GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
3.1. Định hướng phát triển của Ngân hàng Công thương Việt nam
3.1.1. Mục tiêu, chiến lược trong thời gian tới.
Các Ngân hàng thương mại Việt Nam đã xác định mục tiêu chiến lược đến 2010
phấn đấu trở thành những tập đoàn tài chính ngân hàng hiện đại, hoạt động đa năng,
khả năng tài chính lành mạnh, đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, cung cấp các dịch vụ
đa dạng chất lượng cao. Trên cơ sở những định hướng chung, Ngân hàng công thương
Việt Nam đã xác định mục tiêu giữ vững thế mạnh hàng đầu về huy động vốn, khai thác
tối đa tiềm năng, nguồn lực để duy trì tốc độ tăng trưởng vốn huy động bình quân hằng
năm trong giai đoạn 2006 - 2010 là 23 - 25%, nâng cao tỷ trọng vốn trung và dài hạn
trong tổng vốn huy động; tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân hằng năm trong giai
đoạn 2006 - 2010 là 22 -24%, nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng.
3.1.2. Cơ hội thách thức đối với Ngân hàng Công thương Việt Nam
Việt Nam đã gia nhập WTO và mở cửa căn bản thị trường dịch vụ Tài chính-
Ngân hàng, điều này một mặt tạo ra những cơ hội to lớn cho các NHTM, song mặt khác
cũng đem lại rất nhiều thách thức.
- Khi mở cửa ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng thì trước hết là tạo ra sức ép về
quản lý thị trường vốn trên một số lĩnh vực: (1) Đồng bản tệ sẽ lên giá, ảnh hưởng đến
tăng trưởng kinh tế; (2) Sức ép về gia tăng phương tiện thanh toán nhằm đáp ứng yêu
cầu gia tăng lượng ngoại tệ từ nước ngoài chuyển vào và sự thao túng của các nhà đầu
tư nước ngoài làm cho tỉ lệ lạm phát tăng, qua đó phải tăng cường năng lực của các cơ
quan quản lý để giảm thiểu những rủi ro của thị trường vốn (bao gồm cả thị trường tiền
tệ và TTCK).
- Sẽ tạo ra sự dịch chuyển vốn giữa ngân hàng và TTCK, nếu không có sự kiểm
soát kịp thời và hiệu quả thì sẽ dẫn đến rủi ro và nếu rủi ro lớn sẽ ảnh hưởng sự an toàn
của hệ thống ngân hàng.
- Nếu để TTCK tăng trưởng “quá nóng”, sẽ phát sinh hiện tượng “bong bóng” và
do đó yếu tố an toàn cho những nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư cá nhân và cả sự an
toàn của TTCK bị ảnh hưởng. Khi TTCK sụp đổ sẽ phải mất nhiều năm mới có thể hồi
phục, kéo theo nhiều khó khăn không chỉ cho hệ thống tài chính, ngân hàng mà cả đối
tính chuyên môn hoá cao:
Một là, Hoàn thiện quy trình đầu tư.
Trước mắt để hoạt động đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và chuyên môn hoá
cao cần hoàn thiện quy trình đầu tư, trong đó phân định rõ chức năng, quyền hạn của
Phòng đầu tư và các tổ chức có liên quan đến hoạt động đầu tư như Công ty chứng
khoán và sau này là Công ty quản lý Quỹ đầu tư chứng khoán. Trên cơ sở quy trình đầu
tư và chức năng, quyền hạn của các bộ phận mới có cơ sở đánh giá hiệu quả, tính năng
động sáng tạo trong hoạt động của từng bộ phận, bộ phận nào đã hoàn thành và hoàn
thành tốt nhiệm vụ của mình, bộ phần nào chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Quy
trình đầu tư cần cụ thể đối với từng hoạt động đầu tư, trong đó nên quy định phân cấp
uỷ quyền trong quyết định đầu tư chứng khoán nhằm đảm bảo tính nhanh nhạy, kịp thời
khi ra quyết định.
Hai là, hoàn thiện và phát triển hoạt động công ty chứng khoán
Nhanh chóng thực hiện hoàn tất cổ phần hoá Công ty Chứng khoán NHCT VN.
Việc cổ phần hoá CTCK NHCT đảm bảo nguyên tắc NHCTVN nắm giữ ít nhất 51%
vốn điều lệ của CTCK nhằm nắm quyền kiểm soát đối với hoạt động của Công ty
chứng khoán.
Với những ưu việt của mô hình hoạt động là công ty cổ phần sẽ giúp CTCK
thích ứng tốt hơn với sự cạnh tranh khi hội nhập; là biện pháp để nâng cao năng lực tài
chính; đổi mới cơ bản cơ chế quản trị điều hành, tạo động lực và nâng cao chất lượng hoạt
động của CTCK NHCT
, từ đó phát triển hoạt động đầu tư chứng khoán của CTCK nói
riêng và NHCT VN nói chung.
Song song với việc chuyển đổi mô hình tổ chức của CTCK, cần hoàn thiện mô
hình tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các phòng ban trong Công ty. Xây dựng cơ chế
phối hợp giữa các Phòng ban đảm bảo hiệu quả cao nhất. Ngoài ra cần tiến hành xây
dựng các cơ chế trả lương, ưu đãi đối với đội ngũ cán bộ nhằm có được đội ngũ cán bộ
ổn định, tinh thông nghiệp vụ.
Cần có sự phối hợp và hỗ trợ chặt chẽ giữa NHCT VN và CTCK NHCT VN
nhằm cung cấp dịch vụ thanh toán cho khách hàng một cách thuận lợi, một mặt sẽ thúc
sự phù hợp ở đây là phù hợp về điều kiện và hoàn cảnh phát triển của thị trường chứng
khoán Việt Nam, phù hợp với trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác đầu tư, phù hợp
với các trang thiết bị, máy móc và công nghệ hiện có...
Hoạt động đầu tư là một lĩnh vực kinh doanh quan trọng của NHCT, xếp thứ 2 về
quy mô dư nợ và tạo thu nhập sau kinh doanh tín dụng. Với định hướng phát triển hoạt động
đầu tư để đổi mới cơ cấu và nâng cao chất lượng danh mục tài sản có theo hướng tăng dần
tỷ trọng tài sản có rủi ro thấp, giảm dần tỷ trọng tài sản có rủi ro cao. NHCT VN từng bước
thực hiện:
Xây dựng danh mục đầu tư theo hướng tối đa hoá khả năng sinh lợi của danh mục tài
sản có với mức rủi ro chấp nhận được, hỗ trợ đắc lực nhu cầu thanh khoản bằng
những tài sản đầu tư có tính lỏng cao, là công cụ quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý rủi ro, quản lý tài sản nợ – tài sản có của ngân hàng. Xây dựng danh mục đầu
tư có cơ cấu đa dạng, khả năng sinh lợi cao, bảo đảm tính linh hoạt và gắn liền với
yêu cầu quản lý rủi ro, quản lý tài sản nợ – tài sản có của ngân hàng.
Phát triển hoạt động đầu tư với từng bước đi thích hợp. Kết hợp khai thác các sản
phẩm đầu tư truyền thống và sản phẩm đầu tư hiện đại, tiếp cận vững chắc và khai
thác có hiệu quả các sản phẩm đầu tư hiện đại, đặc biệt là các sản phẩm tài chính
phái sinh. Việc quyết định lựa chọn sản phẩm đầu tư phải phù hợp với trình độ
nghiệp vụ và năng lực quản lý kinh doanh của ngân hàng; đối với hoạt động đầu tư
trong nước, việc ứng dụng sản phẩm phải phù hợp với nhu cầu và trình độ phát triển
của thị trường tài chính - tiền tệ ở Việt Nam; bảo đảm nguyên tắc đầu tư an toàn và
hiệu quả.
Phát triển hoạt động đầu tư đi liền với đổi mới phương pháp quản lý danh mục
đầu tư bằng những kỹ thuật quản trị hiện đại và chuyên nghiệp như thông lệ
quốc tế.
NHCT VN phát triển hoạt động đầu tư trên cả thị trường trong nước và quốc tế, theo
cán bộ tuân thủ mục đích tối cao trong mỗi phương thức đầu tư. Đối với đầu tư ngân
quỹ mục tiêu thanh khoản phải được đặt lên hàng đầu, các chứng khoán được lựa chọn
đầu tư phải có khả năng chuyển đổi thành tiền trong thời gian ngắn nhất với chi phí
thấp nhất. Đối với đầu tư nắm quyền kiểm soát, mục tiêu là phải sở hữu được một
lượng chứng khoán đủ lớn để nắm quyền kiểm soát hoạt động của Công ty, thông qua
đó định hướng doanh nghiệp hoạt động theo chủ đích của mình, phục vụ cho mục tiêu
trở thành tập đoàn tài chính...
Với mục tiêu trở thành tập đoàn tài chính lớn, NHCT VN phải mở rộng hoạt
động đầu tư nắm quyền kiểm soát, có làm được điều đó NHCT VN mới có thể mở rộng
và phát triển phạm vi hoạt động của mình sang nhiều lĩnh vực. Hoạt động đầu tư nắm
quyền kiểm soát giúp NHCT VN thực hiện được mục tiêu nắm quyền kiểm soát doanh
nghiệp trong khi đó vẫn huy động và sử dụng được nguồn vốn của các đối tượng khác
tham gia trong doanh nghiệp cổ phần. Bên cạnh việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư mới
nhằm thực hiện hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát, NHCT VN thực hiện và thúc
đẩy nhanh việc cổ phần hoá các Công ty con, các liên doanh như Công ty chứng khoán,
Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản, Công ty cho thuê tài chính, Ngân hàng liên
doanh Indovina, Công ty liên doanh Bảo hiểm, Công ty Cho thuê tài chính quốc tế...
trong đó tỷ lệ sở hữu của NHCT VN trong các đơn vị này đảm bảo việc nắm quyền
kiểm soát của NHCT VN. Trước mắt thực hiện cổ phần hoá các Công ty con, bởi lẽ đối
với các Công ty con thì NHCT VN có thể chủ động trong việc quyết định mô hình tổ
chức hoạt động. Tiếp theo đàm phán với các đối tác trong liên doanh để thực hiện cổ
phần hoá các liên doanh, huy động vốn từ các đối tác, nhà đầu tư trong và ngoài nước
để nâng cao năng lực cạnh tranh và năng lực tài chính cho các đơn vị này...
Để hoàn thiện và thực hiện được hoạt động tạo lập thị trường trái phiếu đòi hỏi
bản thân lãnh đạo Ngân hàng có sự quan tâm đúng mức và đánh giá được vai trò tích
cực của hoạt động này trong hoạt động đầu tư chứng khoán nói riêng và hoạt động kinh
doanh ngân hàng nói chung, từ đó có những đầu tư thích đáng về mặt cơ sở vật chất,
con người, nguồn vốn cho hoạt động này. Hiện nay hoạt động tạo lập thị trường trái
phiếu đã được một số ngân hàng triển khai, song mới ở mức độ sơ khai. Bên cạnh
những nỗ lực của chính bản thân ngân hàng nhằm thực hiện hoạt động này đòi hỏi sự
Trong khả năng nguồn vốn của mình, NHCT VN chủ động uỷ thác đầu tư cho
các Công ty chứng khoán, Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện đầu tư
cho mình thông qua hợp đồng ủy thác đầu tư hoặc hợp đồng quản lý danh mục đầu tư.
3.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực của NHCT VN nhằm tăng cường khả
năng tham gia và đầu tư trên TTCK
3.2.2.1. Giải pháp về vốn, quy mô vốn đầu tư:
Trước hết, khai thác nguồn hiện có và phát triển các nguồn mới cho hoạt động
đầu tư, thông qua các giải pháp đối với nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động.
a. Vốn tự có:
Tăng vốn tự có đạt tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước là
điều kiện bắt buộc để đảm bảo mức an toàn tối thiểu trong hoạt động ngân hàng; là điều
kiện tăng cường đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, hiện đại hoá NHCT; là nhân
tố quyết định để NHCT VN có thể tăng quy mô tài sản nợ, tài sản có, nâng cao năng lực
thu hút và phân bổ nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế, do đó là điều kiện quan
trọng để phát triển hoạt động đầu tư chứng khoán.
Thực hiện cổ phần hoá là biện pháp tăng vốn chủ yếu, có ý nghĩa bao trùm, tạo
sự đổi mới căn bản về phương thức tăng vốn tự có trong những năm tới. Thuê tư vấn
xây dựng đề án cổ phần, xác định và đánh giá giá trị thực của NHCT VN, hoàn thành
việc cổ phần hoá NHCT VN chậm nhất trong năm 2008. Mục tiêu đến hết năm 2010,
NHCT VN đạt vốn điều lệ 13.300 tỷ đồng, trong đó Nhà nước chiếm 51%, còn lại cán
bộ công nhân viên và các cổ động khác chiếm 49%.
Bên cạnh đó, thực hiện việc đánh giá lại tài sản bao gồm tài sản cố định và
chứng khoán đầu tư, chênh lệch đánh giá lại tài sản cũng là một bộ phận được tính vào
vốn tự có của Ngân hàng. Thực tế hiện nay chênh lệch này của NHCT VN cũng ước
tính khoảng 1.000 tỷ đồng.
Tạo quỹ dự phòng chung để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được
trong quá trình phân loại tài sản có và trích dự phòng rủi ro cụ thể, hoặc để dự phòng
cho những khó khăn về tài chính của Ngân hàng phát sinh khi chất lượng tài sản bị suy
giảm, quỹ này có tác dụng tăng cường năng lực dự phòng rủi ro và bổ sung vốn tự có.
Việc phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu dài hạn đủ điều kiện được tính
thời triển khai các sản phẩm huy động vốn mới phù hợp với đặc điểm nhóm khách hàng và
thị trường mục tiêu, dựa trên nền tảng hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại.
Tập trung huy động nguồn tiền gửi của các doanh nghiệp. Mục tiêu chiến lược của
NHCT là phải huy động được nguồn tiền gửi doanh nghiệp chiếm tỷ trọng 30-35% tổng
nguồn vốn huy động.
Tiền gửi của doanh nghiệp là nguồn vốn có lãi suất đầu vào thấp và có tiềm năng rất
lớn. Theo số liệu thống kê, đến cuối năm 2006 Việt Nam có khoảng 100 nghìn doanh nghiệp
các loại, mỗi năm có khoảng 10-15 nghìn doanh nghiệp mới ra đời và hầu hết là doanh
nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Trong những năm tới số lượng doanh nghiệp còn có thể gia
tăng nhanh hơn, điều này tạo ra một khu vực thị trường hấp dẫn đối với các ngân hàng cả
trong thu hút nguồn vốn, cấp tín dụng và sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Phần lớn nguồn
vốn của các doanh nghiệp có thời hạn ngắn và thường xuyên biến động, vì vậy nếu càng thu
hút được tiền gửi của nhiều doanh nghiệp thì sẽ tạo ra độ ngưng đọng vốn lớn và hạn chế
được sự bất ổn định. Chiến lược của NHCT là cần mở rộng đối tượng khách hàng là các
doanh nghiệp và tập trung khai thác tối đa nguồn vốn của các đối tượng này.
Sản phẩm huy động vốn là tài khoản tiền gửi thanh toán, tài khoản tiền gửi ngắn hạn
với các loại kỳ hạn và phương thức trả lãi linh hoạt, phát hành chứng chỉ tiền gửi hoặc công
cụ nợ ngắn hạn có khả năng chuyển nhượng.
Nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán, tăng cường các hoạt động marketing và mở
rộng khả năng ứng dụng các dịch vụ ngân hàng khác liên kết với dịch vụ huy động vốn.
Mở rộng huy động vốn từ các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức đoàn
thể, đơn vị sự nghiệp có thu…v.v. Mục tiêu chiến lược của NHCT là huy động nguồn vốn
này chiếm 10-15% tổng nguồn vốn huy động. Các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội,
tổ chức đoàn thể, đơn vị sự nghiệp có thu,... cũng là những tổ chức có tiềm năng nguồn vốn,
lãi suất đầu vào thấp, có khả năng thu hút được nhiều. Để thu hút được nhiều nguồn vốn
này, NHCT phải có chính sách marketing, chính sách chăm sóc khách hàng thật sự chuyên
nghiệp để huy động vốn qua các loại tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn,
tài khoản tiền gửi có kỳ hạn với lãi suất linh hoạt.
Các tổ chức tài chính và tổ chức tín dụng là nguồn cung ứng vốn quan trọng. Mục
tiêu chiến lược của NHCT là thu hút nguồn vốn này chiếm tỷ trọng 15-20% tổng nguồn vốn