TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI & KINH TẾ QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ QUỐC TẾ
o0o
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM HIỆN
NAY VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
(Trường hợp: Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương)
Hà Nội, tháng 04 năm 2010
Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA
VIỆT NAM HIỆN NAY 4
1.1. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT
NAM QUA CÁC THỜI KỲ 4
1.1.1. Thời kỳ trước 1989 4
1.1.2. Thời kỳ từ năm 1989 đến năm 1999 6
1.1.3 Giai đoạn từ 1999 đến nay 10
1.2 ĐÁNH GIÁ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI DOÁI CỦA
VIỆT NAM 19
1.2.1 Thời kỳ trước năm 1989 19
1.2.2 Thời kỳ từ 1989 đến nay 20
Chương 2
ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 24
3.2.3 Sử dụng các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ hợp lý để hạn chế rủi ro tỷ
giá hối đoái và tăng lợi nhuận 51
3.2.4. Tăng cường khả năng dự đoán tỷ giá hối đoái 53
3.2.5 Giải pháp về nghiệp vụ kinh doanh 54
3.2.6 Xây dựng chương trình quản trị rủi ro 54
3.2.6.1 Xác định hạn mức rủi ro 55
3.2.6.2 Đánh giá rủi ro 56
3.3 KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC 57
Sinh viên Cao Thị Lan Hương – Lớp KTQT 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
3.3.1 Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng 57
3.3.2 Hoàn thiện chính sách quản lý trạng thái ngoại tệ 58
3.3.3 Hình thành công ty môi giới ngoại hối 59
3.3.4. Hướng thị trường ngoại hối Việt Nam hội nhập thị trường thế giới60
KẾT LUẬN 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Sinh viên Cao Thị Lan Hương – Lớp KTQT 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Tỷ giá mậu dịch VND/USD qua các năm từ 1985 – 1989 5
Đồ thị 1.1: Tỷ giá USD/VND năm 1990 – 1991 6
Đồ thị 1.2 : Diễn biến tỷ giá chính thức USD/VND từ 1992 - 1999 9
Đồ thị 1.3 Tỷ giá VND/USD năm 2001 – 2003 11
Đồ thị 1.4 Tỷ giá VND/EUR năm 2001 -2003 12
Đồ thị 1.5. Tỷ giá VND/NDT năm 2001 - 2003 12
Bảng 1.2: Diễn biến tỷ giá, tương quan giữa tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực
song phương 13
Đồ thị 1.6 : Tỷ giá USD/VND 2008 - 2009 17
Đồ thị 2.1: Cơ cấu trình độ nhân sự Oceanbank 30
Đồ thị 2.2: Tăng trưởng nhân sự từ 2006 – 2009 31
Product
Tổng thu nhập
quốc dân
Sinh viên Cao Thị Lan Hương – Lớp KTQT 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng hội nhập hóa toàn cầu, nền kinh tế thị trường không chỉ bó
hẹp trong nội bộ từng quốc gia nữa mà ngày càng mở rộng và vươn ra ngoài lãnh
thổ của mỗi nước. Điều đó đã giúp cho nền kinh tế của các quốc gia phát triển
vượt bậc nhờ vào quan hệ giao thương với nước ngoài. Mỗi một nước lại có một
chế độ tiền tệ khác nhau, một loại đồng tiền lưu thông đặc thù. Bên cạnh đó, do
sự khác nhau về xuất phát điểm, điều kiện tự nhiên hay do những điều kiện tác
động khác đã làm cho kinh tế các nước phát triển không đồng đều, dẫn đến mỗi
đồng tiền của mỗi nước cũng có độ mạnh yếu khác nhau. Vì vậy để lưu thông
hàng hóa trên thế giới người ta phải quy đổi đồng tiền nước này ra đồng tiền
nước khác theo một tỷ lệ mà thường gọi là tỷ giá hối đoái.
Trong quá trình lưu thông hàng hóa đó, đã hình thành nên hoạt động kinh
doanh ngoại tệ của các NHTM để giúp những nhà xuất nhập khẩu chuyển đổi
tiền tệ nhằm thực hiện thương mại quốc tế và hoàn thiện rủi ro tỷ giá. Như vậy
có thể thấy, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ
với tỷ giá hối đoái.
Kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, tiềm
ẩn nhiều rủi ro, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ. Thống đốc ngân hàng
Lê Đức Thúy từng phát biểu: “ Kinh doanh bao giờ cũng có rủi ro, kinh doanh
ngoại tệ lại càng rủi ro bởi đánh giá được biến động của các đồng tiền trên thị
trường quốc tế chỉ tính bằng phút. Chỉ cần tính sai là lỗ”. Do tỷ giá biến động
thường xuyên và khó dự đoán nên rủi ro tỷ giá trở thành rủi ro đặc trưng của hoạt
động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng.
Vì vậy, việc nghiên cứu chính sách tỷ giá và ảnh hưởng của biến động tỷ giá
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục lục, bố cục của đề tài có 3 chương:
Chương 1: Thực trạng chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam hiện nay.
Chương 2: Ảnh hưởng của biến động tỷ giá hối đoái tới hoạt động kinh
doanh ngoại tệ tại NHTM (trường hợp Ngân hàng TMCP Đại Dương)
Chương 3: Giải pháp thích ứng của ngân hàng trước biến động tỷ giá hối
đoái hiện nay
Sinh viên Cao Thị Lan Hương – Lớp KTQT 48A 3
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 1
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA
VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM
QUA CÁC THỜI KỲ
1.1.1. Thời kỳ trước 1989
Sau khi thống nhất đất nước đến trước năm 1989, hệ thống chính sách và
cơ chế quản lý kinh tế theo mô hình kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp
XHCN ở miền Bắc đã được áp dụng trên phạm vi cả nước. Cơ chế này đã đem
lại những thành tựu nhất định trong huy động sức người, sức của cho công cuộc
giải phóng đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh,… Tuy nhiên, do duy trì cơ
chế này quá lâu nên đã nảy sinh những mâu thuẫn, rối loạn sâu sắc trong quá
trình phát triển kinh tế đất nước. Dưới cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước
can thiệp vào mọi mặt đời sống kinh tế xã hội. Vì vậy chính sách tỷ giá hối đoái
giữa đồng Việt Nam và ngoại tệ thời kỳ này là chế độ tỷ giá cố định – đa tỷ giá,
do Nhà nước quy định không tính đến biến động giá trên thị trường, đã hình
thành một hệ thống tỷ giá khá phức tạp được xác lập theo quan điểm kinh tế cũ.
Năm 1955, khi Việt Nam bắt đầu có quan hệ ngoại thương với Trung Quốc,
các nhà kinh tế đã lựa chọn phương pháp xác định tỷ giá trên cơ sở ngang giá
sức mua giữa 2 đồng tiền và sau đó được quy định trong các Hiệp định thanh
toán. Cụ thể, tỷ giá chính thức giữa đồng Việt Nam và đồng Nhân dân tệ (CNY)
66,6
1989 3.900 4.100
5,12
Nguồn: PGS.PTS Nguyễn Công Nghiệp – Lê Hải Mơ – Tỷ giá hối đoái –
Phương pháp tiếp cận và nghệ thuật điều chỉnh – NXB Tài Chính 1996
Có thể thấy viêc chỉ áp dụng tỷ giá chính thức do Ngân hàng Trung ương áp
đặt tạo nên khoảng chênh lệch khá xa so với sức mua thực tế của USD và thị
trường “chợ đen”, mặc dù mức chênh lệch này cũng đã giảm rõ rệt qua các năm.
Sinh viên Cao Thị Lan Hương – Lớp KTQT 48A 5
Chuyên đề tốt nghiệp
Tóm lại, với chính sách tỷ giá hối đoái cố định thời kỳ trước năm 1989 đã
không những triệt tiêu tính năng động, không phát huy được vai trò của tỷ giá
còn gây không ít khó khăn cho quản lý, điều hành trong lĩnh vực tài chính, tiền
tệ, kinh tế đối ngoại, đồng thời để lại hiệu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế. Vì
thế, nhu cầu đổi mới chính sách tỷ giá hối đoái trở thành vấn đề cấp bách.
1.1.2. Thời kỳ từ năm 1989 đến năm 1999
Có thể nói, năm 1989 là mốc quan trọng trong sự phát triển chính sách tỷ giá
hối đoái ở nước ta khi quan hệ ngoại thương với các thị trường truyền thống ở
Đông Âu và Liên Xô bị gián đoạn, khiến chúng ta phải chuyển sang buôn bán
với khu vực thanh toán bằng Đô la Mỹ. Vì thế cơ chế tỷ giá cố định đã được thay
thế dần bằng cơ chế Nhà nước điều tiết theo quan hệ thị trường. Việc làm này đã
chấm dứt trạng thái đồng nội tệ đánh giá cao so với đồng tiến nước khác. Tỷ giá
thực được quyết định trước hết qua quan hệ cung – cầu trên thị trường.
Trong năm 1990 – 1991, tỷ giá hối đoái VND/USD biến động mạnh theo xu
hướng giá trị đồng đô la Mỹ tăng liên tục:
Đồ thị 1.1: Tỷ giá USD/VND năm 1990 – 1991
Nguồn: TS Nguyễn Thị Thư – Tỷ giá hối đoái – chính sách và tác động của nó đối với ngoại
thương qua thực tiễn phát triển kinh tế một số nước – NXB Chính trị Quốc gia – 2004
Những số liệu trên cho thấy sự biến động mạnh mẽ của tỷ giá VND/USD từ
cuối năm 1990. Đỉnh cao của mức tăng giá trị đồng đôla Mỹ là cuối năm 1991.
Sinh viên Cao Thị Lan Hương – Lớp KTQT 48A 7
Chuyên đề tốt nghiệp
triệu USD. Vì vậy, tình hình cung cầu ngoại tệ bớt căng thẳng, giá Đôla Mỹ
giảm nhanh. Mức giá phổ biến trên thị trường tư nhân tại Hà Nội năm 1993 trung
bình từ 10.300 đến 10.400 VND/USD, tại thành phố Hồ Chí Minh là khoảng
9.750 VND/USD.
Để hạn chế ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu và kích thích nhập khẩu quá mức,
NHNN phải can thiệp nhằm tăng giá USD bằng cách mua USD làm ngăn chặn
xu hướng giảm giá quá mức đồng tiền này. Nhờ vậy từ tháng 3 năm 1993, USD
đã tăng và duy trì ổn định. Ngày 4/8/1994, Chính phủ ban hành quyết định số
396/TTg quy định việc sử dụng ngoại tệ trên tài khoản của doanh nghiệp. Theo
đó, doanh nghiệp chỉ để lại một phần để chi tiêu, còn lại phải bán hết cho Ngân
hàng. Quyết định này cũng quy định mọi hoạt động thanh toán, mua bán, chi trả
đều phải thực hiện qua ngân hàng, công ty tài chính được phép, quy định sử
dụng đồng Việt Nam, tập trung nguồn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng, hạn chế
sử dụng ngoại tệ, hướng tới mục tiêu chỉ lưu hành VND trên đất Việt Nam. Ngày
20/10/1994, quy định 203/QD – NH ra đời quy định thay hai trung tâm giao dịch
ngoại tệ tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh bằng thị trường ngoại tệ liên
ngân hàng. Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng mang tính thị trường cao hơn, linh
hoạt hơn, sâu rộng và khách quan hơn Trung tâm giao dịch trước đây. Và thông
qua thị trường liên ngân hàng, tỷ giá được xác dịnh phản ánh thực tế sức mua
của VND và được NHNN công bố hằng ngày trên phương tiện thông tin đại
chúng. Trên cơ sở tỷ giá đó, NHTM sẽ xác định tỷ giá giao dịch với Ngân hàng
theo biên độ 5% so với tỷ giá công bố.
Sinh viên Cao Thị Lan Hương – Lớp KTQT 48A 8
Chuyên đề tốt nghiệp
Đồ thị 1.2 : Diễn biến tỷ giá chính thức USD/VND từ 1992 - 1999
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu báo cáo thường niên của NHNN
Thống kê tài chính quốc tế IFS các năm)
Cuối năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khởi nguồn từ Thái Lan
1.1.3 Giai đoạn từ 1999 đến nay
Thời kỳ từ 1999 đến 2007
Sau khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997, Việt Nam đã lựa chọn
cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết. Từ bỏ cơ chế tỷ giá neo mềm, theo đó
tỷ giá thị trường được giao dịch quanh tỷ giá chính thức do NHNN công bố và
một biên độ được ấn định sẵn. Ngày 26/02/1999, NHNN đã đưa ra quyết định
thay thế tỷ giá chính thức bằng tỷ giá bình quân liên ngân hàng. Các NHTM
được phép xác định tỷ giá mua và bán đối với đôla Mỹ không vượt quá 0,1% so
với tỷ giá giao dịch thực tế bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do
NHNN công bố hằng ngày. Đây là lần đầu tiên tỷ giá do NHNN công bố phản
ánh mức tỷ giá do thị trường quyết định. NHNN tham gia vào thị trường liên
ngân hàng bằng hoạt động mua bán ngoại tệ trên thị trường này. Hành động này
thực chất là được soi đường bởi một “tỷ giá mục tiêu”. Tỷ giá mục tiêu là mức tỷ
giá mà tại đó các nguồn lực tài chính được phân bổ một cách hiệu quả nhất. Như
vậy sự đổi mới này làm cho tỷ giá trên thị trường vận động một cách khách
Sinh viên Cao Thị Lan Hương – Lớp KTQT 48A 10
Chuyên đề tốt nghiệp
quan, phản ánh đúng các quan hệ cung – cầu về ngoại tệ trên thị trường, phù hợp
với cơ chế tỷ giá trên thế giới.
Tuy nhiên, do biên độ dao động so với tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân
hàng quá hẹp (0,1%) nên trong khoảng thời gian 1999 – 2001, tỷ giá VND/USD
chỉ biến động một chiều, không thúc đẩy việc yết giá cạnh tranh giữa các Ngân
hàng, thủ tiêu tính năng động của thị trường. Vì thế từ ngày 01/07/2002, NHNN
đã ra quy định 5 kỳ hạn với biên độ nới rộng hơn trước: tăng 0,25% so với mức
0,1% trước đó đối với nghiệp vụ giao ngay; 0,5% so với 0,4% của nghiệp vụ
giao dịch kỳ hạn 30 ngày, … việc điều chỉnh này đã đáp ứng được yêu cầu của
tổ chức tín dụng cũng như các doanh nghiệp có nhu cầu mua bán ngoại tệ với
Ngân hàng.
Ngoài ra, NHNN còn có các biện pháp hỗ trợ cho chính sách tỷ giá về
phương diện quản lý như: tỷ lệ kết hối giảm từ 100% xuống 80% rồi 40% và
thức
% lên giá của
VND
Tỷ gía thực
song phương
USD/VND
2001 15070 -5.2 1.103
2002 15368 -3.9 1.100
2003 15608 -3.8 1.105
2004 15736 +7.1 1.051
2005 15859 +17.3 1.012
2006 15950 +26.4 0.983
(Nguồn : Tổng hợp số liệu NHNN, Tổng cục thống kê và IFS các năm)
Theo bảng số liệu trên có thể thấy từ năm 2004, VND đã lên giá đáng kể so
với USD do nguồn vốn nước ngoài chảy vào ngày càng nhiều. Trong thời kỳ
khủng hoảng kinh tế, VND có phá giá nhẹ song vẫn lên giá so với hầu hết các
đồng tiền khác. Từ cuối năm 2007 thì VND đã lên giá khá nhanh và mạnh (có
thời điểm lên tới 25% so với 2006).
Sinh viên Cao Thị Lan Hương – Lớp KTQT 48A 13
Chuyên đề tốt nghiệp
Thời kỳ từ 2008 đến nay
Trong năm 2008, thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát theo chỉ đạo của
Chính phủ, NHNN điều hành chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt kể từ tháng
01 đến tháng 8/2008. Nhưng từ tháng 9/2008 cho đến hết năm 2008 đến nay,
NHNN chuyển dần sang điều hành chính sách tiền tệ theo hướng linh hoạt, nhằm
góp phần phòng chống sự suy giảm kinh tế do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
tài chính toàn cầu. Bên cạnh đó, NHNN cũng thực hiện nhiều giải pháp tăng
cường quản lý ngoại hối và tiếp tục đổi mới cơ chế điều hành tỷ giá theo hướng
hội nhập quốc tế, tăng quyền tự chủ hơn cho các NHTM. Đồng thời để cho tỷ giá
diễn biến linh hoạt hơn theo quan hệ cung cầu trên thị trường, hướng tới khuyến
sốt tỷ giá lần thứ 2 trong năm nhưng mức độ không lớn bằng đợt đầu tháng
6/2008.
Giá đôla Mỹ trên thị trường tự do được đánh giá là “ sụt giảm nghiêm trọng”
ở thời điểm đầu tháng 3 đến ngày 14, 19/3/2008, giá mua vào đôla Mỹ là 15.470
– 15.480 VND/USD, bán ra 15.550 VND/USD, giảm mạnh so với mức giá ngày
07/03/2008. Mức giá kể từ ngày 11/03/2008 là mức tỷ giá thấp nhất kể từ giữa
năm 2003 đến thời điểm đó và giảm tới 600 đồng/USD trong hơn 3 năm qua.
Trên thị trường mua bán ngoại tệ của các NHTM đối với doanh nghiệp và
khách hàng, tỷ giá bán ra của các NHTM chỉ còn 15.860 VND/USD ngày
14/03/2008 nhưng vẫn còn có khoảng cách khá xa so với tỷ giá trên thị trường tự
do. Trên thị trường tự do, nếu như đầu năm 2008, tỷ giá còn dao động quanh
mức 16.000 VND/USD – 16.200 VND/USD, thì đến giữa tháng 3/2008 tỷ giám
giảm xuống còn 15.400 VND/USD. Nhưng từ cuối tháng 5 đã có thời điểm tăng
lên 19.000 – 19.200 VND/USD, ngày 19/6/2008 còn lên tới đỉnh điểm là 19.800
VND/USD. Tính ra chỉ trong thời gian khoảng 1 tháng, tỷ giá đã tăng lên 14%,
Sinh viên Cao Thị Lan Hương – Lớp KTQT 48A 15
Chuyên đề tốt nghiệp
đây là mức tăng hiếm gặp trong nhiều năm qua và biến động bất thường, tăng tới
gân 20% trong khoảng 3 tháng.
Khoảng từ cuối năm 2008, tỷ giá lại tăng nhẹ, tỷ giá mua bán của NHTM với
doanh nghiệp xoay quanh mức 16.900 – 16.980 VND/USD, tỷ giá trên thị trường
tự do cũng có thời điểm tăng lên tới 17.400 VND/USD.
Sự biến động này có thể giải thích rằng, nếu như trong quý 1/2008, tỷ giá
giảm là do lượng kiều hối dồn về nhiều từ cuối năm 2007 đến tháng 02/2008 khi
việt kiều về nước, áp lực từ việc nhà đầu tư nước ngoài mua trái phiếu Chính phủ
khoảng 1,4 tỷ USD, doanh nghiệp xuất khẩu vay USD chuyển đổi ra VND sản
xuất kinh doanh, các NHTM bán USD để trạng thái đoản, thì đến quý 2, tỷ giá
tăng là hệ quả của nhiều yếu tố khác.
Trước hết, thâm hụt cán cân thương mại lớn (7,22 tỷ USD trong 3 tháng từ
tháng 4 - 6); nhu cầu mua ngoại tệ trả các khoản nợ của cả doanh nghiệp xuất và
Nguồn: Global Financial Data, Ngân hàng Nhà nước và tổng hợp của Trường Fulbright.
Qua đồ trên có thể thấy tình hình tỷ giá bắt đầu diễn biến tăng liên tục từ đầu
năm 2009, thị trường ngoại hối luôn trong tình trạng căng thẳng. Dường như
Sinh viên Cao Thị Lan Hương – Lớp KTQT 48A 17
Chuyên đề tốt nghiệp
chính sách tỷ giá của NHNN chỉ nhằm rút ngắn khoảng cách giữa tỷ giá chính
thức và tỷ giá tự do, thu hút lượng ngọai hối về ngân hàng để phục vụ mục tiêu
điều hành của Chính phủ.
Nguyên nhân của tình trạng căng thẳng tỷ giá này là do VND đã chịu sức ép
giảm giá so với USD trong một thời gian dài. So với đầu năm 2007, VND đã
tăng giá khoảng 20% so với USD tính theo tỷ giá thực, trong đó nguyên nhân
lạm phát (đo bằng CPI) ở Việt Nam trong hai năm 2007 và 2008 là rất cao, lần
lượt là 12,7% và 20%.
Đáng lưu ý là trong năm 2009, mặc dù CPI ở mức thấp (6,52%) nhưng sức
ép giảm giá VND vẫn được duy trì, lần này là do thâm hụt cán cân thanh toán.
Thực tế lạm phát của Việt Nam từ năm 2007 – 2009 là trên 40%, trong khi lạm
phát ở Mỹ cùng thời kỳ là 20%. Nhưng vào khoảng thời gian đó, tỷ giá chính
thức USD/VND thay đổi không đáng kể, khiến VND bị định giá cao ngay trong
tương quan tỷ giá với USD.
Vì vậy, sự điều chỉnh tỷ giá vừa qua là cần thiết, bất chấp động thái này có
vẻ như ngược lại với xu hướng mất giá chung của USD trên thị trường thế giới.
Linh hoạt tỷ giá, ngày càng trở thành phương châm hành xử phổ biến trong
chính sách tỷ giá của hơn ¾ số nước trên thế giới hiện nay.
Việc tiếp tục nới lỏng tỷ giá VND/USD lần thứ hai cho thấy kỳ vọng của
người cầm tiền đã đúng, củng cố tâm lý tiếp tục găm giữ ngọai tệ và thị trường
lại khan hiếm dòng vốn ngọai tệ luân chuyển, ngân hàng tiếp tục nâng tỷ giá
và “khép kín một vòng tròn luẩn quẩn”.
Dù thế nào thì việc tỷ giá niêm yết biến động mạnh với tần suất cao, không
có tín hiệu cho trước để "đuổi theo" tỷ giá tự do cũng sẽ là một trong những hệ
quả xấu của chính sách. Mặt khác, quyết định hành chính này cũng đẩy mạnh kỳ
Sinh viên Cao Thị Lan Hương – Lớp KTQT 48A 19