Các chức năng của quản lý nhà nước về kinh tế liên hệ việc vận dụng các chức này trong quản lý nhà nước về thương mại ở nước ta hiện nay - Pdf 34

CH19B-Quản trị kinh doanh(tối)

1

Nhóm 4

LỜI MỞ ĐẦU
Mỗi một quốc gia trên thế giới đều có môi trường chính trị, kinh tế và xã hội khác nhau
nên đối với mỗi nền kinh tế, nhà nước lại có các cách quản lý kinh tế đặc thù.
Muốn tìm hiểu mỗi quốc gia có cách quản lý kinh tế ra sao thì chúng ta nên tìm hiểu qua
các chức năng của quản lý nhà nước về kinh tế.
Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế chính là những đặc trưng riêng có của quyền lực
nhà nuớc trong vịêc tác động có lựa chọn vào nền kinh tế theo các mục tiêu trong từng giai
đoạn.
Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước tiến vuợt bậc trong kinh tế. Sự phát
triển vuợt bậc này chính là do sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước trong việc điều
hành nền kinh tế một cách linh hoạt, hiệu quả. Việt Nam phát triển kinh tế thị truờng định
hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế mà vai trò kinh tế nhà nuớc là chủ đạo nên các chứng
năng quản lý nhà nuớc về kinh tế cần phải có thêm cả yếu tố mềm dẻo, kết hợp đuợc cả sự
phát triển của kinh tế nhà nuớc và kinh tế tư nhân.
Trong thời kỳ hiện nay, càng tìm hiểu rõ những chức năng của quản lý nhà nước về kinh
tế, chúng ta sẽ tìm ra đuợc nhiều phuơng pháp để giúp đất nước phát triển bền vững, theo
đúng con đường mà Đảng và Nhà nuớc đã chọn. Chính vì lý do đó, nhóm em xin phép được
đi sâu vào đề tài: “ Các chức năng của quản lý nhà nước về kinh tế. Liên hệ việc vận dụng
các chức này trong quản lý nhà nước về thương mại ở nước ta hiện nay”.
Và để hiểu rõ vấn đề này chúng em đã đi sâu nghiên cứu các nội dung sau:
Phần 1: Cở sở lý thuyết về chức năng của quản lý nhà nước về kinh tế
Phần 2: Thực trạng vận dụng các chức năng trong quản lý nhà nước về thương mại ở
nước ta hiện nay
Phần 3: Phương hướng, giải pháp vận dụng hiệu quả các chức năng trong quản lý nhà
nước về thương mại ở nước ta.

kinh tế là hình thức biểu hiện phương hướng và giai đoạn tác động có chủ đích của
nhà nướ, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà nhà nước phải tiến hành trong
quá trình quản lý kinh tế đất nước.
Thực chất của chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là nhà nước tạo ra thực hiện
một cơ chế hay phương thức quản lý nền kinh tế quốc dân, đảm bảo sự phát triển
nhanh và bền vững.
1.1.2.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu chức năng quản lý nhà nước về kinh tế.
Phân tích chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là nhằm hiểu được nhà nước phải
làm những công việc gì trong lĩnh vực kinh tế, để thúc đẩy kinh tế quốc dân phát triển.
Những công việc đó được thực hiện bởi bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế. Do đó,
nhận thức rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là cơ sở khách quan để tổ chức bộ
máy quản lý nhà nước về kinh tế, từ chức năng mà sắp xếp bộ máy và bố trí biên chế
về con người.
Mặt khác, cần nhận thức rằng, chức năng quản lý nhà nước về nền kinh tế là những
nhiệm vụ tổng quát mà nhà nước phải thực hiện trong từng thời gian nhất định, do yêu
cầu của nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội và do tình hình, điều kiện cụ thể của từng
giai đoạn lịch sử quy định. Do đó, nhận thức về chức năng quản lý nhà nước về kinh
tế cũng không cố định mà luôn biến động và phát triền. Tuy nhiên, các chức năng cơ
bản, chủ yếu thường ít thay đổi, mà thay thôi chủ yếu là các nhiệm vụ quản lý nhà
nước về kinh tế - các công việc cụ thể hóa chức năng quản lý trong không gian và thời
gian nhất định.
Quản lý nhà nước về kinh tế cần được hiểu là chức năng quản lý toàn diện không
chỉ chức năng về hành chính, pháp chế, cũng không phải “ kinh tế ” như doanh


nghiệp. Nhà nước quản lý vĩ mô nền kinh tế tức là lựa chọn phương án phát triền nền
kinh tế - xã hội tối ưu, can thiệp, điều khiển mỗi khi nên kinh tế đi chệch ra ngoài
phương án đã lưa chọn do bị ảnh hưởng của các biến động về kinh tế chính trị xã hội
trong và ngoài nước …

Xác định mục tiêu là nội dung quan trọng của chức năng định hướng, vì mục tiêu
là khởi đầu của quản lý, nó chi phối toàn bộ hoạt động quản lý. Xác định mục tiêu
đúng còn là cơ sở để xác lập các nguyên tắc và bộ máy quản lý.
- Xác định chiến lược phát triển kinh tế là xác định hệ thống các đường lối, các nhiệm
lớn và các biện pháp chủ yếu nhằm đưa nền kinh tế đất nước đạt đến mục tiêu đã định.
Nội dung của chiến lược phát triển kinh tế đất nước bao gồm:
+ Các đường lối tổng quát, các chủ trương mà nhà nước sẽ thực thi trong một thời gian
đủ dài.
+ Các mục tiêu dài hạn cơ bản của đất nước.
+ Các giải pháp chủ yếu để thu hút và phân bổ các nguồn lực, các tiềm năng trong và
ngoài nước nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.
• Lập kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội


Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là tập hợp các mục tiêu ở cấp quốc gia hay khu
vực và các giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu đó. Nhà nước phải xây dựng các kế
hoạch phát triển quốc gia dài hạn và trung hạn. Kế hoạch dài hạn kéo dài từ 10 đến 20
năm hoặc lâu hơn, kế hoạch trung hạn kéo dài trong 5 năm, với những mục tiêu và
giải pháp cụ thể hơn. Các kế hoạch trung hạn được cụ thể hóa thành kế hoạch kế
hoạch hàng năm, kết hợp với hệ thống ngân sách chính phủ và có tính đến viện trợ từ
bên ngoài đã được phê duyệt, để triển khai thực hiện.
Chương trình là tập hợp các mục tiêu, các chính sách, các thủ tục, các quy tắc, các
nhiệm vụ, các bước phải tiến hành, các nguồn lực cần sử dụng và các yếu tố cần thiết
khác, để thực hiện một ý đồ lớn, một mục tiêu nhất định về phát triển kinh tế đất nước,
vùng và ngành.
Chương trình có thể lớn và dài hạn như chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, hay trung hạn (2 đến 3 năm) như chương trình đào tạo đội ngũ cán bộ, quản
lý hoặc cũng có chương trình nhỏ, ngắn hạn dưới một năm.
Việc thành lập các chương trình nhằm trình tự hóa các hoạt động cần thiết để thực
hiện các mục tiêu đề ra. Chương trình còn quyết định sự ưu tiên các hoạt động, nhờ


Với chức năng điều hành, nhà nước phối hợp với hoạt động giữa các cơ quan, đơn
vị trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo những mối quan hệ cần thiết trong quá trình
thực hiện những mục tiêu kế hoạch của đất nước.
• Kiểm tra, kiểm soát nền kinh tế.
Chức năng này nhằm kịp thời phát hiện những sai sót, ách tắc, đồng thời phát hiện
những cơ hội, vận hội tốt trong quá trình thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội của đất
nước, dự đúng định hướng kế hoạch nhà nước đã đề ra.
• Điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế
Điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế là những tác động bổ sung của nhà nước đến
nền kinh tế, nhằm sửa chữa những sai sót tận dụng các thời cơ để phát triển kinh tế.
Điều chỉnh về kinh tế của nhà nước được thực hiện thông qua các công cụ và chính
sách quản lý kinh tế, như luật pháp, kế hoạch, chính sách, các đòn bẩy kinh tế…
1.2.Những chức năng cơ bản chức năng quản lý nhà nước về kinh tế.
Trong điều kiện đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, chức năng quản lý kinh tế của nhà nước không những suy giảm mà ngày
càng được chú trọng. Với mục tiêu tổng quát của việc xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng xhcn ở nước ta chính là thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,
công bằng, văn minh”, quản lý nhà nước về kinh tế trong giai đoạn này cũng phải
hướng tới mục tiêu đó mà cụ thể là các chức năng cơ bản như sau:
1.2.1.
Chức năng tạo môi trường và điều kiện thuận lợi sự phát triển nền kinh tế.
Môi trường cho sự phát triển kinh tế là tổng thể các yếu tố và điều kiện khách quan,
chủ quan, bên ngoài, bên trong, có mối liên hệ mật thiết với nhau ảnh hưởng trực tiếp
hay gián tiếp đến việc phát triển kinh tế và quyết định đến hiệu quả kinh tế.
Một môi trường thuận lợi sẽ là điểm tựa chắc chắn cho sự phát triển của nền kinh tế
nói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là những điều kiện
cần thiết để các chủ thể kinh tế yên tâm bỏ vốn vào kinh doanh và kinh doanh thuận
lợi, ổn định, hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế đất nước và ngược lại thì sẽ dẫn tới
kìm hãm, cản trở, làm cho nền kinh tế khủng hoảng, trì trệ.

đó thường chạy theo thị trường một cách bị động, dễ xảy ra thua lỗ, thất bại và đổ vỡ,
gây thiệt hại chung cho nền kinh tế. Nhà nước định hướng nền kinh tế phát triển theo
quỹ đạo và mục tiêu đã được đảng định ra và hướng dẫn các nhà kinh doanh, các tổ
chức kinh tế hoạt động đúng định hướng, đảm bảo ổn định, hiệu quả cho từng doanh
nghiệp và toàn thể nền kinh tế. Nhà nước định hướng và hướng dẫn thông qua kế
hoạch, chính sách và các công cụ quản lý vĩ mô, đồng thời sử dụng có trọng điểm các
nguồn tài chính tập trung và lực lượng dự trữ, phát triển vai trò chủ đạo của kinh tế
nhà nước, khai thông các quan hệ bang giao, làm chỗ dựa cho các tổ chức và cá nhân
trong hoạt động kinh tế trong nước và nước ngoài. Điều cần chú ý ở đây là, trong điều
kiện kinh tế thị trường, nhà nước chủ yếu sử dụng phương pháp tác động hướng dẫn
thay cho can thiệp trực tiếp như trước đây, phương pháp này vừa đảm bảo tính tự chủ
sáng tạo của các cơ sở kinh tế vừa đảm bảo tính tự chủ sáng tạo của các cơ sở kinh tế
vừa đảm bảo đạt mục tiêu chung, đồng thời tôn trọng các quy luật của thị trường, khai
thác tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội lớn hơn.
1.2.3.
Chức năng tổ chức
Tổ chức là một chức năng quan trọng của quản lý nhà nước về kinh tế, đặc biệt
trong thời kỳ đổi mới kinh tế. Nhà nước có nhiệm vụ sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị
kinh tế, trong đó quan trọng nhất và cấp thiết nhất là đổi mới, sắp xếp, nâng cao hiệu
quả các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức các vùng kinh tế, các khu công nghiệp, khu
chế xuất. Đây là những công việc nhằm tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý. Nhà nước còn có
trách nhiệm tổ chức lại hệ thống quản lý. Sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước về
kinh tế từ trung ương đến cơ sở, đổi mới thể chế và thủ tục hành chính, đào tạo và đào
tạo lại, sắp xếp đội ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp,
thiết lập mối quan hệ kinh tế với các nước và các tổ chức quốc tế.
1.2.4.
Chức năng điều tiết
Nhà nước điều tiết sự hoạt động của nền kinh tế là nhà nước sử dụng quyền năng
chi phối của mình lên các hành vi kinh tế của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường,
ngăn chặn các tác động tiêu cực đến quá trình hoạt động kinh tế, ràng buộc chúng phải

cường chức năng kiểm tra, giám sát của nhà nước.
Kiểm tra giám sát ở đây có thể là kiểm tra giám sát việc thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách, kế hoạch và pháp luật của nhà nước về kinh tế; hoặc kiểm tra giám
sát việc sử dụng các nguồn lực của đất nước; hoặc có thể là kiểm tra giám sát việc xử
lý chất thải và bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái; hoặc kiểm tra giám
sát sản phẩm do các doanh nghiệp sản xuất ra; hoặc cũng có thể là kiểm tra giám sát
việc thực hiện các chức năng và việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước
trong quá trình quản lý nhà nước về kinh tế.
Từ những chức năng cơ bản và chủ yếu trên đây, nhà nước còn đề ra các nhiệm vụ
quản lý cụ thể cho từng lĩnh vực, từng cấp quản lý, từng địa phương khác nhau, xuất
phát từ tình hình và yêu cầu phát triển của từng thời kỳ. Nói chung, trong thời kỳ đổi
mới về kinh tế, nhà nước phải thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản song song và đan xen
nhau, đó là vừa đổi mới, cải cách hệ thống kinh tế và quan lý, vừa điều hành nền kinh
tế trong quá trình đổi mới, nên rất phức tạp và khó khăn. Mặt khác, nhiệm vụ quản lý
nhà nước về kinh tế hết sức đa dạng, luôn biến động do thực tế cuộc sống đặt ra, đòi
hỏi bộ máy quản lý ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực phải nhạy bén, linh hoạt, phải
dựa trên cơ sở các nguyên tắc quản lý kinh tế mà chủ động xử lý, tránh sao chép, rập
khuôn máy móc.(tạo lập khuôn khổ pháp luật về kinh tế; tạo lập môi trường thuận lợi
cho các hoạt động kinh tế; đảm bảo cơ sở hạ tầng cho phát triển; hỗ trợ sự phát triển)


2.1.

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC CHỨC NĂNG TRONG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Thực trạng vận dụng chức năng tạo môi trường và điều kiện cho các hoạt động
sản xuất kinh doanh
Sau hơn hai mươi năm kể từ đại hội đảng vi năm 1986, công cuộc đổi mới của Việt
Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, nền kinh tế Việt Nam luôn duy trì được tốc
độ tăng trưởng khá cao liên tục trong nhiều năm. Việc trở thành thành viên của tổ

hành chính đang làm trở ngại đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, những chính sách và biện pháp điều chỉnh,
sắp xếp lại các doanh nghiệp, đặc biệt là những biện pháp về quản lý tài chính của
công ty nhà nước, quản lý các nguồn vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, hay việc
chuyển các công ty nhà nước thành công ty cổ phần theo tinh thần cải cách mạnh mẽ
hơn nữa các doanh nghiệp nhà nước, ngày càng được coi trọng nhằm nâng cao tính
hiệu quả cho khu vực kinh tế quốc doanh.
Ngoại thương và hội nhập kinh tế quốc tế: với chủ trương tích cực, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế


ngày càng được mở rộng. Việt Nam là thành viên quan trọng trong asean, là thành
viên tích cực của apec, asem và nhiều tổ chức kinh tế quốc tế khác. Hợp tác kinh tế
của Việt Nam với các nền kinh tế lớn như mỹ, eu, nhật bản, nga, trung quốc, ấn độ
ngày càng được củng cố và mở rộng, Việt Nam đã ký hiệp định thương mại song
phương với mỹ, đang đàm phán hiệp định đầu tư với mỹ, hiệp định khung đối tác và
hợp tác toàn diện (PCA) với EU, hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với nhật bản.
Tháng 01 năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới
( WTO), có quan hệ với trên 220 quốc gia và vùng lãnh thổ, đánh dấu sự hội nhập
toàn diện và đầy đủ của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu.
Từ sau đổi mới, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mỗi năm tăng khoảng
20%. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự chuyển dịch tiến bộ. Trong giai đoạn 19911995, hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam gồm dầu thô, thủy sản, gạo, dệt may, cà
phê, lâm sản, cao su, lạc, hạt điều. Đến năm 2008, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là
dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, sản phẩm gỗ, điện tử, máy tính và gạo. Cơ cấu
này phản ánh xu hướng gia tăng các chủng loại mặt hàng chế biến, chế tạo, và sự giảm
đi về tỷ trọng của các mặt hàng xuất khẩu thô, chủ yếu là các mặt hàng nông, lâm, hải
sản và khoáng sản. Dù vậy, các mặt hàng xuất khẩu thô của Việt Nam đến nay vẫn còn
chiếm tỷ trọng cao, đòi hỏi sự nỗ lực hơn nữa để tăng nhanh các mặt hàng công
nghiệp xuất khẩu.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài: luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành

2.3.

nghề và giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động, góp phần phát triển kinh tế xã hội Việt Nam.
Thực trạng vận dụng chức năng định hướng và hướng dẫn phát triển kinh tế
Từ năm 1975 nước ta hoàn toàn độc lập và thống nhất, cả nước xây dựng cnxh: do
ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh diễn ra lâu dài, thiệt hại sức người sức của và nền
kinh tế lạc hậu vì thế điểm xuất phát của chúng ta là rất thấp. Trong khoảng 30 năm
qua, nhà nước ta đã có rất cố gắng trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi
phục nền kinh tế bị tàn phá, từng bước xác lập quan hệ sản xuất, xây dựng cơ sở vật
chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, thiết lập củng cố chính quyền trong cả nước.
Năm 1976, nền kinh tế vẫn trong tình trạng kém phát triển, nặng tính tự cung tự
cấp. Trang thiết bị cũng như kết cấu hạ tầng, văn hóa... Lạc hậu, mất cân đối, lệ thuộc
nhiều vào bên ngoài. Cơ chế quản lí tập trung quan liêu bao cấp để lại nhiều hậu quả
tiêu cực, khủng hoảng kinh tế xã hội diễn ra trong nhiều năm, lạm phát bùng nổ. Đời
sống nhân dân thiếu thốn, nếp sống văn hóa tinh thần và đạo đức kém lành mạnh, tệ
nạn xã hội ngày càng gia tăng.
Nguyên nhân là do nền kinh tế xhcn mang nặng thành kiến với nền kinh tế hàng
hóa và kinh tế thị trường. Mặt khác là do nước ta xây dựng cnxh theo mô hình dập
khuôn giáo điều, chủ quan duy ý chí, bộ máy quan liêu cồng kềnh, kém hiệu quả.
Những sai lầm đó đã kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển và cải cách kinh tế bị đẩy
lùi.
Đến năm 1990, các biện pháp đổi mới nền kinh tế của nhà nước được áp dụng đi
vào cuộc sống tạo chuyển biến rõ rệt làm cho nên kinh tết nước ta có nhiều khởi sắc.
Sau 10 năm đổi mới, cơ cấu nền kinh tế nước ta đã có sự chuyển đổi mạnh mẽ. Nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đẩy
lùi lạm phát, phát triển sản xuất; bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, đưa đất
nước thoát khỏi khủng hoảng.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay nhà nước ta đang thực hiện nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường, mọi hoạt động diễn ra rất phức tạp, các
thành phần kinh tế hoạt động đan xen, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa cạnh tranh, mâu

của bộ, cơ quan ngang bộ và các nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của từng bộ, cơ quan ngang bộ trong cơ cấu tổ chức chính phủ khóa
xiii đã quy định tiếp tục phân cấp quản lý về ngành, lĩnh vực giữa các bộ, cơ quan
ngang bộ với chính quyền địa phương. Về cơ bản, các quy định phân cấp quản lý nhà
nước giữa chính phủ và chính quyền địa phương đã được các địa phương thực hiện
tương đối thống nhất và có hiệu quả, nâng cao tính chủ động cho chính quyền địa
phương trong quản lý, sử dụng các nguồn lực ở địa phương, đưa nền hành chính sát
hơn với những đặc điểm kinh tế - xã hội cụ thể của địa phương, góp phần giải quyết
kịp thời và phục vụ tốt hơn các yêu cầu của tổ chức và nhân dân tại địa phương.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay là các giải pháp tăng cường phân cấp giữa chính phủ và
chính quyền địa phương, một mặt còn thiếu tính đồng bộ, chưa phân định rõ ràng, cụ
thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp chính quyền địa phương; chính
quyền địa phương các cấp chưa có đủ thẩm quyền và các điều kiện cần thiết để chủ
động, năng động trong việc thực hiện các nhiệm vụ mà địa phương có khả năng làm
được, nhưng mặt khác, một số nhiệm vụ cần quản lý tập trung, thống nhất lại được
chuyển giao cho chính quyền địa phương, làm giảm hiệu quả quản lý của nền hành
chính nhà nước. Đồng thời, sự khác nhau về mô hình tổ chức và chức năng, nhiệm vụ
giữa chính quyền thành phố với chính quyền tỉnh, chính quyền thị xã, thành phố thuộc
tỉnh với chính quyền huyện, cũng như chính quyền thị trấn, phường và chính quyền xã
chưa được làm rõ; chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tổ chức các hoạt động quản lý,
điều hành các công việc hành chính ở cơ sở, trực tiếp tổ chức việc thi hành pháp luật,
nhưng thẩm quyền và trách nhiệm chưa được xác định một cách tương xứng.
Một số vấn đề bức xúc liên quan đến phân cấp đang đặt ra là minh chứng rõ rệt:
Tình trạng các địa phương đua nhau xây dựng 20 cảng biển quốc tế, 18 khu kinh tế
biển, 30 khu kinh tế cửa khẩu, 260 khu công nghiệp, 650 cụm công nghiệp; thành lập
mới 307 trường đại học, học viện trong 10 năm, từ 2001 đến 2010, theo một số
chuyên gia kinh tế, “các địa phương được quyền tự chủ rất lớn về quy hoạch phát
triển, phân cấp đất, quyền quyết định xây dựng các cơ sở hạ tầng trong tỉnh, tuy là cần
có sự đồng ý của cấp trên”. Và “từ 2006 đến nay phần lớn dự án đầu tư công đều được
phân cấp cho ngành và địa phương, dẫn tới hệ quả là việc quyết định đầu tư công đã

sở tài nguyên môi trường, tài chính… và ủy ban nhân dân các quận, huyện, ủy ban
mặt trận tổ quốc, ban tuyên giáo thành ủy. Tuy nhiên chức năng này không phải mang
tính một chiều mà có sự tương tác giữa cấp trên và cấp dưới. Ví dụ gần đây, một số
DN phản ánh gặp khó khăn khi thực hiện quy định đưa hàng về bảo quản tại điều 27
của thông tư 128/2013/tt-btc ngày 10-9-2013 của bộ tài chính. Để tạo thuận lợi cho
DN, tổng cục hải quan đang đề xuất trình bộ tài chính tổ chức họp với các bộ quản lý
chuyên ngành để trao đổi, phối hợp giúp cơ chế kiểm tra chuyên ngành được rút ngắn.
Giải pháp mà tổng cục hải quan đưa ra là tăng cường lực lượng kiểm tra chuyên ngành
ngay tại cửa khẩu. Đồng thời, các bộ, ngành cần nghiên cứu cơ chế kiểm tra trước
thông quan. Ví dụ DN có thể lấy mẫu kiểm tra trước, hàng về cửa khẩu chỉ cần đối
chiếu. Các bộ, ngành cũng phải đảm bảo yêu cầu giám sát hàng hóa nếu nhận trách
nhiệm bàn giao từ cơ quan hải quan.
Với sự lãnh đạo của nhà nước cũng sự phối hợp của các cơ quan liên ngành, hoạt
động kinh tế, thương mại của các cá thể, tổ chức đang được kiểm soát theo nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các dự án đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn
của nước ngoài, hay của nhà nước không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn mang lại
lợi ích xã hội cao. Sự thay đổi về cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu lĩnh vực kinh tế,
đặc biệt các ngành kinh tế mũi nhọn đã tạo ra đà tăng trưởng nhanh trong những năm
gần đây. Điều này dẫn đến sự gia tăng trong tổng thu nhập quốc nội, chỉ số giá tiêu
dùng, năng lực cạnh tranh. Việc tham gia các tổ chức kinh tế như WTO, đã tạo ra
nhiều thành thức cũng như cơ hội nhằm nâng cao sự cạnh tranh của các doanh nghiệp
trong nước, tiếp cận với sự phát triển về khoa học – công nghệ của các nước khác.
Hơn thế nữa, chính sự tham gia này còn giúp Việt Nam đang dần khẳng định vị thế
trên thị trường quốc tế với lợi thế vốn có.
Tuy nhiên, sự lãnh đạo của từng ban ngành và sự phối hợp của liên ngành vẫn còn
lỏng lẻo dẫn đến nhiều chính sách, quyết định, chỉ thị chưa được thực hiện đúng cách
nên hiệu quả không cao. Điều này đã tạo nhiều lỗ hổng lớn và cũng chính là cơ hội


cho các doanh nghiệp vi phạm pháp luật. Ví dụ trong thị trường sữa, sự phối hợp của

chế "giá tối đa" trong giai đoạn này không những bảo đảm được cung - cầu phục vụ
nền kinh tế mà còn tạo ra nguồn thu ổn định cho nhà nước và doanh nghiệp.
Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực của chính sách, quyết định về các
hoạt động kinh tế, thương mại, có thể thấy những mặt hạn chế của sự can thiệp này.
Ví dụ: cơ chế giá tối đa đã bộc lộ nhiều bất cập khi thị trường xăng, dầu thế giới
biến động mạnh. Đầu những năm 2000, giá xăng, dầu thế giới thiết lập mặt bằng mới,
cao hơn nhiều so với giai đoạn trước. Do thực hiện chính sách bù giá nên ngân sách
phải bù lỗ mặt hàng này đã tăng từ 1.000 tỷ đồng (năm 2000) lên 22.000 tỷ đồng (năm
2008). Trong khoảng từ cuối năm 2008 trở lại đây, thị trường xăng dầu nước ta thường
xuyên bất ổn về giá, mà nguyên nhân là sự bất ổn về chính sách quản lý thị trường
xăng dầu.
Chính sách điều tiết giá nhà đất còn nhiêu bất cập, thể hiện: giá nhà đất thời gian
qua biểu hiện rõ nét tính đầu cơ, là giá đầu cơ, nhà nước chưa có các biện pháp hữu
hiệu để điều tiết. Giá nhà đất luôn biến động không ổn định với các cơn sốt “nóng,
lạnh” theo chiều hướng gia tăng. Mức giá nhà đất thời gian qua là rất cao và hiện nay


2.5.

-

-

vẫn giữ ở mức cao so với thu nhập của người dân. Khung giá đất của chính phủ và
bảng giá đất của UBND các tỉnh, thành phố đều thấp hơn so với giá thị trường khá
nhiều. Trên thị trường còn tồn tại 2 loại giá đất.
Thực trạng vận dụng chức năng kiểm tra giám sát.
Kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế là Nhà nước xem xét, đánh giá tình trạng tốt
xấu của các hoạt động kinh tế, và theo dõi, xét xem sự hoạt động kinh tế đươc thực thi
đúng hoặc sai đối với các quy định của pháp luật.Kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế

xuất, kinh doanh và các nguồn lực khác trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
đồng thời giám sát việc tuyển dụng, sử dụng và trả lương cho người lao động; việc sử
dụng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm và quyền
lợi khác của người lao động,…Tuy nhiên, số người thất nghiệp vẫn cao.Lực lượng lao
động từ 15 tuổi trở lên ước tính đến 01/10/2013 là 53,9 triệu người, tăng 446,1 nghìn
người so với lực lượng lao động tại thời điểm 01/7/2013.Tỷ lệ thất nghiệp của thanh
niên trong độ tuổi 15-24 chín tháng năm 2013 ước tính là 5,97%, trong đó khu vực
thành thị là 10,79%, tăng 1,27 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; khu vực
nông thôn là 4,49%, tăng 0,05 điểm phần trăm. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25


tuổi trở lên chín tháng năm 2013 ước tính là 1,29%, trong đó khu vực thành thị là
2,45%, khu vực nông thôn là 0,77%. Tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng tăng lên do sản
xuất vẫn gặp khó khăn làm ảnh hưởng đến việc làm của người lao động. Vì vậy, vấn
đề đặt ra đó là giải quyết tình trạng thất nghiệp bởi nền kinh tế suy thoái không tạo đủ
việc làm cho cả lao động mới gia nhập thị trường và bộ phận lao động thất nghiệp cũ


CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP VẬN DỤNG HIỆU QUẢ CÁC
CHỨC NĂNG TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI Ở NƯỚC
TA
3.1. Yêu cầu về việc hoàn thiện chức năng kinh tế của Nhà nước
3.1.1. Tính tất yếu khách quan phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
Sự hình thành tư duy về nền kinh tế thị trường là quá trình tìm tòi thử nghiệm, tổng
kết từ thực tiễn đổi mới ở nước ta hơn 20 năm qua, kết hợp với tham khảo có chọn lọc
kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường quốc tế, sự vận dụng sáng tạo học thuyết
Mác - Lênin, quy luật phát triển chung của kinh tế thị trường vào hoàn cảnh cụ thể
Việt Nam. Vì vậy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa là vấn đề lý
luận, vừa là vấn đề thực tiễn mới mẻ, gắn bó giữa nhận thức tính quy luật khách quan,

Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 để chủ động hơn trong quá trình
hội nhập và hội nhập mới thực sự trở thành phương tiện hữu hiệu thúc đẩy phát triển
mạnh kinh tế - xã hội của đất nước.


3.2.

Phương hướng hoàn thiện chức năng kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
3.2.1. Tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức về chức năng kinh tế của Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường.
- Cần phải nhận thức rằng phát triển kinh tế thị trường vừa là vấn đề khoa học, vừa
là vấn đề chính trị, vấn đề lựa chọn chế độ kinh tế và mô hình phát triển trong thực
tiễn cách mạng, đòi hỏi sự nhất trí cao trong nhận thức tư tưởng, thống nhất trong tổ
chức thực hiện và hành động, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế trong thực hiện chức
năng điều khiển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Cần tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu những quan điểm tiến bộ, vượt qua những rào
cản, định kiến về nền kinh tế thị trường và nhận thức không đúng về vai trò kinh tế
của nhà nước. Điều đó thể hiện ở sự nhạy bén, năng động và kịp thời đề ra những
chính sách quan trọng phù hợp với thực tiễn kinh tế - xã hội đầy biến động.
- Cần đảm bảo nội dung khoa học, tính dân chủ, công khai trong quá trình nghiên
cứu lý luận để xây dựng các mô hình, phương án và ban hành những chính sách quan
trọng trong phát triển kinh tế, trong đó không thể thiếu sự tham mưu, tư vấn của các
nhà khoa học, các chuyên gia, đặc biệt là cần tổ chức rộng rãi việc tham gia ý kiến của
các tổ chức và cá nhân. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm về kinh
tế thị trường ở một số nước sẽ giúp chúng ta có cách đánh giá, vận dụng và thực hiện
hiệu quả chức năng kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
3.2.2. Thực hiện chức năng kinh tế gắn với đảm bảo bình đẳng xã hội và phát triển bền
vững.

nhiều, nhưng đây là vấn đề rất khó khăn. Việc giải toả mặt bằng ở nhiều nơi gặp trở
ngại do dân đòi đền bù cao theo giá thị trường. Chính phủ cũng đã có chỉ đạo phải tạo
được mặt bằng sản xuất, thông qua Luật Đất đai năm 2003.
Việc đa dạng hoá nguồn vốn là rất cần thiết. Lâu nay các doanh nghiệp chỉ nhìn vào
nguồn vốn từ ngân hàng, hoặc vốn ưu đãi của Nhà nước. Nhưng ưu đãi của nhà nước
hằng năm chỉ có 10.000 tỷ mà lại ưu tiên cho các dự án công trình có tính chất chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, hay tạo ra năng lực cho nền kinh tế độc lập tự chủ (như các nhà
máy phân đạm, điện, phôi thép lớn). Các doanh nghiệp chưa khai thác nguồn vốn
khác, qua các định chế tài chính trung gian, các quỹ hay thị trường chứng khoán.
"Thị trường chứng khoán hiện phát triển rất chậm. Tổng doanh số giao dịch mới
chiếm khoảng 2-3% GDP, mà đây là một kênh huy động vốn rất lớn và rất có hiệu
quả", cần phát triển nhanh thị trường chứng khoán, thị trường chính thức và không
chính thức. Hiện Chính phủ đang mở rộng cho các thành phần doanh nghiệp tham gia
vào thị trường chứng khoán. "Tôi hy vọng sắp tới chúng ta cho nước ngoài tham gia
thị trường chứng khoán thì lĩnh vực này sẽ sôi động thêm".
3.3.2. Hoàn thiện chức năng xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh
tế.
- Thứ nhất, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện công tác phân tích, đánh giá, dự báo tình
hình phát triển kinh tế - xã hội.
- Thứ hai, cần khắc phục nhược điểm trong công tác xây dựng chiến lược phát triển
kinh tế xã hội đó là ôm đồm quá nhiều mục tiêu, theo đó tập trung cho những mục tiêu
hiệu quả và phát triển bền vững.
- Thứ ba, đổi mới và hoàn thiện công tác kế hoạch, quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội theo hướng nâng cao chất lượng quy hoạch bằng cách nâng vị trí pháp
lý của văn bản ban hành quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lên tương
đương với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm. Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội 10 năm cần lược bỏ sự trùng lặp các nội dung được xác định trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 10 năm, thay vào đó là định hướng cho việc quy hoạch tổng
thể kinh tế - xã hội các vùng, các ngành có vai trò chiến lược, có căn cứ khoa học, có
tầm nhìn dài hạn, được công khai hóa và thu hút sự đóng góp ý kiến của đông đảo
nhân dân.

- Khẩn trương xây dựng một hệ thống pháp luật kinh tế đầy đủ và phù hợp với luật
pháp và thông lệ quốc tế. Cần sớm ban hành những văn bản dưới luật đảm bảo thực
thi nhanh và đúng đắn các Luật cạnh tranh và kiểm soát độc quyền, Luật doanh
nghiệp, Luật đầu tư...
Xây dựng mặt bằng luật pháp cho các loại hình doanh nghiệp, theo đó tất cả các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đều bị điều chỉnh bởi một luật chung không để quy
định tản mạn như hiện nay là: Luật doanh nghiệp chung thay thế các Luật doanh
nghiệp Nhà nước, Luật hợp tác xã...,Luật đầu tư chung thay cho Luật đầu tư nước
ngoài, Luật khuyến khích đầu tư trong nước...; Xúc tiến xây dựng và ban hành Luật
thuế chống bán phá giá, Luật kinh doanh bất động sản, Luật chống đầu cơ, Luật chi
ngân sách nhà nước, Luật về quy hoạch, kế hoạch...
- Tiến hành có hiệu quả việc rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật và văn bản hiện
hành để kịp thời phát hiện và sửa đổi những chồng chéo, bổ sung những văn bản còn
thiếu, chưa phù hợp, đặc biệt là chưa phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế, trước
mắt là các nguyên tắc của WTO.
- Chủ động nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện các mô hình, hình thức pháp lý cho
các loại thị trường, các giao dịch kinh tế.
- Tiến hành hoàn thiện các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế,
tranh chấp lao động, giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Thứ hai là tiến hành đổi mới và hoàn thiện chính sách tài chính:
- Tăng cường vai trò điều tiết vĩ mô của các công cụ tài chính đối với nền kinh tế,
trong đó đặc biệt là công cụ thuế, ngân sách, tín dụng... Nhà nước tạo sự bình đẳng
cho mọi loại hình doanh nghiệp được ưu đãi, miễn, giảm thuế, cải cách chính sách
thuế theo hướng nuôi dưỡng nguồn thu, thực hiện công khai minh bạch; coi trọng
nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả và hợp lý trong việc sử dụng và phân bổ các nguồn
vốn, nhất là ngân sách nhà nước.


- Đối với chính sách tiền tệ, ngân hàng Nhà nước cần theo dõi sát việc thực hiện
các văn bản, thể lệ, chế độ đã ban hành, phát hiện sớm những vướng mắc để sửa đổi,

trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, chức năng quản lý nhà nước về kinh tế lại càng
quan trọng hơn. Do vậy việc nghiên cứu đề tài “Các chức năng của quản lý nhà nước
về kinh tế? Liên hệ việc vận dụng các chức năng này trong quản lý nhà nước về
thương mại ở nước ta hiện nay” là công việc rất có ý nghĩa.
Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu để thực hiện đề tài, chúng tôi đã hoàn thành
được các mục tiêu đề ra:
Thứ nhất, trình bày cơ sở lý thuyết về chức năng của quản lý nhà nước về kinh tế.
Thứ hai, tìm hiểu, phân tích thực trạng vận dụng các chức năng trong quản lý nhà
nước về thương mại ở nước ta hiện nay. Qua đó, đánh giá những kết quả đạt được và
những vấn đề còn tồn tại, đồng thời phân tích một số nguyên nhân dẫn đến những mặt
còn hạn chế.
Thứ ba, đề xuất phương hướng, giải pháp vận dụng hiệu quả các chức năng trong
quản lý nhà nước về thương mại ở nước ta
Hi vọng rằng trên cơ sở những giải pháp đã thực hiện cùng với những định hướng
và giải pháp mới mà Đảng và Nhà nước ta đang vận dụng sẽ giúp nền kinh tế của
nước ta nhanh chóng thoát khỏi nền sản xuất nhỏ lẻ, thủ công nghiệp thực hiện tốt quá
trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa để sớm hoàn thành được mục tiêu đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành nước phát triển.
Do đề tài nghiên cứu rộng, trong khuôn khổ một học phần và khả năng có hạn chế
nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất kính mong các thầy cô giáo, các bạn và tất
cả những ai quan tâm đến vấn đề này tiếp tục giúp đỡ, đóng góp ý kiến để đề tài của
chúng tôi được hoàn thiện hơn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn !


MỤC LỤC





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status