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam là doanh
199
3
199
5
1997 1999 2001 2004 2006
1 Miền Bắc 0 5 9 13 14 16 20 21
2 Miền Nam 1 7 13 15 16 18 23 25
(Nguồn: Báo cáo Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 1990-2006)
+ Trong quá trình hoạt động tại Việt Nam, các Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài vừa phải tuân thủ luật pháp, quy chế của Việt
Nam; đồng thời phải tuân thủ luật pháp của nước nguyên xứ. Như vậy, nó bị
điều chỉnh bởi hai hệ thống pháp luật.
+ Hoạt động của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài không chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ, mà hoạt động của nó có quan
hệ với nhiều nước (hiện tại là quan hệ vay, gửi tiền và thanh toán; trong tương
lai sẽ còn được mở rộng hơn khi hoạt động của thị trường chứng khoán phát
triển và mở rộng).
8
1.2. Sự cần thiết của hoạt động thanh tra của Thanh tra Ngân
hàng Nhà nước đối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân
hàng nước ngoài
a- Những ảnh hưởng từ hoạt động của các Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài đối với Việt Nam hiện nay
Như trên đã đánh giá, hoạt động của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài ở nước ta cùng các ngân hàng trong nước đã làm cho
hoạt động của thị trường tài chính tiền tệ nước ta phong phú, đa dạng hơn. Mặt
khác, hoạt động của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
cũng có những ảnh hưởng rất lớn đối với các hoạt động kinh tế nói chung và
các ngân hàng của Việt Nam nói riêng, đó là:
ồ ạt. Đây là việc đảm bảo niềm tin, là tài sản vô cùng quý giá đối với mỗi ngân
hàng nước ngoài trong cơ chế thị trường. Bởi vì một khi niềm tin này bị giảm
sút, thì năng lực thu hút vốn của ngân hàng nước ngoài này bị giảm sút, do đó
sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh, thậm chí có thể mất khả năng thanh toán và
dẫn đến phá sản.
Biện pháp đảm bảo để thoả mãn vấn đề này là phải quản lý tài sản ở
trạng thái động trong tổng số tiền dự trữ của mỗi đơn vị, nghĩa là làm sao để
mỗi ngân hàng nước ngoài luôn có một lượng vốn có thể đáp ứng được khả
năng chi trả cho người gửi tiền. Yêu cầu của việc quản lý này là sao cho ngân
hàng nước ngoài luôn luôn đảm bảo khả năng chi trả, nhưng lại không để lãng
phí vốn, nghĩa là giảm thấp tối đa rủi ro trong sử dụng vốn vào kinh doanh.
Việc đảm bảo khả năng chi trả của một ngân hàng nước ngoài không chỉ đơn
thuần là đề phòng việc rút tiền ồ ạt của khách hàng và giữ niềm tin với người
10
gửi tiền, mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tài chính, đến thu nhập
và dẫn đến thua lỗ, phá sản của ngân hàng nước ngoài.
Nếu một ngân hàng nước ngoài quản lý tài sản không đủ mức cần thiết,
thì để loại bỏ tình trạng thiếu hụt khả năng chi trả, ngân hàng nước ngoài đó có
thể thực hiện nhiều biện pháp khác như: có thể giảm số tiền cho vay tương ứng,
hoặc phải đôn đốc thu về một khoản vay chưa đến hạn; cũng có thể bán đi một
số tài sản mà mình đang nắm giữ (như trái phiếu, tín phiếu v.v...) và như vậy,
ngân hàng nước ngoài phải chịu phí tổn do những phương tiện mình đang quản
lý ở tình trạng kém động, khi đó rủi ro kinh doanh xảy ra. Một biện pháp khác
là ngân hàng nước ngoài phải vay tái chiết khấu từ Ngân hàng Trung ương;
trong nghiệp vụ này, ngân hàng nước ngoài phải chịu phí tổn cao hơn, đó là lãi
suất tái chiết khấu. Nếu trường hợp này xảy ra nhiều lần thì Ngân hàng Trung
ương phải có biện pháp "khép cửa sổ chiết khấu" lại; và khi đó, ngân hàng nước
ngoài phải có biện pháp đối phó với tình trạng vỡ nợ của mình. Một biện pháp
khác là vay tiền các ngân hàng thương mại khác, thậm chí từ các tổ chức kinh
tế đang có vốn tạm thời nhàn rỗi; nhưng việc này không phải lúc nào cũng dễ
hồi lại một cách tốt nhất;
+ Vốn cho vay của các ngân hàng luôn thuộc quyền sử dụng của khách
hàng, nghĩa là nó nằm trong tay khách hàng và do khách hàng quản lý, sử dụng;
chỉ khi nào thu hồi cả gốc và lãi, kết thúc hoạt động của tài khoản cho vay hoặc
kết thúc một cam kết về thanh toán, chuyển tiền .v.v... thì hoàn thành chu kỳ
kinh doanh, nên rất khó tính hiệu quả. Do đó yêu cầu về chế độ hạch toán và tài
chính phải rõ ràng, nghiêm túc và thuận lợi.
+ Độ rủi ro cao và khả năng mất vốn luôn có thể xảy ra; việc này phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố chất lượng hoạt động kinh doanh của
khách hàng là rất quan trọng. Do đó mối quan hệ khăng khít giữa ngân hàng với
12
khách hàng vay vốn là vấn đề cần quan tâm thường xuyên để tránh rủi ro trong
cho vay.
Từ những vấn đề trên cho thấy quan hệ với khách hàng và tiêu thụ hàng
hoá của ngân hàng không giống với các ngành kinh doanh khác.
Các ngân hàng nước ngoài thu lợi nhuận chủ yếu từ nghiệp vụ cho vay.
Ở Mỹ, 67% tài sản của các Ngân hàng là ở nghiệp vụ cho vay và trong những
năm gần đây tạo ra hơn 60% thu nhập của các Ngân hàng. Đối với nước ta,
nghiệp vụ cho vay của các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài cũng chiếm tỷ trọng rất lớn (khoảng 60% tổng tài sản) và tạo ra nguồn
thu nhập chủ yếu cho các tổ chức tín dụng với tỷ trọng hơn 70% tổng thu nhập
(số liệu báo cáo của một số Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài có tổng tài sản trên 100 triệu USD năm 2003, 2004, 2005). Năm 1998,
1999, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, hoạt động cho vay của một số
ngân hàng có giảm và chuyển sang đầu tư bằng cách gửi tiền ở các ngân hàng
khác, làm cho tỷ trọng dư nợ cho vay và thu lãi từ nghiệp vụ cho vay có bị giảm
so với các năm trước.
Trong nghiệp vụ cho vay thì việc thu thập thông tin đối với khách hàng
vay là quan trọng nhất, phải thu thập thông tin từ nhiều nguồn như: qua các tài
liệu của người vay cung cấp, qua các thông tin phòng ngừa rủi ro (tình hình tài
ngoài, hoạt động của nó phải tuân theo các quy định của luật pháp và phải phù
hợp với đường lối phát triển và xây dựng nền kinh tế thị trường có sự điều tiết
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Sự cạnh tranh của
các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài với các ngân hàng
thương mại trong nước phải thể hiện sự lành mạnh, góp phần thúc đẩy sự phát
14
triển của các tổ chức tín dụng trong nước. Hoạt động của nó cũng phải an toàn
để đảm bảo sự an toàn về tài sản cho người gửi tiền. Do đó, vấn đề đặt ra cho
Ngân hàng Nhà nước là phải có biện pháp và thực hiện giám sát, thanh tra đối
với hoạt động của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại
Việt Nam để đạt được những mục tiêu trên.
Tóm lại, quản lý các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài thông qua hoạt động giám sát, thanh tra của ngân hàng Nhà nước là việc
làm rất cần thiết. Nó không chỉ làm cho các ngân hàng này luôn luôn trong tình
trạng vững vàng, ổn định và có xu thế phát triển, tạo được niềm tin cho những
người gửi tiền ở ngân hàng mình; đồng thời tuân thủ đầy đủ, nghiêm túc quy
định của luật pháp. Mà quan trọng hơn là làm cho các ngân hàng này hoạt động
theo định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng
giữa các ngân hàng trong nước, kích thích sự phát triển của hệ thống tài chính
-tiền tệ nói riêng và nền kinh tế nói chung.
1.3. Căn cứ pháp lý và các phương pháp thanh tra, giám sát Ngân
hàng liên doanh và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
1.3.1. Căn cứ pháp lý để thanh tra, giám sát Ngân hàng liên doanh,
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
Thanh tra và Giám sát đối với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân
hàng nước ngoài là một trong những hoạt động quan trọng của Ngân hàng Nhà
nước để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân
hàng đối với những ngân hàng này. Căn cứ pháp lý để thanh tra, giám sát Ngân
hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài trước hết là Luật Đầu tư
nước ngoài quy định về hình thức đầu tư, biện pháp bảo đảm đầu tư, quyền và
các giấy phép mở chi nhánh của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài không
được huy động tiền gửi tiết kiệm .v.v...
16
1.3.2. Phương pháp thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối
với Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
Các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
là các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật
Các tổ chức tín dụng, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các luật khác có
liên quan. Thực hiện quản lý Nhà nước đối với các tổ chức này, Ngân hàng Nhà
nước sử dụng nhiều cơ quan chức năng của mình, trong đó có Thanh tra Ngân
hàng. Đối với Thanh tra Ngân hàng, việc thực hiện quản lý đối với các Ngân
hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam cũng sử dụng
hai phương thức chủ yếu là giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ đã nêu ở trên.
Hai phương thức này được thực hiện tập trung bởi 2 phòng (bộ phận), phòng
giám sát phân tích (thực hiện phương thức giám sát từ xa) và phòng thanh tra
ngân hàng nước ngoài (thực hiện thanh tra tại chỗ). Tuy nhiên do đặc thù của
Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, nên phương thức
giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ đối với những tổ chức này cũng có những
điểm khác đối với việc giám sát thanh tra các ngân hàng thương mại trong
nước.
a- Phương thức giám sát từ xa
Giám sát từ xa (hay thanh tra trên các báo cáo) là việc Ngân hàng Nhà
nước tổ chức phân tích, đánh giá tình hình của TCTD dựa trên cơ sở các bảng
cân đối kế toán, các chỉ tiêu thống kê định kỳ do TCTD gửi đến Ngân hàng Nhà
nước theo quy định, trên cơ sở đó giúp cho Ngân hàng nhà nước có được những
thông tin cần thiết về hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của TCTD
trong khi chưa tiến hành được các cuộc thanh tra tại chỗ. Giám sát từ xa phục
vụ việc phát hiện nhanh và định kỳ những vấn đề cơ bản cần quan tâm để có
những cảnh báo cho TCTD những vấn đề cần thiết hoặc tiến hành thanh tra tại
chỗ.
18
Nếu số vốn Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam đầu tư ra
nước ngoài lớn, chúng ta cần thu nhập thêm thông tin về những Ngân hàng,
Công ty ở nước ngoài đang sử dụng vốn của Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
tại Việt Nam để có những kiến nghị phù hợp, nhằm đảm bảo an toàn cho Ngân
hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
Trong mỗi chỉ tiêu giám sát đều được đối chiếu, đánh giá và so sánh với
các giới hạn được Ngân hàng Nhà nước quy định cho Ngân hàng liên doanh,
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại các quy chế liên doanh.
Kết quả giám sát được báo cáo cho ban lãnh đạo và gửi cho phòng thanh
tra các Ngân hàng nước ngoài và Ngân hàng liên doanh để khai thác, phục vụ
hoạt động thanh tra tại chỗ.
Nội dung giám sát từ xa đối với các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài được tiến hành như sau:
Một là, Tiến hành phân tổ cơ cấu tài sản Nợ và tài sản Có
- Về cơ cấu tài sản Nợ: cơ cấu tài sản Nợ có chiều hướng tăng trưởng là
điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên việc đánh giá cơ cấu tài sản Nợ cần chú ý đến
các vấn đề như: vốn huy động thị trường, khả năng huy động vốn, uy tín của
các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên thị trường,
kiểm tra mối quan hệ giữa vốn và việc sử dụng vốn như giới hạn vốn ngắn hạn
để cho vay trung, dài hạn theo quy định.
- Đánh giá cơ cấu tài sản Có: là việc đánh giá những tài sản đem lại lợi
nhuận trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài, gồm: dư nợ cho vay có khả năng thu được lãi; tiền gửi ở
các ngân hàng khác; các khoản hùn vốn liên doanh; mua cổ phần…
- Giám sát đối với các khoản tín dụng, bảo lãnh lớn phát sinh trong 15
ngày có giá trị từ 5% vốn tự có của các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài trở lên.
19
Xem xét phân tích đánh giá các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh ngân
hàng nước ngoài một cách tổng thể dựa trên các chỉ số tài chính quan trọng; xác
định các Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo nhóm,
theo giá trị tài sản…
b- Phương thức thanh tra tại chỗ
Thanh tra tại chỗ là phương pháp thanh tra truyền thống, là việc thanh tra
được tổ chức tại nơi làm việc của đối tượng thanh tra và tại các tổ chức kinh tế,
cá nhân là khách hàng của ngân hàng trên cơ sở kiểm tra, xem xét các văn bản,
thông tư chỉ đạo, các chứng từ, tài liệu, sổ sách, hợp đồng… có liên quan đến
hoạt động huy động vốn, sử dụng vốn và công tác kế toán tài chính của đối
tượng được thanh tra.
Đối với các Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
việc tiến hành thanh tra tại chỗ về cơ bản là giống thanh tra tại chỗ đối với các
ngân hàng thương mại trong nước. Tuy nhiên do các Ngân hàng liên doanh, Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài có một số nét đặc thù (nêu tại điểm b phần 1.1.3
chương I), nên việc tiến hành thanh tra có phần khác với các ngân hàng thương
mại trong nước, nó được thể hiện:
+ Đánh giá việc tuân thủ luật pháp của Việt Nam, nhưng đồng thời cũng
xem xét, đánh giá việc tuân thủ những quy định của ngân hàng mẹ và luật pháp
của nước nguyên xứ.
+ Đánh giá mức độ an toàn đối với tài sản hoạt động tại Việt Nam và đặc
biệt là những tài sản đưa ra đầu tư ở nước ngoài.
+ Việc thu thập thông tin về ngân hàng khi tiến hành thanh tra trực tiếp
trên phạm vi rộng và phức tạp, nó không chỉ những thông tin về bản thân ngân
hàng nước ngoài tại Việt Nam, mà cả những thông tin về ngân hàng mẹ, các
ngân hàng khác ở các nước có quan hệ với ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
21
+ Phải có mối quan hệ chặt chẽ với Thanh tra Ngân hàng Trung ương của
các quốc gia có chi nhánh ngân hàng hoạt động tại Việt Nam để xử lý những
vấn đề liên quan đến ngân hàng mẹ của Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong một thời gian nhất định (thường
là 1 tháng); ngoài ra còn tổ chức các cuộc thanh tra đột xuất với thời gian ngắn
hơn.
c- Mối quan hệ giữa phương thức giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ
Thông qua các file cân đối kế toán hàng tháng, các ngân hàng thương
mại gửi tới ngân hàng Nhà nước, phòng phân tích giám sát tiến hành phân tích,
đánh giá đối với từng ngân hàng thương mại (trong đó có Ngân hàng liên
doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài). Đối với những ngân hàng thương
mại có các thông tin sai sót, có các chi tiết nghi vấn trong báo cáo, có những
vấn đề vi phạm, cán bộ phân tích, giám sát nhắc nhở, chấn chỉnh hoặc yêu cầu
ngân hàng thương mại phải giải trình nếu có thông tin nghi vấn, chưa rõ ràng.
Trong các trường hợp cần thiết, cán bộ phân tích, giám sát thông báo cho bộ
phận thanh tra trực tiếp các ngân hàng thương mại để tổ chức thanh tra tại chỗ
đột xuất các ngân hàng thương mại này. Kết quả phân tích giám sát được báo
cáo ban lãnh đạo Thanh tra và ban lãnh đạo ngân hàng Nhà nước để ra các
quyết định quản lý kịp thời. Đồng thời, kết quả phân tích giám sát được chuyển
tới phòng thanh tra trực tiếp các ngân hàng thương mại để phục vụ cho việc
thanh tra tại chỗ.
23
Mặt khác, kết quả thanh tra tại chỗ là sự kiểm tra tính chính xác đối với
các báo cáo giám sát mà các ngân hàng thương mại gửi tới Thanh tra Ngân
hàng.
Mục tiêu và phương thức phối hợp giữa giám sát từ xa và thanh tra tại
chỗ về căn bản được tiến hành như trên. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, do
nhiều nguyên nhân khác nhau nên giữa hai bộ phận này chưa có sự phối hợp
chặt chẽ với nhau. Đôi khi các thông tin của bộ phận giám sát cung cấp chỉ có
giá trị tham khảo và các kết quả thanh tra tại chỗ không được phản hồi lại cho
giám sát từ xa. Bên cạnh đó là việc nhìn nhận chưa đúng đắn về tầm quan trọng
của giám sát từ xa trong hoạt động của Thanh tra Ngân hàng.
Các ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động theo lụât pháp
đồng bộ, chưa chặt chẽ trong các văn bản quản lý để điều chỉnh, bổ sung sao
cho các quy định trong văn bản quản l ý của Nhà nước vừa chặt chẽ, đồng bộ
để việc quản lý đối với các ngân hàng tốt hơn.
+ Thông qua giám sát, thanh tra để phát hiện những ngân hàng vi phạm
các quy định của Nhà nước, chấn chỉnh kịp thời những vi phạm của các ngân
hàng, nâng cao ý thức tuân thủ luật pháp của các ngân hàng.
Hiện nay Ngân hàng Nhà nước đã tiến hành phân tích, giám sát định kỳ
hàng tháng và thanh tra định kỳ hàng năm hoạt động của các Chi nhánh ngân
hàng ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh. Kết quả giám sát, thanh tra
của Ngân hàng Nhà nước trong những năm qua đã phát hiện và chấn chỉnh kịp
thời một số vi phạm của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài như: vi phạm về
tỷ giá mua bán ngoại tệ; vi phạm về lãi suất và phí cho vay .v.v... Một số ngân
hàng vi phạm đã bị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra quyết định cảnh cáo.
25
Tóm lại, sự phát triển của hệ thống ngân hàng và hoạt động của các ngân
hàng thương mại là nhằm tìm kiếm nhiều lợi nhuận hơn đảm bảo cho sự tồn tại,
phát triển bền vững của chính các ngân hàng thương mại trong sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt của thị trường.
Với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, chuyển hoạt động của
nền kinh tế từ cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang cơ chế thị
trường (trong đó có hoạt động ngân hàng) và chính sách "mở cửa" để "hội
nhập" với kinh tế thế giới và khu vực đã tạo điều kiện để các ngân hàng nước
ngoài đầu tư vào nước ta dưới hình thức thành lập Ngân hàng liên doanh hoặc
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài với những đặc điểm riêng khác với các ngân
hàng thương mại trong nước.
Với những lý do trên đòi hỏi chúng ta phải làm tốt chức năng quản lý
Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng với việc tăng cường công tác giám
sát, thanh tra nhằm đảm bảo tính tuân thủ luật pháp và sự an toàn cho hoạt động
của Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
thông qua hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước với hai phương thức