Tiểu luận triết học
Lời mở đầu
Những thành tựu trong công cuộc đổi mới của nớc ta trong thời gian qua
đã tạo ra thế và lực mới, cả bên trong và bên ngoài để chúng ta bớc vào một
thời kỳ phát triển mới. Nhiều tiền đề cần thiết cho công nghiệp hoá và hiện đại
hoá đã đợc tạo ra. Quan hệ của nớc ta với các nớc trên thế giới mở rộng hơn
bao giờ hết. Khả năng giữ vững độc lập tự chủ và hội nhập với cộng đồng thế
giới tăng thêm. Cách mạng khoa học và công nghệ phát triển nhanh với trình
độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đời sống
xã hội. Các nớc đều có cơ hội phát triển. Tuy nhiên u thế về vốn, công nghệ,
thị trờng thuộc các nớc phát triển, khiến cho những nớc chậm phát triển và
đang phát triển đứng trớc những thử thách to lớn. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về
kinh tế so với nhiều nớc trong khu vực vẫn là thử thách to lớn và gay gắt do
điểm xuất phát của chúng ta quá thấp, lại đi trong môi trờng cạnh tranh quyết
liệt.
Trớc tính hình đó, cùng với xu thế phát triển của thời đại. Đảng và nhà nớc ta cần liên tục tiến hành và đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nớc,
trong đó đổi mới kinh tế đóng vai trò then chốt và chủ đạo. Đồng thời đổi mới
về chính trị cũng mang tính cấp bách bởi giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị có mối liên hệ chặt chẽ với nhau không thể tách rời. Chính vì vậy,
tìm hiểu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép ta vận dụng nó vào
mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị của đất nớc, giúp cho công cuộc xây
dựng nền kinh tế nớc ta ngày càng giàu mạnh.
Với ý nghĩa đó sau một thời gian nghiên cứu và học tập với sự hớng dẫn
nhiệt tình của các thầy cô giáo, em đã quyết định chọn đề tài : "Mối quan hệ
biện chứng giữa vật chất và ý thức và sự vận dụng của Đảng trong thực
tiễn cách mạng Việt Nam".
1
Tiểu luận triết học
Tiểu luận triết học
quả của sự khái quát của cái sự vật hiện tợng có thành hiện thực và do đó các
đối tợng của sự khái quát các sự vật, hiện tợng có khả năng tác động vào giác
man để gây ra cảm giác, và nhờ đó mà ta có thể biết đợc, hiểu đợc, nắm bắt đợc đối tợng này. Định nghĩa vật chất của Lênin đã khẳng định đợc câu trả lời
chủ nghĩa duy vật cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học, phân biệt về
nguyên tắc của chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan
cũng nh không thể biết.
Hơn thế nữa, Lênin còn khẳng định, cảm giác lại, chụp lại phản ánh vật
chất, những vật chất tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. Khẳng định nh vậy,
một mặt Lênin muốn nhấn mạnh tính thứ nhất của vật chất, vai trò quyết định
của nó đối với ý thức, và mặt khác khẳng định phơng pháp và khả năng nhận
thức khách quan của con ngời. Điều này không chỉ phân biệt chủ nghĩa duy
vật vói chủ nghĩa duy tâm, với thuyết không thể biết mà còn phân biệt chủ
nghĩa duy vật với nhị ngôn luận.
Nh vậy, chúng ta thấy rằng, định nghĩa vật chất của Lênin một định
nghĩa toàn diện và triệt để, nó giải đáp đợc cả hai mặt vấn đề cơ bản về triết
học trên lập trờng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đồng thời nó còn khắc
phục lý thuyết siêu hình, hẹp hòi trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa
duy vật cũ.
Định nghĩa vật chất của Lênin còn giúp chúng ta xác định rõ vật chất
trong đời sống xã hội, và nó có ý thức trực tiếp định hớng khoa học tự nhiên,
giúp khoa học tự nhiên ngày càng đi sâu vào nghiên cứu đa dạng cụ thể của
vật chất trong giới vi mô. Nó còn giúp chúng ta có thái độ khách quan và đòi
hỏi chúng ta phải xuất phát từ thực té khách quan trong suy nghĩa cảm động.
1.2. Các đặc tính của vật chất
* Vận động là phơng thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của
vật thể.
Theo quan điểm của chủ nghia duy vật biện chứng, vanạ động của mọi sự
3
4
Tiểu luận triết học
Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, không thể có vận động bên
ngoài của vật chất, vận động không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt đợc, do đó vận động đợc bảo toàn cả về số lợng lẫn chất lợng. Khoa học đã
chứng minh đợc rằng nếu một hình thức vận động nào đó của sự vật nhất định
mất đi thì tất yếu nảy sinh một hình thức vận động khác thay thế nó. Các hình
thức vận động chuyển hoá lẫn nhau, còn vận động của vật chất nói chung thì
vĩnh viễn tồn tại với sự tồn tại vĩnh viễn của vật chất.
Mặc dù vật chất luôn ở trong quá trình vận động không ngừng nhng điều
đó không loại trừ mà còn bao hàm hiện tợng đứng im đối tợng. Không có hiện
tợng đứng im tơng đối thì không có sự phân hoá thế giới vật chất thành các sự
vật hiện tợng phong phú và đa dạng. Ăng ghen khẳng định rằng khả năng
đứng im tơng đối của các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là những điều
kiện chủ yếu của sự phân hoá vật chất.
* Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất
Không gian phản ánh thuộc tính của các vật chất có vị trí, có hình thức
kết cấu có độ dài, ngắn cao thấp. Không gian biểu hiện sự cùng tồn tại và tách
biệt của các sự vật lẫn nhau, biểu hiện quán tính của chúng, trật t phân bố
chúng. Còn thời gian phản ánh thuộc tính của các quá trình vật chất diễn ra
nhanh hay chậm kế tiếp nhau theo một trật tự nhất định. Thời gian biểu hiện
tốc độ trình tự diễn biến của các quá trình vật chất, tính tách biệt các giai đoạn
khác nhau của quá trình đó, trình tự xuất hiện và mất đi các sự vật, hiện tợng.
Không gian và thời gian là hình thức cơ bản của vật chất đang tác động
Lênin đã chỉ ra không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận
động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian. Không gian và
thời gian là tồn tại khách quan. Nó không phải là hình thức chủ quan sếp đặt
các cảm giác mà ta thu nhận một cách lộn xộn nh chủ nghĩa duy tâm quan
Tri thức là phơng thức tồn tại của ý thức vì sự hình thành và phát triển
của ý thức có liên quan mật thiết với nhau quá trình con ngời nhận thức và cải
biến giới tự nhiện. Tri thức càng đợc tích luỹ, con ngời ngày càng đi sâu vào
bản chất sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn, tính năng động của ý thức
6
Tiểu luận triết học
cũng nhờ đó mà tăng hơn. Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản quan
trọng nhất ý thức có ý nghĩa chống quan điểm giản đơn coi ý thức chỉ là tình
cảm, là niềm tin, ý trí. Quan niệm đó chính là biểu hiện của bệnh chủ quan ý
trí, của niềm tin mù quáng, của sự tởng tởng chủ quan. Tuy nhiên việc nhấn
mạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa với việc phủ nhận hoặc coi nhẹ
via trò của các nhân tố tình cảm ý trí.
Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng của ý thức. Chủ nghĩa duy tâm
coi tự ý thức là một thực thể độc lập tự nó có sẵn trong các cá nhân, điều kiện
sự hớng về bản thân mình tự khẳng định "cái tôi" riêng biệt tách rời những
quan hệ xã hội. Trái lại chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tự ý thức là ý
thức hớng về bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài khi phản
ánh thế giới khách quan con ngời tự phân biệt mình đối lập mình với thế giới
đó và tự nhận thức mình nh là một thực thể hoạt động có cảm giác có t duy, có
các hành vi đạo đức và có vị trí trong xã hội. Mặt khác sự giao tiếp trong xã
họi và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con ngời phải nhận rõ bản thân mình
và tự điều chỉnh bản thân theo các quy tắc, các tiêu chuẩn mà xã hội đề ra.
Ngoài ra văn hoá cũng đóng vai trò là cái "gơng soi" giúp cho con ngời tự ý
thức về bản thân.
Vô thức là một hiện tợng tâm lý có liên quan đến những hoạt động xảy ra
ở ngoài phạm vi của ú thức. Có hai loại thứ nhất liên quan đến các hành vi cha
đợc con ngời ý thức loại thứ hai liên quan đến các hành vi trớc kia đã đợc ý
thức nhng do lặp lại đã trở thành thói quen, có thể diễn ra "tự động" bên ngoài
cải tạo tự nhiên, thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục đích của bản thân con ngời. Chính nhờ lao động, con ngời và xã hội loài ngời mới hình thành và phát
triển. Lao động là phơng thức tồn tại cơ bản đầu tiên của con ngời, lao động
đồng thời ngay từ đầu đã liên kết những con ngời với nhau trong mối quan hệ
khách quan, tất yếu mối quan hệ này đến lợt nó làm nảy sinh nhu cầu trao đổi
kinh nghiệm và tổ chức lao động nhu cầu" cần phải nói với nhau một cái gì".
Và kết quả là ngôn ngữ ra đời. Ngôn ngữ đợc coi là cái vỏ vật chất của t duy.
Với sự xuất hiện của ngôn ngữ, t tởng của con ngời có khả năng biểu hiện
8
Tiểu luận triết học
thành hiện thực trực tiếp, trở thành tín hiệu vật chất tác động tới các cơ quan
con ngời và gây cảm giác. Nhờ có ngôn ngữ, con ngời có thể giao tiếp, trao
đổi t tởng, tình cảm với nhau, truyền đạt kinh nghiệm cho nhau, thông qua đó
mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội và ngợc lại, ý thức xã hội thâm nhập
vào ý thức cá nhân. Ngôn ngữ đã trở thành một phơng tiện vật chất không thể
thiếu đợc nhờ sự trừu tợng hoá và khaí quát hoá mà con ngời có thể đi sâu vào
bản chất của sự vật hiện tợng đồng thời tổng kết hoạt động của mình trong
toàn bộ quá trình phát triển lịch sử.
2.3. Bản chất của ý thức:
Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thứ có thể thấy rõ ý thức có bản tính
phản ánh, sáng tạo và bản tính xã hội.
Bản tính phản ánh thể hiện thông tin về thế giới bên ngoài, là biểu thị nội
dung nhận đợc từ vật gây tác động và đợc truyền đi trong quá trình phản ánh.
Bản tính phản ánh quy định mặt khách quan của ý thức, tức là ý thức phải lấy
cái khách quan làm tiền đề, bị khách quan quy định và có nội dung phản ánh
là thế giới khách quan.
ý thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động, với hoạt động sáng tạo cải
biến và thống trị tự nhiên của con ngời và trở thành mặt không thể thiếu đọc
của hoạt động đó. Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ, nó không chúp lại
Không nh vậy sẽ lẫn lộn hai đờng lỗi cơ bản trong triết học, lẫn lộn vật chất và
ý thức chỉ là tơng đối nếu nh chúng ta chỉ xét chúng nh là những nhân tố
những mặt không thể thiếu đợc trong hoạt động của con ngời, đặc biệt là hoạt
động thực tiễn cải tạo thế giới của con ngời. Bởi vì, ý thức nó không thể cải
biến đợc sự vật không có khả năng tự biến thành hiện thực, nhng thông qua
hoạt động thực tiễn của con ngời, ý thức có thể cải biến đợc tự nhiên, thâm
nhập vào sự vật, hiện thực hoá những mục đích mà nó đề ra cho hoạt động của
mình. Điều này bắt nguồn từ chính ngay bản tính phản ánh, sáng tạo và xã hội
của ý thức và chính nhờ bản tính đó mà chỉ có con ngời có ý thức mới có khả
năng cải biến và thống trị tự nhiên, biến tự nhiên xa lạ, hoang rã thành tự
nhiên trù phú và sinh động, tự nhiên của con ngời. Vì vậy tính tơng đối trong
10
Tiểu luận triết học
sự đối lập giữa vật chất và ý thực thể hiện tính độc lập tơng đối tính năng động
của ý thức. Mặt khác đời sống con ngời là sự thống nhất không thể tách rời
giữa đời sống vật chất vật chất và đời sống tinh thần trong đó những nhu cầu
tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng, những nhu cầu vật chất cũng bị
nhu cầu tinh thần hoá. Khẳng định tính tơng đối của sự đối lập giữa vật chất
và ý thức không có nghĩa là khẳng định rằng cả hai nhân tố có vai trò nh nhau
trong đời sống và hoạt động của con ngời. Trái lại triết học Mác- Lênin khẳng
định rằng trong hoạt động của con ngời những nhân tố vật chất và ý thức có
tác động qua laị song sự tác động diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của nhân tố
vật chất so với tính thứ hai của nhân tố ý thức.
Trong hoạt động của con ngời những nhu cầu vật chất xét đến cũng bao
giờ cũng giữ vai trò quyết định chi phối và quy định mục đích hoạt động của
con ngời vì nhân tố vật chất quy định khả năng các nhân tố tinh thần có thể
tham gia hoạt động của con ngời, tạo điều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc
nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thực và qua đó quy định mục đích, chủ
phản ánh hơn nữa vai trò của nó còn tuỳ thuộc vào mức độ chính xác trong
phản ánh hiện thực. Do vậy xét toàn cục ý thức vẫn là nhân tố thứ hai bị quyết
định, cần chú ý rằng vai trò của ý thức chỉ có đợc nếu nó thâm nhập vào quần
chúng và tổ chức xã hội. Nếu nh chúng ta đa nó vào điều kiện và hoàn cảnh cụ
thể thì chúng ta có thể thấy rằng giữa kinh tế (biểu hiện của vật chất) và chính
trị (biểu hiện của ý thức) cũng có mối quan hệ dàng buộc lẫn nhau. Bởi vì
chúng ta thấy rằng tình hình kinh tế của một nớc là cơ bản quyết định còn
chính trị là cơ bản. Nếu kinh tế của một nớc mà giàu mạnh nhng chính trị thì
luôn bất ổn: đấu tranh giai cấp, tôn giáo, giữa các đảng phái khác nhau của
một quốc gia thì cũng không thể tồn tại lâu dài đợc, cuộc sống của nhân dân
sung túc, đầy đủ nhng luôn phải sống trong lo âu sợ hãi vì chiến tranh và chết
chóc. Do đó chính trị của một nớc mà ổn định, tuy nhiên đảng khác nhau nhng
vẫn quy về một chính đảng thống nhất đất nớc và đảng này vẫn đem lại sự yên
ấm cho nhân dân, đất nớc đó giàu mạnh cuộc sống nhân dân ấm lo hạnh phúc,
ngợc lại nếu nh đất nớc đó nghèo cho dù chính trị ổn định đến đâu thì cuộc
12
Tiểu luận triết học
sống của nhân dân cũng trở lên khó khăn và ắt sẽ dẫn đến đảo chính sụp đổ
chính quyền để thay thế một chính quyền mơí đem lại nhiều lợi ích cho nhân
dân hơn.
Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay đổi theo từng hình thái kinh tế
chính trị xã hội. Con ngời trải qua năm hình thái kinh tế xã hội. Thời kỳ
nguyên thuỷ, nô lệ, phong kiến, t bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa. Trình độ tổ
chức quản lý và tính chất hiện đại của nền sản xuất sẽ là nhân tố quy định
trình độ hiện đại và mức sống xã hội. Sản xuất vật chất còn nền tảng hình
thành tất cả các quan hệ xã hội và đời sống tinh thần xã hội. Hiện thực lịch sử
đã chỉ ra rằng mọi quan hệ của đời sống xã hội bao gồm: quan hệ chính trị,
nhà nớc pháp quyền, đạo đức, khoa học, nghệ thuật tôn giáo.... đều hình thành
phát triển hết khả năng của mình để đem lại lợi ích cho bản thân mình và lợi
ích cho xã hội.
Nguyên lý triết học Mác - lênin là mối quan hệ biện chứng giữa vật chất
và ý thức đòi hỏi chúng ta phải xem xét tình hình các sự vật (ở đây là nền kinh
tế) từ thực tế khách quan, tránh chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, đồng thời phát
huy vai trò năng động sáng tạo của ý thức, phát huy nỗ lực hoạt động chủ
quan trong hoạt động của con ngời (nh trong hoạt động kinh tế của nớc ta,
trong công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xớng đã rất chú
trọng trong việc đề cao yếu tố của con ngời, làm cho ý thức thay đổi mới thâm
nhập vào cơ sở kinh tế, và động viên quần chúng).
Nh chúng ta đã biết, sau khi giải phóng Miền nam thống nhất đất nớc,
nền kinh tế miền Bắc còn nhiều nhợc điểm. Cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém,
cơ cấu kinh tế nhiều mặt mất cân đối, năng suất lao động thấp, sản xuất cha
đảm bảo nhu cầu đời sống, sản xuất cha đảm bảo nhu cầu đời sống, sản xuất
nông nghiệp cha cung cấp đủ thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho công
nghiệp, hàng hoá cho xuất khẩu. Mặt khác, nền kinh tế miền Bắc còn bị chiến
tranh phá hoại bằng không quân của đến quốc Mỹ tàn phá nặng nề. ở miền
Nam, sau 20 năm chiến tranh, nền kinh tế bị đảo nộn và suy sụp, nông nghiệp
nhiều vùng hoang hoá, lạm phát trầm trọng...
Trớc tình hình đó, Đại hội Đảng lần thứ IV lại đề ra những chỉ tiêu kế
14
Tiểu luận triết học
hoạch năm 1976 - 1980 quá cao và phát triển sản xuất quá khả năng của nền
kinh tế, nh năm 1975, phấn đấu đạt 21 triệu tấn lơng thực, 1 triệu tấn cá biển,
1 triệu héc ta khai hoang, 1 triệu 200 héc ta rừng mới trồng..., 10 triệu tấn than
sạch, 2 triệu tấn xi mâng.... Đặc biệt là đã đề ra việc xây dựng thêm nhiều cơ
sở mới về công nghiệp nặng, đặc biệt là cơ khí và đặc nhiệm vụ hoàn thành về
cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở niềm Nam. Những chủ trơng sai lầm do
sống nhân nói chung đợc cải thiện, mức khủng hoảng đã giảm bớt, do đó góp
phần ổn định tình hình chính trị đất nớc, góp phần vào việc phát huy dân chủ
trong xã hội. Không chủ quan với những thành tựu đã đạt đợc. Đại hội VII chỉ
ra những tồn tại lớn cần giải quyết, đặc biệt về mặt kinh tế đó là: lạm phạt còn
ở mức cao nhiều cơ sở sản xuất đình đốn kéo dài, lao động thiếu việc làm tăng
lên, đồng thời cũng tự phê bình về việc chậm xác định rõ yêu cầu và nội dung
đổi mới, còn nhiều lúng túng và nhiều sơ hở trong điều hành, quản lý vĩ mô
nền kinh tế thị trờng... đặc biệt, đại hội cũng xác định: "Về quan hệ đổi mới
kinh tế và đổi mới chính trị phải tập chung sức đổi mới kinh tế, đáp ứng đòi
hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống và làm việc, các nhu cầu xã hội khác,
xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện
quan trọng để tiến hành đổi mới trong lĩnh vực chính trị".
Nh vậy, rõ ràng Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng vận dụng đúng đắn
phơng pháp luận duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
vào công cuộc đổi mới, tiến hành đổi mới kinh tế trớc để tạo điều kiện đổi mới
trong lĩnh vực chính trị, Đại hội VII, sau khi đã phân tích sâu sắc đặc điểm
tình hình quốc tế và trong nớc đã đề ra mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ
thể, những phơng châm chỉ đạo trong năm năm 1991 - 1995, đặc biệt đáng
chú ý là phơng châm kết hợp động lực kinh tế và động lực chính trị tinh thần,
phơng châm tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ đa công tác đổi mới vào
chiều sâu với bớc đi vững chắc, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm đồng thời
thúc đẩy mạnh mẽ việc đổi mới lĩnh vực khác.
Nói về Đảng trong công cuộc đổi mới, báo cáo chính trị trớc Đại hội đã
nhận xét:" Nét nổi bật là trong Đảng đã có sự đổi mới t duy về kinh tế với tinh
thần độc lập sáng tạo, Đảng đã cụ thể hoá và phát triển nghị quyết Đại hội
VIII bớc đầu hình thành hệ thống các quan điểm các nguyên tắc chỉ đạo sự
nghiệp đổi mới ở nớc ta". Sau Đại hội lần thứ VIII, Ban chấp hành TW Đảng
(Khoá VIII) đã đề ra các nghị quyết hội nghị trung ơng 2, 3, 4 và 5 để cụ thể
17
luật của phép biện chứng. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ cũng
18
Tiểu luận triết học
vạch ra những mặt yếu kém về kinh tế "nền kinh tế vẫn còn mang tính chất
nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp nhỏ bé, kết cấu hạ tầng kém phát triển, kinh
tế tuy tăng trởng khá nhng năng suất, chất lợng và hiệu quả còn thấp..." và
những vấn đề tồn tại lớn trong thời gian tới, từ đó đề ra những nhiệm vụ chủ
yếu: thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, thực hiện chính sách nhất quán phát triển kinh tế nhiều thành phần,
xây dựng đồng bộ cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng
xã hội chủ nghĩa chăm lo các vấn đề văn hoá - xã hội, bảo đảm quốc phòng
và an ninh, xây dựng nhà nớc pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân,
đổi mới chỉnh đốn đảng củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.
Sau hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ, TW Đảng (Khoá VIII) ra
nghị quyết về phát triển công nghiệp, công nghệ mới đến năm 2000 theo hớng
công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc, xây dựng giai cấp công nhân trong
giai đoạn mới. Cải cách một bớc nền hành chính nhà nớc (Hội nghị lần thứ
VIII ban chấp hành trung ơng đảng từ 16-23/1/1995). Với nội dung của Hội
nghị trung ơng lần thứ VIII, có thể nó là đã hoàn thành chơng trình cụ thể hoá
một bớc cơng lĩnh và chiến lợc phát triển kinh tế xã hội mà Đại hội VII đã
thông qua.
Với sự thành công của công cuộc đổi mới hơn mời năm (1986 - 1995),
chúng ta càng có cơ sở để khẳng định rằng, công cuộc đổi mới của Đảng và
Nhà nớc ta đã hoàn thành đúng đắn "phù hợp với xu thế phát triển khách quan
của lịch sử tức là chúng ta phải thừa nhận giai đoạn phát triển kinh tế thị trờng
mà trớc đây chúng ta đã phủ nhận.
Trên tinh thần đó, cùng với những kinh nghiệm đã thu đợc những năm
đổi mới, ở đại hội VIII lần này cũng đã đi thực tế khách quan, đánh giá những
cao.
Nh vậy công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xớng và
lãnh đạo ngày càng đợc cụ thể hoá và đi vào chiều sâu đợc nhân dân nhiệt liẹt
hởng ứng và hăng hái thực hiện, chính vì Đảng ngày càng nắm vững và vận
dụng đúng đắn sáng tạo phơng pháp luận triết học toàn diện Mác - lên nin và
20
Tiểu luận triết học
t tởng Hồ Chí Minh. Mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong
công cuộc đổi mới nhằm tăng trởng nền kinh tế là rất rõ ràng. Chỉ xin đơn cử
một ví trị về sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lơng thực trong tình
trạng triền miên thiếu lơng thực. Mỗi năm phải nhập khẩu hơn hàng chục vạn
tấn lơng tực cho nhu cầu trong nớc, năm cao nhất phải nhập khẩu hơn một
triệu tấn. Tình hình đó đã là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến
khủng hoảng kinh tế xã hội ngày càng nghiêm trọng. Các đồng chí trung ơng
Đảng và một số địa phơng (vĩnh yên, hải hng)...đã đi sâu tìm hiểu nguyên
nhân và biện pháp giải quyết. Sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lơng
thực chỉ thực sự từng bớc khởi sắc kể từ khi thực hiện chỉ thị 100 của ban Bí
thi trung ơng Đảng về khoản sản phẩm đến nhóm và ngời lao động, đặc biệt là
khi thực hiện nghị quyết 10 của Bộ chính trị trung ơng Đảng (5/4/1988) về đổi
mới quản lý nông nghiệp. Chỉ một năm sau khi thực hiện nghị quyết 10 của
Bộ chính trị, sản xuất lơng thực đạt 21 triệu 516 ngàn tấn, bình quân lơng thực
đầu ngời đạt 333kg, xuất khẩu 1 triệu 405 tấn gạo. Những năm tiếp theo đó
cho đến nay, sản xuất lơng thực, cũng nh sản xuất nông nghiệp nói chung vẫn
tiếp tục phát triển, năm sau cao hơn năm trớc từ 1,2 đến 10%. Năm 1994, mặc
dù thiên tại gay gắt ở cả 2 miền làm thiệt hại đến hơn 1 triệu tấn nhng sản lơng lơng thực vẫn đạt 26 triệu tấn, mức cao nhất từ trớc tới nay, tăng 2,7% so
với năm trớc, lợng gạo xuất khẩu vẫn đạt hơn 2 triệu tấn. Từ thiếu ăn triển
miên. Việt Nam trong 6 năm qua đã vợt lên đứng thứ 3 trong những nớc xuất
khẩu gaọ trên thế giới. Do sản xuất nông nghiệp phát triển, bộ mặt nông thôn
diện và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu, đề xuất và áp dụng các
chủ trơng chính sấch về kinh tế, các phơng pháp, cơ chế quản lý kinh tế tài
chính theo tinh thần đổi mới để thúc đẩy nền kinh tế của nớc ta vợt qua tình
trạng nớc nghèo và kém phát triển, tránh khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh
tế so với nhiều nớc trong khu vực và nguy cơ chệch hớng xã hội chủ nghĩa.
Trong điều kiện xoá bỏ cơ chế quan liêu, bao cấp cũng có nghĩa là đòi hỏi ngời làm công tác quản lý kinh tế, tài chính phải năng động sáng tạo, nhạy bén,
nắm bắt đợc thực tế và quy luật vận động và phát triển của nó. Kinh nghiệm
cho thấy rằng, đôi khi chỉ cần một nhận định không đúng, một thông tin
22
Tiểu luận triết học
xuyên tạc, một từ ngữ không đợc chú ý đầy đủ trong bản hợp đồng kinh tế....
hoặc chỉ cần hành động chậm hoặc hành động quá vội vã là đã có thể dẫn đến
thiệt hại lớn về kinh tế: ngợc lại, khi chỉ cần nhanh một chút, chỉ cần biết cách
quảng cáo kịp thời và đúng đắn, chỉ cần một thông tin kịp thời, chính xác cũng
có thể đạt tới thắng lợi không nhỏ. Sự két hợp giữa xuất phát từ thực tế khách
quan và phát huy nỗ lực chủ quan, kết hợp giữa tình cảm, ý chí với trí tuệ ở
đây phải đạt đến độ thành thực và nhuần nhuyễn, phải đạt đến nghệ thuận.
Muốn vậy, trớc hết cần xuất phát từ những biện pháp hành động phân tích các
số liệu, nắm bắt mọi tình hình, đề xuất những biện pháp hành động cho lãnh
đạo. Muốn vậy, trớc hết cần xuất phatừ từ thực tế khách quan, đồng thời phát
huy nỗ lực chủ quan, đảm bảo sự thống nhất giữa nhiệt tình, ý trí cách mạng
và tri thức khoa học trong công tác nghiên cứu cụ thể. Cần đấu tranh chống
chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, t tởng nóng vội, phiêu lực, mạo hiểm, bất chấp
quy luật khách quan, cần rèn luyện tính kiên nhẫn, chăm chỉ, cẩn thận, tinh
thần thực sự cầu thị, tinh thần ham học hỏi, tính chủ động, nhạy bén, dám
nghĩ, dám làm, chủ động sáng tạo ra thờicơ, giành lấy thời cơ. Rèn luyện đợc
những phẩm chất ấy, ngời cán bộ khoa học kinh tế không những sẽ đứng vững
trên vị trí của mình và còn có thể vợt xa lên để có thể trở thành những nhà
Tài liệu tham khảo
1. V.I. Lênin toàn tập
2. Đảng cộng sản Việt Nam - cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ
quá độ lên XHCN.
NXB sự thật/ 1991
3. Chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000
NXB sự thật 1991
4. Giáo trình triết học Mác - Lênin
NXB Chính trị Quốc gia
5. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI.
6. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII.
7. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII.
8. Kinh tế 98 - 99 Việt Nam và Thế giới.
9. Thời báo kinh tế Việt Nam.
10. Tạp chí nghiên cứu thế giới.
11. Tạp chí Cộng sản.
25