trình bày về tri thức, phân loại tri thức, các dạng tồn tại của tri thức, các hình thức chia sẻ của tri thức - Pdf 10

Kinh tế thông tin
BÀI KIỂM TRA: KINH TẾ THÔNG TIN
Câu 1 : Trình bày về tri thức, phân loại tri thức, các dạng tồn tại của tri thức,
các hình thức chia sẻ của tri thức.
Câu 2 : Nền kinh tế tri thức, quá trình hình thành nền kinh tế tri thức.
Câu 3 : Những đặc trưng cơ bản của KTTT.
Câu 4 : Các tiêu chí phản ánh nền KTTT: Vấn đề tính giá trị tăng thêm và
giá trị sản xuất của nền KTTT, các tiêu chí phản ánh sự chuyển dịch sang nền
KTTT, nhận dạng nền KTTT ở nước ta.
Câu 5 : Các chỉ số đánh giá mức độ phát triển của nền kinh tế tri thức.
Đặng Thế Chi Tin học kinh tế K49
1
Kinh tế thông tin
Câu 1 : Trình bày về tri thức, phân loại tri thức, các dạng tồn tại của tri thức,
các hình thức chia sẻ của tri thức.
Trả lời :
a) Tri thức
Dựa trên những quan điểm khác nhau mà có những nhận định khác nhau
về khái niệm kinh tế tri thức. Thông thường, Tri thức là sự hiểu biết có hệ thống
của sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội. Triết học, tri thức là kết quả của
nhận thức là phản ánh trung thực của thực tiễn vào tư duy của con người. Trên
phương diện hành vi, tri thức là khả năng của một cá nhân hay của một nhóm
thực hiện, hoặc chỉ dẫn, xui khiến những người khác thực hiện các quy trình
nhằm tạo ra các sự chuyển hóa có thể dự báo được của các vật liệu. Trên
phương diện kinh tế, tri thức là tư liệu sản xuất. Nó được sinh ra, trao đổi và sử
dụng sản xuất để tạo ra sản phẩm và dịch vụ. Tri thức phải được đánh giá, có giá
trị và được mua bán trên thị trường.
b) Phân loại tri thức :
• Biết cái gì ( Know- what).
• Biết tại sao ( Know- why).
• Biết ai ( Know- who).

Trả lời :
a) Có rất nhiều khái niệm về kinh tế tri thức :
• Nền kinh tế số nhấn mạnh vai trò của CNTT.
• Nền kinh tế thông tin nhấn mạnh đến yếu tố quan trọng hàng đầu
trong phát triển kinh tế - xã hội là thông tin chứ không phải là tài nguyên
vật thể(đất đai, khoáng sản, )
• Nền kinh tế học hỏi nhấn mạnh đến yêu cầu học tập, vai trò của
giáo dục đào tạo với việc nâng cao trình độ và làm giàu tri thức của mỗi
thành viên trong xã hội.
• Nền kinh tế mới nhấn mạnh đến sự phân biệt giữa các nền kinh tế
đã và đang tồn tại.
• Trên quan điểm sản xuất, nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà tri
thức là một đầu vào cơ bản. Quan điểm cổ điển cho rằng đầu vào chỉ bao
gồm nguyên liệu, vốn, lao động. Quan điểm kinh tế tri thức bố sung thêm
yếu tố tri thức vào các đầu vào, đồng thời tri thức đóng vai trò chủ đạo,
vốn chiếm tỷ trọng rất lớn so với các đầu vào còn lại.
• Kinh tế tri thức là tên gọi thường dùng nhất. Tổ chức OECD ( tổ
chức hợp tác và phát triển kinh tế) chính thức dùng thuật ngữ này từ năm
1995. Tên gọi này nói lên được nội dung cốt lõi của nền kinh tế mới. Định
nghĩa (OECD) : Kinh tế tri thức là một nền kinh tế mà cốt lõi của nó là sự
sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức của con người đóng vai trò quyết
định nhất đối với sự phát triển của kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất
lượng cuộc sống.
• Ở các nước trên thế giới, kinh tế tri thức thúc đẩy kinh tế đi lên rõ
rệt. Bắc Mỹ và một số nước Tây Âu, kinh tế tri thức đã đóng góp 45- 50
% GDP. Ở Australia, các ngành công nghiệp dựa trên tri thức đóng góp
Đặng Thế Chi Tin học kinh tế K49
4
Kinh tế thông tin
gần một nửa GDP. Dự báo đến năm 2030 các nước phát triển sẽ có nền

đối tượng lao động tạo ra của cải vật chất.
• Tri thức khoa học - công nghệ đã trở thành nguyên nhân trực tiếp của mọi
biến đổi trong kinh tế - xã hội, tạo ra những nghành sản xuất, những
phương pháp sản xuất, những vật liệu, năng lượng mới với ưu thế vượt
trội.
• Tri thức, khoa học - công nghệ trở thành bộ phận hữu cơ của cả hệ thống
kinh tế - xã hội, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tất cả các nghành
đều phải dựa vào tri thức, vào những thành tựu khoa học - công nghệ để
phát triển.
• Trong kinh tế tri thức con người vẫn đóng vai trò quan trọng, vẫn là chủ
thể của quá trình sản xuất song hoạt động, yêu cầu của họ được thay đổi
căn bản, người lao động là họ vừa nghiên cứu vừa sản xuất,sản phẩm của
họ là những phát minh được ứng dụng ngay vào sản xuất.
2) Trong kinh tế tri thức, tri thức và những phát minh khoa học-công nghệ
sản sinh từ tri thức ở trình độ cao là yếu tố cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh
của sản phẩm, của doang nghiệp và của quốc gia.
• Trong KTTT vốn và tài sản quý nhất là tri thức, quyền sở hữu trí tuệ
trở thành quan trọng nhất, hơn cả sở hữu về vốn tài chính, tài nguyên
và đất đai.
• Những thành tựu mới nhất của khoa học-công nghệ được ứng dụng
vào sản xuất làm cho sản phẩm có chất lượng cao thích hợp với yêu
cầu của người sử dụng, làm cho lợi thế về tài chính và vật chất được
phát huy một cách có hiệu quả nhất.
Đặng Thế Chi Tin học kinh tế K49
6
Kinh tế thông tin
• Do tri thức tạo lên lợi thế cạnh tranh to lớn của sản phẩm nên sáng
tạo được coi là động lực của phát triển và đầu tư vào nghiên cứu
phát minh ngày càng được coi trọng.
• Trong cạnh tranh sự đổi mới công nghệ, sự năng động nhậy bén với

tuệ con người đồng thời nó là phương tiện quan trọng hàng đầu cho
phát triển trí tuệ.
• CNTT được phát triển và ứng dụng rộng rãi vào đời sống kinh tế-xã
hội dẫn tới việc thiết lập mạng thông tin đa phương tiện phủ khắp
đất nước và kết nối toàn cầu.
• Nhiều nước trên thế giới đã coi phát triển CNTT là ngành kinh tế
mũi nhọn thúc đẩy sự phát triển.
• CNTT đã làm thay đổi một cách sâu rộng và trực diện nhất thông tin
về mọi vấn đề, tạo nên sự đột biến về cung cấp và tìm kiếm thông
tin.
• CNTT đã trực tiếp và nhanh chóng làm thay đổi cơ cấu sản xuất, tạo
ra hàng hóa mới, thúc đẩy tiến bộ khoa học-công nghệ, tăng trưởng
kinh tế.
• CNTT là công cụ hữu hiệu để tổ chức, phân tích dữ liệu đưa ra các
quyết định điều hành sản xuất kinh doanh, thương mại.
Đặng Thế Chi Tin học kinh tế K49
8
Kinh tế thông tin
Câu 4 : Các tiêu chí phản ánh nền KTTT: Vấn đề tính giá trị tăng thêm và
giá trị sản xuất của nền KTTT, các tiêu chí phản ánh sự chuyển dịch sang nền
KTTT, nhận dạng nền KTTT ở nước ta.
Trả lời :
1. Vấn đề tính giá trị tăng thêm và giá trị sản xuất của nền kinh tế tri thức.
Vấn đề mấu chốt là vạch ra khái niệm sản phẩm của nền kinh tế tri thức.
Sản phẩm có hàm lượng chất xám cao là sản phẩm của nền kinh tế tri thức.
Nhưng hàm lượng cao là bao nhiêu và chất xám đo bằng gì?
Công nghiệp phần mềm mà sản phẩm là các chương trình máy tính có giá
trị gia tăng thường trên 80% được coi là bộ phận cấu thành của nền kinh tế tri
thức. Tuy nhiên, những sản phẩm (vật chất và dịch vụ) có giá trị tăng thêm trên
50% nhưng được tạo ra bởi đội ngũ lao động cao cấp, chất lượng cao (đại học

• Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển thị trường khoa học công nghệ.
• Các chỉ tiêu phản ánh sự hình thành và phát triển thương mại điện
tử.
• Các chỉ tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó đào
tạo công nghệ thông tin.
• Doanh số của ngành công nghệ thông tin, công nghiệp phần mềm
và tỷ lệ tăng trưởng của chúng qua các năm.
3. Nhận dạng nền kinh tế tri thức ở nước ta
Trong bối cảnh chung toàn cầu của những chuyển dịch mang tính cơ cấu
như cuộc cách mạng công nghệ thông tin và truyền thông, những tiến bộ nhanh
chóng và vượt bậc của khoa học - công nghệ, làn sóng toàn cầu hoá kinh tế dâng
mạnh thúc đẩy cạnh tranh trên quy mô toàn cầu, những thay đổi trong nền kinh
tế văn hoá, lối sống và thị yếu của người tiêu dùng khi thu nhập tăng lên, các
quốc gia đang chuẩn bị cho mình khung chính sách để thích ứng với bối cảnh
mới đó.
Phân tích chiến lược điều chỉnh thực tế của các quốc gia, chúng ta thấy các
ưu tiên chính sách chung sau: xây dựng một mạng viễn thông phát triển, cước
phí rẻ và hiệu quả; tăng năng suất thông qua các ngành kinh doanh có hàm
Đặng Thế Chi Tin học kinh tế K49
10
Kinh tế thông tin
lượng thông tin và giá trị tăng thêm cao; tăng tính cạnh tranh của khu vực công
nghiệp và thương mại; hỗ trợ khu vực dịch vụ thông tin; đầu tư tập trung cho
giáo dục và đào tạo (đặc biệt là giáo dục kỹ thuật) kết hợp với các chương trình
học tập suốt đời và nâng cao kỹ năng; nâng cao mặt bằng dân tri, người dân
được thông tin tốt và tham gia sâu rộng hơn vào nền dân chủ, các chiến lược ủng
hộ và bảo tồn các giá trị văn hoá.
Ngày nay, các nước đi sau hoàn toàn có thể gặt hái những cơ may của làn
sóng công nghệ mới. Họ hoàn toàn có khả năng bắt kịp nhanh chóng các nước đi
trước bởi chính tính ưu việt của làn sóng công nghệ mới hiện nay. Là nước đi

ngành manh mún. Trên thế giới có rất nhiều khu công nghệ cao hay các
vườn ươm doanh nghiệp song thành công không nhiều vì tính đồng bộ
của môi trường thể chế, chính sách cũng như các điều kiện văn hoá - xã
hội chưa cao
• Trong thời đại kinh tế tri thức, lợi thế cạnh tranh chuyển từ tài
nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động nhiều sang tri thức, kỹ năng và tính
sáng tạo. Tất cả các yếu tố này chỉ có thể tìm thấy trong con người, do đó
con người trở thành tài sản quý nhất của xã hội, miễn là tạo ra của cải cho
xã hội đó. Công nhân tri thức, vì thế, trở thành yếu tố sản xuất hàng đầu
quyết định sức cạnh tranh của mỗi quốc gia (The Economist 2001). Đất
nước nào thu hút được nhiều công nhân tri thức sẽ dẫn đầu trong quá trình
chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức. Ở đây, chính sách nhập cư đóng vai
trò quyết định. Đối với Việt Nam, giữ được "chất xám" đã khó, thu hút
được "chất xám" thế giới còn khó gấp bội. Nếu làm được điều này, Việt
Nam sẽ rút ngắn đáng kể quá trình Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá nền
kinh tế, tiếp cận nhanh hơn vào nền kinh tế tri thức.
• Tăng cường công tác bảo hộ quyền tác giả và phát triển nhanh các
ngành kinh tế dựa vào quyền tác giả. Việt Nam đã tham gia Công ước
Bern về quyền tác giả từ ngày 26-10-2004. Tuy nhiên, vấn đề là phải thực
thi có hiệu lực, hiệu quả làm cơ sở phát triển các ngành dựa vào tri thức.
• Chỉ riêng tại Mỹ, các ngành công nghiệp dựa trên quyền tác giả đã
tạo ra hơn 460 tỷ đô la vào GDP và xuất khẩu tới 80 tỷ đô la mỗi năm.
Đặng Thế Chi Tin học kinh tế K49
12
Kinh tế thông tin
Trong nền kinh tế tri thức toàn cầu các ngành công nghiệp dựa trên quyền
tác giả không những đóng góp phần quan trọng vào tổng thu nhập quốc
dân mà còn cung cấp "nguyên liệu trí tuệ, đầu vào cho khoa học, giáo dục,
truyền bá kiến thức, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Thông qua hỗ trợ sáng tạo,
các ngành này thúc đẩy sản xuất gia tăng mạnh mẽ và tạo ra nhiều việc

tính toán đựa trên điểm trung bình đã được chuẩn hoá của mỗi một nước- vùng
lãnh thổ trên bốn tiêu chí được xem là bốn cột trụ của nền kinh tế tri thức.Đó là
các tiêu chí.
1) Chế độ khuyến khích kinh tế (EIR):
• Hàng rào thuế quan và phi thuế quan: là chỉ số gán cho mỗi nước
dựa trên cơ sở phân tích các rào cản thuế quan và phi thuế quan
trong thương mại nhu côta, những đòi hỏi ngặt nghèo trong cấp giấy
phép
• Chất lượng quản lý: là chỉ số đo tác động của các chính sách không
khuyến khích thị trường như kiểm soát giá cả ; quản lý các ngân
hàng lỏng lẻo, ý thức về các chi phí sinh ra do quản lý quá ngặt
nghèo ngoại thương và phát triển doanh nghiệp
• Nền pháp trị: gồm một số chỉ số đo đạc mức độ an tâm của người
môi giới vào quy định của pháp luật như tính hiệu quả và tính lường
trước được của các phán quyết do bộ máy tư pháp đưa ra, tính bắt
buộc thực thi của các hợp đồng
2) Giáo dục và nguồn nhân lực (GD):
• Tỷ lệ người lớn từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết.
• Tỷ lệ huy động vào trường trung học xét theo độ tuổi .
• Tỷ lệ huy động vào trường đại học xét theo độ tuổi .
3) Cải tiến kỹ thuật (KT):
Đặng Thế Chi Tin học kinh tế K49
14
Kinh tế thông tin
• Tiền và hoá đơn thanh toán (tính theo triệu USD và theo dân số)
giữa người trong nước và nước ngoài để có quyền sử dụng bản
quyền, thương hiệu , quy trình chế biến
• Số lượng đơn ( số lượng tuyệt đối và theo dân số) xin cấp bằng sáng
chế được tổ chức chuyên trách cấp phép.
• Các bài báo khoa học kỹ thuật về toán, lý, hoá, sinh, y và y-sinh, kỹ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status