thực tế cách mạng việt nam và sự đúng đắn của mối quan hệ biện chứng vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp - Pdf 10

Mục lục:
Đặt vấn đề.
I.Giới thiệu Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh:
1. Hồ Chí Minh từ một chiến sĩ yêu nước, đấu tranh vì độc lập dân tộc
thành một chiến sĩ cộng sản, vận động biện chứng vấn đề dân tộc và vấn đề giai
cấp - sự phát triển trong con người HCM.
2.Khái niệm, điều kiện lịch sử, nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí
Minh
II.Biện chứng vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp
1.Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh:
2.Vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh:
3.Mối quan hệ biện chứng hai vấn đề trên
4.Thực tế cách mạng Việt Nam và sự đúng đắn của mối quan hệ biện
chứng vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp.
III. Kết luận
1
BÀI LUẬN
Trước năm 1930, có rất nhiều phong trào yêu nước như Cần Vương, khởi
nghĩa Yên Thế, Đông du, Duy tân… chống thực dân Pháp đã diễn ra nhưng đều
thất bại vì không có đường lối đấu tranh đúng đắn. Chỉ đến khi chủ nghĩa Mac-
Lênin được truyền bá vào nước ta, đường lối Cách mạng được Hồ Chí Minh xác
định, Đảng Cộng sản tập hợp, lãnh đạo toàn dân trong mặt trận dân tộc thống
nhất chống giặc ngoại xâm, xây dựng xã hội mới thì Cách Mạng nước ta mới thu
được thành quả như mong đợi: giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây
dựng Tổ quốc giàu mạnh… Sự khác biệt cơ bản dẫn tới sự thành công của Cách
mạng tháng Tám-1945 chính là sự lãnh đạo của Đảng đã huy động được sức
mạnh đoàn kết của toàn dân tộc. Chính nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện
chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh là
nguyên nhân quan trọng nhất đưa đến thành công này.
I. Giới thiệu Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh:
1. Hồ Chí Minh từ một chiến sĩ yêu nước, đấu tranh vì độc lập dân tộc thành

với nghề phụ bếp trên tàu Đô đốc Latouche-Tréville, bắt đầu những ngày bôn ba
tìm đường cứu nước. Bác đã nhận ra mâu thuẫn giữa lời nói “tự do, bình đẳng,
bác ái” của thực dân Pháp và hành động thực dân của chúng. Đi tới đâu, khắp
châu Âu, châu Mỹ, châu Á, châu Phi Bác đều chứng kiến cuộc sống khổ cực lầm
than của nhân dân lao động, hoà mình tham gia lao động và đấu tranh trực tiếp
trong hàng ngũ giai cấp công nhân, Bác kết luận trên đời chỉ có hai loại người,
đó là những người bóc lột và những người bị bóc lột. Cuối năm 1917, Người trở
lại nước Pháp, ngày 19 tháng 6 năm 1919, thay mặt Hội những người An Nam
yêu nước, Nguyễn Tất Thành đã mang tới Hội nghị Hòa bình Versailles bản Yêu
sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm với hai nội dung chính là đòi sự bình
đẳng về mặt pháp lý cho người dân An Nam và quyền tự do dân chủ tối thiểu
cho người dân An Nam, kêu gọi lãnh đạo các nước Đồng Minh áp dụng các lý
tưởng của Tổng thống Wilson cho các lãnh thổ thuộc địa của Pháp ở Đông Nam
3
Á. Nhưng bản yêu sách không được chấp nhận, chủ nghĩa Wilson chỉ là trò bịt
bợm, Bác kết luận chỉ có đấu tranh bằng con đường bạo lực mới có thể giành
độc lập. Tháng Bảy năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Luận cương về vấn đề dân
tộc và thuộc địa của Lenin, trong đó có đưa ra những vấn đề chiến lược, tiến bộ
về dân tộc, thuộc địa như khẳng định quyền tự do, độc lập tự chủ về mọi mặt của
các dân tộc trong đó có các dân tộc thuộc địa, nhân dân các nước chính quốc
phải giúp đỡ các dân tộc thuộc địa trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhiệm vụ
đấu tranh của các dân tộc thuộc địa không chỉ là đấu tranh chống các lực lượng
ngoại xâm mà còn phải chống lại các lực lượng phản động trong nước, sau khi
hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, các dân tộc thuộc địa có thể lựa chọn
con đường xây dựng CNXH, bỏ qua CNTB, Liên Xô sẽ trở thành thành trì của
nền hoà bình thế giới và Quốc tế Cộng sản trở thành bộ tham mưu chiến đấu của
các phong trào đấu tranh quốc tế. Nhận thấy những quan điểm đúng đắn, tiến bộ
và phù hợp với tình hình đấu tranh của dân tộc mình trong bản sơ thảo trên
Nguyễn Ái Quốc đã đứng hoàn toàn về phía Quốc tế Cộng sản. Người tìm hiểu,
khảo sát cuộc cách mạng tháng Mười Nga, tự học và tìm đến với chủ nghĩa

a. Khái niệm:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn để cơ bản của Cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân đến cách mạng XHCN, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát
triển chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết
tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp và con người.
b.Điều kiện lịch sử xã hội hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh:
● Tình hình trong nước:
Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một bối cảnh lịch sử, xã hội
phức tạp. Từ năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, triều đình nhà
Nguyễn nhu nhược dần dâng nước ta cho Pháp. Đến những năm 1890, thực dân
Pháp bắt đầu khai thác thuộc địa lần thứ nhất, khi chiến tranh thế giới thứ nhất
5
nổ ra, chúng lại càng tăng cường bóc lột tận xương tuỷ nhân dân ta, xã hội Việt
Nam biến đổi sâu sắc từ phong kiến đến phong kiến nửa thuộc địa, ngoài các
giai cấp nông dân, địa chủ, tiểu thủ công và thương nghiệp còn xuất hiện các
giai cấp tư sản, tiểu tư sản, công nhân và trí thức. Xã hội tồn tại hai mâu thuẫn
cơ bản là mâu thuẫn giữa toàn dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và
tay sai, mâu thuẫn thứ hai là giữa nông dân Việt Nam với giai cấp địa chủ phong
kiến. Để giải quyết những mâu thuẫn khách quan đó, nhiều sĩ phu yêu nước đã
đứng lên tập hợp lực lượng chống lại thực dân Pháp xâm lược nhưng cuối cùng
đều thất bại vì không tìm được lối đi đúng đắn để đoàn kết toàn dân đánh giặc,
nước ta trong tình trạng khủng hoảng đường lối “tình hình đen tối như không có
đường ra”. Chính điều đó đã thúc đẩy Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh ra đi tìm
đường cứu nước mới cho dân tộc, lòng yêu nước là động lực, giải phóng dân tộc
là mục tiêu hành động của Người.
●Bối cảnh thế giới:
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa tư bản từ cạnh tranh nhanh
chóng chuyển sang độc quyền, lực lượng sản xuất phát triển cao mâu thuẫn với

a. Quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về vấn đề dân tộc :
- Mác, Ăngghen nêu các quan điểm cơ bản có tính chất phương pháp luận
về vấn đề này, đó là nguồn gốc, bản chất của vấn đề dân tộc, những quan hệ cơ
bản của dân tộc, thái độ của giai cấp công nhân và Đảng của giai cấp công nhân
với vấn đề dân tộc.
- Lênin phát triển vấn đề dân tộc thành hệ thống lý luận toàn diện, gồm
các nội dung sau:Quá trình hình thành dân tộc ở các nước và vấn đề về các dân
tộc thuộc địa gồm hai xu hướng phát triển khách quan của vấn đề dân tộc, xây
dựng cương lĩnh dân tộc và từ đó tạo cơ sở hoạch định đường lối chính sách dân
tộc của Đảng cộng sản, của giai cấp trong thời đại đế quốc chủ nghĩa. Xu hướng
thứ nhất là sự thức tỉnh của ý thức dân tộc, của phong trào đấu tranh chống áp
bức dân tộc sẽ dẫn tới việc thành lập các quốc gia dân tộc. Xu hướng thứ hai là
7
xu hướng liên kết dân tộc, việc tăng cường, phát triển mối quan hệ giữa các dân
tộc sẽ dẫn tới vịêc phá huỷ hàng rào ngăn cách dân tộc, thiết lập sự thống nhất
quốc tế, của đời sống kinh tế, chính trị, khoa học … nói chung. Xây dựng cương
lĩnh dân tộc gồm các vấn đề cơ bản là các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, có quyền
tự quyết, đoàn kết giai cấp công nhân giữa các dân tộc. Lênin khẳng định CNTB
và chủ nghĩa tư sản dân tộc không thể giải quyết được vấn đề dân tộc mà chỉ làm
cho mối xung đột dân tộc ngày càng tăng lên. Chỉ có cách mạng vô sản và
CNXH mới có thể thực hiện sự bình đẳng dân tộc, xây dựng tình hữu nghị giữa
các dân tộc, làm cho các dân tộc ngày càng xích lại gần nhau. Từ đó, Lênin yêu
cầu các Đảng cộng sản: Phải kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của Chủ
nghĩa dân tộc tư sản, Chủ nghĩa sôvanh, Để giành thắng lợi cho Chủ nghĩa quốc
tế vô sản.
b. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc:
Dựa trên quan điểm về vấn đề dân tộc của Mac, Engel và Lênin kết hợp
với chủ nghĩa yêu nước, tình hình thực tế ở Việt Nam và các nước thuộc địa
khác, Hồ Chí Minh đã hình thành những luận điểm khoa học, tiến bộ, đúng đắn
về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc. Người nhận định thực chất

không quân và hải quân, Hồ Chí Minh kêu gọi: “Chiến tranh có thể kéo dài 5
năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành
phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ!
Không có gì quý hơn độc lập tự do.” Độc lập, tự do gắn liền với việc đảm bảo
cuộc sống hoà bình, ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Bởi có độc lập, có tự
do mà nhân dân vẫn đói khổ, thì nền độc lập tự do ấy cũng chẳng có ý nghĩa gì.
Người nói: “tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước tôi
được độc lâp, dân tôi được tự do, đồng bào tôi ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai
cũng được học hành…”
Hồ Chí Minh coi mục tiêu đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc, tự do của
đồng bào là lẽ sống của mình. Quyền độc lập dân tộc không tách rời quyền con
người và độc lập là điều kiện tiên quyết để mang lại hạnh phúc cho mọi người
9
dân của đất nước mình, để dân tộc Việt Nam được quyền sống bình đẳng với các
dân tộc khác trên thế.
Thứ hai, chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước, nhất là với
các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập. Quan điểm của quốc tế cộng sản là
chủ nghĩa dân tộc mâu thuẫn với chủ nghĩa quốc tế. Nhưng Hồ Chí Minh luôn
khẳng định chủ nghĩa dân tộc là chủ nghĩa dân tộc chân chính dựa trên cơ sở
khái quát dựa trên tinh thần đoàn kết dân tộc và ý chí độc lập, khát vọng tự do.
Nó hoàn toàn khác biệt , đối lập với chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa
Xovanh. Nó hoàn toàn thống nhất với chủ nghĩa quốc tế. Có hai cơ sở khẳng
định chủ nghĩa dân tộc là động lực to lớn với nước ta. Thứ nhất là từ truyền
thống văn hoá dân tộc, lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, lòng yêu nước
của nhân dân ta. Thứ hai là vận dụng phương pháp biện chứng khoa học của chủ
nghĩa Mac- Lênin phân tích cấu trúc xã hội Việt Nam, sự vận động của xã hội từ
đó khái quát thành chủ nghĩa dân tộc.
Thứ ba, kết hợp chắt chẽ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp, độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc
tế. Cả Mac, Engel và Lênin đều nhấn mạnh vai trò giải phóng giai cấp, vấn đề

2. Vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh:
a. Vấn đề giai cấp trong chủ nghĩa Mac- Lênin:
Theo Mac, vấn đề giai cấp và giải quyết vấn đề mâu thuẫn giai cấp là
động lực của sự phát triển xã hội. Trong xã hội tư bản tồn tại mâu thuẫn chủ yếu
và sâu sắc nhất đó là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Giai cấp
vô sản bị giai cấp tư sản bóc lột, bị bần cùng hoá, nhưng lại là giai cấp tiến bộ
trong xã hội. Cuộc cách mạng của giai cấp vô sản sẽ đồng loạt nổ ra và giành
thắng lợi, phá vỡ quan hệ sản xuất TBCN, xoá bỏ quan hệ người bóc lột người,
thiết lập xã hội xã hội chủ nghĩa với lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ cao,
mọi người đều tự do lao động, tự do phát triển, công bằng, ấm lo, hạnh phúc.
Theo Lênin, vấn đề giai cấp cũng là vấn đề chủ chốt nhất, có ý nghĩa quan
trọng nhất. Ông khẳng định chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh nhanh chóng
11
chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền, các nước đế quốc không chỉ bóc lột
nhân dân lao động trong nước mà còn không ngừng chiến tranh xâm lược và bóc
lột nhân dân thuộc địa. Chủ nghĩa đế quốc, thực dân trở thành hệ thống thế giới,
vừa cạnh tranh lại vừa cấu kết nhau đàn áp phong trào đấu tranh của các lực
lượng bị bóc lột. Do đó yêu cầu tất yếu trong sự nghiệp đấu tranh chống kẻ thù
chung là chủ nghĩa tư bản đó là “vô sản các nước đoàn kết lại”. Cách mạng
tháng Mười Nga thắng lợi, có thể cách mạng vô sản không nổ ra đồng loạt như
Mac nói nhưng Liên Xô đã nêu cao ngọn cờ xã hội chủ nghĩa, là thành trì của
hoà bình thế giới, giúp đỡ nhân dân lao động các nước khác đấu tranh. Lênin
cho rằng: trong sự nghiệp chống lại chủ nghĩa đế quốc, sự nghiệp cách mạng của
vô sản chính quốc có vai trò quyết định.
b. Vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh:
Cả Mac và Lênin đều nhấn mạnh vai trò của giải phóng giai cấp. Hai ông
đã đúng với thực tiễn đấu tranh của các nước châu Âu, nơi mà vấn đề mâu thuẫn
giai cấp đặc biệt sâu sắc. Nhưng “châu Âu không phải là cả thế giới”(H.C.M),
với tình hình thực tế ở Việt Nam, Hồ Chí Minh dựa trên những phương pháp
phân tích khoa học của chủ nghĩa Mac đã nhận ra những vấn đề khác biệt về tính

chí của Người tập hợp, lãnh đạo đông đảo quần chúng làm cách mạng thì mới
thành công.
Nghiên cứu các cuộc cách mạng dân chủ tư sản Mỹ (1776); Pháp (1789),
Nguyễn Ái Quốc nhận thấy các cuộc cách mạng này tuy nêu khẩu hiệu ''tự do'',
''bình đẳng'', nhưng không đưa lại tự do, bình đẳng thực sự cho quần chúng lao
động. Người viết: Tiếng là cộng hoà, dân chủ kì thực trong thì nó bóc lột công
nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Tuy khâm phục các cuộc cách mạng ấy,
nhưng Nguyên Ái Quốc cho rằng đó là cách mạng chưa đến nơi, làm cách mạng
xong mà dân vẫn đói khổ thì cách mạng đấy không có ý nghĩa.
Sau khi đọc ''Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về dân tộc và thuộc địa”
của V.I. Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã thấy rõ hơn con đường đúng đắn mà cách
13
mạng Việt Nam sẽ trải qua. Người khẳng định: ''Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao
động trên thế giới khỏi ách nô lệ''; rằng: ''Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc
không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản''. Kết luận trên đây
của Nguyễn Ái Quốc là sự khẳng định một hướng đi mới, nguyên tắc chiến lược
mới, mục tiêu và giải pháp hoàn toàn mới, khác về căn bản so với các lãnh tụ
của các phong trào yêu nước trước đó ở Việt Nam; đưa cách mạng giải phóng
dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Vì vậy, con đường phát triển tất yếu
của cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng XHCN.
Người chỉ rõ: ''Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng
xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn''.
b. giải phóng dân tộc là điều kiện cần để giải quyết vấn đề giai cấp:
Do chủ nghĩa đế quốc trở thành hệ thống thế giới, tư bản độc quyền bên
cạnh việc cạnh tranh nhau phân chia thuộc địa còn bắt tay nhau đàn áp phong
trào đấu tranh của nhân dân lao động cả trong nước và thuộc địa “chủ nghĩa đế
quốc là con đỉa hai vòi”, một vòi nó hút máu nhân dân lao động trong nước, vòi
kia nó hút máu nhân dân các nước thuộc địa. Yêu cầu tất yếu là nhân dân bị áp
bức phải đoàn kết lại chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc thực dân thì mới

tích hoàn toàn đúng đắn của Người thì ở Việt Nam, vấn đề dân tộc là vấn đề trên
hết và trước hết, giải phóng dân tộc là tiền đề giải phóng giai cấp (Hội nghị
TW8, 5/1941), lợi ích giai cấp phụ thuộc vận mệnh dân tộc, nếu dân tộc chưa
được độc lập thì giai cấp chưa được tự do, không thể thoát khỏi ách áp bức bóc
lột. Khi làm cách mạng vô sản giải phóng dân tộc xong, quyền quyết định thuộc
về nhân dân thì sẽ tiến hành thổ địa cách mạng đi tới xã hội cộng sản. Như vậy
là, lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam, với Hồ Chí Minh, sự nghiệp
đấu tranh giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng XHCN. Cuộc cách mạng
này kết hợp trong bản thân nó tiến trình của hai sự nghiệp giải phóng: giải
phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân và giải phóng giai cấp khỏi ách áp bức
bóc lột. Vấn đề dân tộc được giải quyết trên lập trường của giai cấp công nhân -
15
điều đó phù hợp với xu thế thời đại. Sức mạnh đi tới thắng lợi của cách mạng
Việt Nam chính là mục tiêu dân tộc luôn thống nhất với mục tiêu dân chủ trên
cơ sở định hướng XHCN. Đặc điểm nổi bật của cách mạng Việt Nam là cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân triệt để, tạo tiền đề cho bước chuyển sang thời
kỳ quá độ lên CNXH, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa. Đây là quan điểm hết
sức căn bản của tư tưởng Hồ Chí Minh: chỉ có hoàn thành cách mạng giải phóng
dân tộc mới có điều kiện để tiến lên CNXH và chỉ có cách mạng XHCN mới giữ
vững được thành quả cách mạng giải phóng dân tộc, mới mang lại cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân, mới có độc lập dân tộc thực sự,
mới có cách mạng triệt để.
c. Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp đều hướng tới mục tiêu giải phóng
con người, vì con người:
Giải phóng con người, vì con người là mục tiêu hoạt động tối cao của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, “tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho
nước tôi được độc lâp, dân tôi được tự do, đồng bào tôi ai cũng có cơm ăn, áo
mặc, ai cũng được học hành…” Ba giai đoạn của cách mạng VIệt Nam được
người xác định trong chính cương vắn tắt đó là làm cách mạng tư sản dân quyền
để giải phóng nhân dân khỏi áp bức của thực dân, làm thổ địa cách mạng để

gia mới biến sức mạnh dân tộc thành lực lượng vô địch. Do đó, Người luôn chủ
chương đại đoàn kết toàn dân tộc trong một mặt trận chung ( Mặt trận Việt
Minh(1941), Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam(1960), Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam(1976)…). Mặt trận dân tộc thống nhất này do chính đảng của giai cấp
công nhân lãnh đạo. Vì Đảng đó thực hiện nguyện vọng của toàn dân, thành lập
vì mục tiêu toàn dân tộc, hoạt động trên cơ sở học thuyết, tư tưởng dân tộc có
hạt nhân là tư tưởng Mac-Lênin, tinh hoa văn hoá nhân loại, đặc biệt là văn hoá
dân tộc, tinh thần dân tộc. Nguyên tắc hoạt động của Đảng là nguyên tắc tập
trung dân chủ, đoàn kết dân tộc, thống nhất trên dưới một lòng, kỷ luật tối cao.
Nhiệm vụ của Đảng là “đoàn kết toàn dân, phụng sự tổ quốc”( HCM). Do đó,
17
Đảng ta là đảng của toàn dân, chính bản chất đó cho phép tập trung sức mạnh
trong một mặt trận dân tộc thống nhất chung, khơi dậy sức mạnh đoàn kết toàn
dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và đại đoàn kết toàn dân tộc là biểu
hiện quan trọng nhất, có ý nghĩa nhất mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân
tộc và vấn đề giai cấp không chỉ trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn
trong toàn bộ tiến trình cách mạng vô sản Việt Nam hiện nay và tương lai.
Hai là, cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ dân tộc (mâu
thuẫn địa chủ - nông dân, mâu thuẫn tư sản - vô sản) không tách rời cuộc đấu
tranh giải quyết mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với các thế lực đế quốc xâm
lược. Ở giai đoạn đầu của cách mạng, nhấn mạnh vấn đề dân tộc. ''Nếu không
giải quyết được vấn đề dân tộc, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân
tộc, thì chẳng những toàn thể dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi
của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được''. ''Chính lập trường
và lợi ích giai cấp công nhân đòi hỏi trước hết phải giải phóng dân tộc''. Ở đây
rõ ràng cái giai cấp được biểu hiện ở cái dân tộc, cái dân tộc được giải quyết
theo lập trường giai cấp công nhân. Sau khi cách mạng giải phóng dân tộc thành
công, quyền lực được trao vào tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhà
nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Ba là, cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản ở chính quốc

đắn hơn về CNXH và thực hiện mục tiêu ấy bằng những hình thức; bước đi và
biện pháp phù hợp.
19
IV. Kết luận:
Mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư
tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở quan trọng, có ý nghĩa hết sức to lớn quyết định
những thắng lợi đã đạt được của sự nghiệp Cách mạng giải phóng dân tộc Việt
Nam và cũng là yếu tố quyết định sự thành bại của quá trình cách mạng tiếp
theo. Không chỉ có ý nghĩa thực tiễn to lớn, nó còn mang tính lý luận sâu sắc,
góp phần phát triển kho tàng lý luận chủ nghĩa Mac, Lênin. Với những quan
điểm biện chứng đúng đắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không chỉ giúp giải phóng
dân tộc Việt Nam, là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là người khởi xướng
phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.
Các tài liệu tham khảo:
Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh,
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia,
internet.
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status