hậu quả do theo đuổi lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường nói chung và ở việt nam nói riêng - Pdf 10

P h ầ n I
Phần mở đầu
Đất nớc chúng ta trải qua hơn ba mơi năm tiến hành các cuộc chiến
tranh chống lại hàng loạt các đế quốc, bảo vệ tổ quốc, kết thúc bằng chiến
thắng 30-4-1975 lịch sử thống nhất đất nớc. Ngay sau đó, chúng ta đã lựa
chọn cho mình con đờng xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, không
áp bức, bất công, ở đó mọi ngời đều có cơm ăn áo mặc, đợc hởng các quyền
lợi nh nhau. Đó là mục đích tốt đẹp, cao cả mà học thuyết xã hội chủ nghĩa đề
cập tới. Thế nhng vì nhiều nguyên do khác nhau trong đó có nhân tố con ngời,
mục đích đó không thực hiện đợc, đẩy đất nớc bớc vào thời kì khủng hoảng
trầm trọng nhất trong lịch sử khi các điều kiện sống tối thiểu nhất của ngời
dân không đợc đảm bảo. Một yêu cầu đợc đặt ra bất cứ một mô hình kinh tế
nào, bất cứ một học thuyết nào đợc áp dụng đều nhằm một mục đích duy nhất
là tính hiệu quả, đợc biểu hiện rõ ràng nhất bằng sự thay đổi không ngừng
mức sống của ngời dân. Và khi nó không đáp ứng đợc yêu cầu ấy thì việc thay
thế nó bằng một mô hình, một hớng đi khác là điều hoàn toàn hợp lí. Mục
đích không thay đổi nhng cách thức tiến hành phải đợc áp dụng phù hợp với
điều kiện lịch sử và tình hình chính trị thế giới quanh ta. Nắm bắt đợc vấn đề
này, dới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nớc, một cuộc cách mạng triệt để đã đợc
tiến hành đa nền kính tế nớc ta từ quản lí tập trung bao cấp sang nền kính tế
thị trờng có sự quảvn lí điều tiết của nhà nớc. Và cuộc cách mạng này đã
mang lại kết quả tốt đẹp chỉ trong một thời gian ngắn. Mục tiêu của chúng ta
đến năm 2010 là tiến hành xong việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh
tế, điều này đòi hỏi chúng ta phải tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc
từ bây giờ động cơ thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là lợi
nhuận. Thế nào là lợi nhuận, quá trình hình thành và phát triển của nó trong
nền kinh tế ra sao, tầm quan trọng của nó trong thị trờng nh thế nào?
Việc nghiên cứu về lợi nhuận là sự kết hợp giữa học thuyết Mac_ Lênin
và tình hình thực tiễn hiện nay .
Trong quá trình hoàn thành đề án này, do kinh nghiệm còn hạn chế,
kiến thức còn cha thực sự vững vàng, em mong nhận đợc sự hớng dẫn chỉ bảo

Nớc Anh, nơi mà nền kinh tế t bản chủ nghĩa phát triển sớm nhất, đã sản sinh
ra một loạt các nhà kinh tế học nổi tiếng mà các luận thuyết của họ đã đóng
góp không nhỏ cho việc thúc đẩy sự phát triển các nền kinh tế ở nhiều nớc
trong nhiều năm sau. Điển hình trong số đó là : William Petty, Adam Smith,
David Ricardo.
3
a. William Petty
Đợc coi là ngời đầu tiên nghiên cứu các hình thức khác nhau của giá trị
thặng d : địa tô và lợi tức. Ông cho rằng địa tô mà nhà t bản kinh doanh trong
lĩnh vực đất đai thu đợc là chênh lệch giữa chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm, còn lợi tức là tô của tiền. Hay nói cách khác thì lợi nhuận là phần còn
lại sau khi đã trừ đi chi phí đầu t ban đầu từ giá thành món hàng, nó là phần
thởng dành cho nhà t bản khi quyết định mạo hiểm tham gia vào quá trình
kinh doanh mà mình có thể thất bại một cách dễ dàng . Adam Smith ( 1723-
1790 )
Là đại diện suất sắc của nền kinh tế chính trị học cổ điển Anh, có công
lớn trong việc nghiên cứu và làm rõ bản chất của giá trị thặng d. Ông cho rằng
giá trị thặng d thực ra là lao động của ngời công nhân mà nhà t bản chiếm lấy
và không trả công, và nhà t bản để thu đợc lợi nhuận cao nhất sẽ không từ một
thủ đoạn nào nhằm tăng năng suất lao động cao lên. Còn lợi tức là phần giá trị
đợc khấu trừ từ giá trị thặng d mà nhà t bản hoạt động bằng tiền đi vay phải trả
cho chủ số tiền đó. Địa tô là tô của tiền, là phần đợc khấu trừ đầu tiên vào sản
phẩm lao động, về măt bản chất thì nó là một hình thức của lợi tức nhng cũng
có sự khác biệt, nhà t bản đi vay tiền để tham gia vào kinh doanh trong lĩnh
vực nông nghiệp bằng đất của ngời khác, lúc đó anh ta vừa phải trả địa tô và
lợi tức và dĩ nhiên là phần lợi nhuận dành riêng cho anh ta sẽ ít đi. Ngoài ra,
ông cũng chỉ ra đợc quá trình bình quân hoá tỉ suất lợi nhuận và tỉ suất lợi
nhuận giảm sút khi tăng chi phí đầu t đến một ngỡng nào đó . Phủ nhận địa tô
tuyệt đối, coi rằng địa tô là kết quả của việc năng suất lao động trong nông
nghiệp vợt trội hơn công nghiệp .

ngời chỉ ra đầu tiên tính hai mặt của lao động hàng hoá: lao động cụ thể và lao
động trừu tợng. Hai mặt này tạo cho hàng hoá hai thuộc tính là gía trị sử dụng
và giá trị lao động .
Cho rằng con ngời bằng một loạt các các thao tác trực tiếp, thông qua
các dụng cụ lao động tác động vào các đối tợng lao động để biến đổi nó cho
phù hợp vơí mục đích sử dụng hao phí đi một sức lực nhất định thì đợc gọi là
lao động cụ thể. Lao động cụ thể càng nhiều loại thì nó càng tạo ra nhiều giá
trị sử dụng. Đồng thời tạo thành một hệ thống phân công lao động trong xã
hội. Đây là một phạm trù vĩnh viễn không thay đổi, đóng vai trò quan trọng
trong cuộc sống cuả xã hội loài ngời.
Cũng là lao động nhng lao động của con ngời không trong một hình
thức cụ thể nào mà chỉ đợc nói hao phí sức lao động chung chung thì đó là lao
động trìu tợng
Lao động trìu tợng là một phạm trù lịch sử, xuất hiện trong một mối
quan hệ chặt chẽ với lao động cụ thể khi sản xuất hàng hoá bắt đầu phát triển,
5
biểu hiện bằng một sự mâu thuẫn sâu sắc giữa giá trị sử dụng và giá trị hàng
hoá. Từ đó dẫn đến mâu thuẫn giữa hai phạm trù lao động cụ thể và lao động
trìu tợng. Đó là đặc trng của kinh tế chính trị học và là một phát hiện, một
phát triển vợt bậc so với các học thuyết kinh tế chính trị cổ điển.
Cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng loài ngời khỏi áp
bức bất công, t tởng chủ đạo của Max chủ yếu đợc thể hiện trong: kinh tế
chính trị học, triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học. Cả ba phần đều nói rõ bản
chất bóc lột của giai cấp t bản đối với ngời công nhân lao động bằng hình thức
tớc đoạt phần giá trị ngoài giá trị lao động mà ngời công nhân tạo ra. Nhà t
bản bỏ ra một số tiền là T vào trong sản xuất kịnh doanh và khi thu về bao giờ
cũng là T với T luôn luôn lớn hơn T, Max gọi hiệu số giữa T và T ( T- T =
T ) là giá trị thặng d là mục đích chủ yếu của bất cứ nhà t bản nào khi tham
gia vào quá trình kinh doanh. Giá trị thặng d đợc sản sinh trong quá trình
lu thông tiền tệ do giá trị của hàng hoá quyết định. Tiền tệ trong lu thông

suất giá trị thặng d và khối lợng giá trị thặng d.
Tỉ xuất giá trị thặng d biểu hiện trình độ bóc lột của nhà t bản, khi chia
thời gian lao động của công nhân thành thời gian lao động cần thiết và thời
gian lao động thặng d, đợc xác định bằng tỉ số giữa giá trị thặng d thu đợc và
t bản khả biến, kí hiệu m'
Tuy nhiên tỉ suất giá trị thặng d không biểu hiện trình độ bóc lột của
nhà t bản về mặt lợng mà đó là khối lợng giá trị thặng d, đợc tính bằng tích số
giữa giá trị thặng d và khối lợng t bản khả biến, kí hiệu là M
Khối lợng giá trị thặng d nói lên quy mô bóc lột của nhà t bản.
Để thu đợc lợi nhuận lớn nhất thì nhà t bản không từ một thủ đoạn nào
để nâng cao khối lợng sản phẩm trong cùng một đơn vị thời gian bằng nhiều
hình thức. Kéo dài thời gian lao động thặng d để thu đợc lợi nhuận tơng đối
nhng phơng pháp này vấp phải nhng cản trở không thể khắc phục đợc nh độ
dài thời gian, thể lực của công nhân dẫn đến đấu tranh phản kháng của công
nhân, vậy nên phơng pháp này chỉ đợc áp dụng trong thời kì đầu của chủ
nghĩa t bản. Hoặc rút ngắn thời gian lao động cần thiết để tăng thời gian lao
động thặng d, dẫn tới năng xuất lao động tăng lên nhằm thu đợc lợi nhuận
tuyệt đối, phơng pháp này vấp phải cản trở về mặt kĩ thuật nhng ngày nay
cùng với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, công nghệ thì đây là phơng pháp đ-
ợc áp dụng phổ biến trong quá trình sản xuất, mang lại hiệu quả lớn. Cuối
cùng là việc lợi dụng những u thế về công nghệ, kĩ thuật để nâng cao năng
xuất lao động cá biệt so với năng xuất lao động xã hội, nhằm rút ngắn thời
gian lao động cá biệt so với thời gian lao động xã hội càn thiết để thu đợc lợi
nhuận, lợi nhuận này gọi là lợi nhuận siêu nghạch .
Quá trình sản xuất ra giá trị thặng d chỉ là sự hiểu hiện qua sảu phẩm
còn thực tế để thu đợc tiền thì sự chuyển hoá đó phải nh thế nào. Vì công thức
chung của chủ nghĩa t bản là T - H - T nên mục đích cuối cùng của nhà t bản
7
là thu đợc T còn giá trị thặng d chỉ là nền tảng để thu đợc T (T > T). Mác đã
giúp ta giải quyếtvấn đề này vì ông đã tìm ra một đại lợng biểu hiện giá trị

giá trị của nó thì P = m. Nếu bán với giá trị cao hơn giá trị của nó thì P > m.
Nếu bán với giá nhỏ hơn giá trị của nó thì P < m. Chính điều này đã làm cho
8
họ cho rằng lợi nhuận là do việc mua bán, do lu thông tạo ra, do tài kinh
doanh của nhà t bản mà có. điều này dẫn đến sự che dấu thực chất bóc lột của
chủ nghĩa t bản.
Nhng lòng tham của nhà t bản là vô đáy vì thế sau khi đã có lợi nhuận
rồi thì họ không dừng lại tại đó mà họ còn muồn tìm ra với số tiền mà họ đầu
t đó thì họ đầu t vào đâu để thu đợc lợi nhuận lớn nhất. Từ đây nảy sinh khái
niệm về tỷ suất lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận (P) là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng d
và toàn bộ t bản ứng trớc.
P'=
m. 100%
C+V
Tỷ suất lợi nhuận không phản ánh trình độ bóc lột của nhà t bản mà nó
nói lên mức lãi của việc đầu t. Nó cho nhà t bản biết họ đầu t vào đâu thì có
lợi. Do đó việc thu lợi nhuận - P và theo đuổi tỷ suất lợi nhuận - P là động lực
thúc đẩy nhà t bản, là mục tiêu cạnh tranh của các nhà t bản.
Do mục tiêu đạt đợc lợi nhuận cao nhất nên giữa các nhà t bản luôn
luôn diễn ra sự cạnh tranh gay gắt. Các quá trình cạnh tranh của nhà t bản đợc
Mác phân chia thành hai loại: Cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các
ngành.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong
cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ
hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch.
Do bản chất cạnh tranh chính là một hình thức đấu tranh gay gắt giữa
những ngời sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ t hữu về t liệu sản xuất nhằm
giành giật những điều kiện có lợi nhất của sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Vì
vậy cho nên cạnh tranh trong nội bộ ngành buộc các xí nghiệp phải tìm cách

lợi nhuận bình quân gọi là giá cả sản xuất.
Vậy: Giá cả sản xuất = k +
P
Tiền đề của giá cả sản xuất là sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
(
P
). Điều kiện để giá trị biến thành giá cả sản xuất gồm có: Đại công nghiệp
cơ khí t bản chủ nghĩa phát triển, sự liên hệ đầy đủ giữa các ngành sản xuất,
quan hệ tín dụng phát triển, t bản tự do di chuyển từ ngành này sang ngành
khác.
Trớc đây khi cha xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất thì giá cả xoay
quanh giá trị hàng hoá. Giờ đây giá cả của hàng hoá xoay quanh giá cả sản
xuất. Về mặt lợng, giá cả sản xuất và giá trị có thể không bằng nhau. Chính
trong mối quan hệ này, giá trị vẫn là cơ sở, là nội dung bên trong của giá cả
sản xuất, giá cả thị trờng.
Thực chất hoạt động của quy luật giá cả sản xuất là sự biểu hiện hoạt
động của quy luật giá trị trong thời kỳ tự do cạnh tranh của chủ nghĩa t bản.
10
Chúng ta vẫn cứ nói tới lợi nhuận nhng chúng ta phải xét xem lợi nhuận
đó đợc biểu hiện, đợc chuyển hoá nh thế nào.
II. Các hình thức chuyển hoá của lợi nhuận.
Lợi nhuận có thể chuyển hoá thành lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuận
thơng nghiệp, lợi tức, tỉ xuất lợi tức, lợi nhuận ngân hàng, địa tô và lợi nhuận
độc quyền .
1. Lợi nhuận chuyển hoá trong công nghiệp
Nhà t bản bỏ vốn ra kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao nhất. Bởi vậy
ông ta phải tìm mọi cách giảm chi phí sản xuất xuống thấp nhất và tiêu thụ
sản phẩm với giá cao nhất, lợi nhuận của ông ta thu đợc bằng tổng chi phí trừ
đi tổng doanh thu. Phần lợi nhuận ấy một phần đợc ông ta đầu t vào quá trình
tái sản xuất nhằm củng cố thế đứng trên thị trờng và cạnh tranh với đối thủ,

cũng cao hơn giá trị sản xuất công nghiệp. Nhà t bản công nghiệp chấp nhận
bán cho thơng nghiệp giá hàng thấp hơn giá trị để tiêu thụ đợc hàng, bản thân
họ cũng có lãi và có lợi là sản phẩm đợc tiêu thụ nhanh, thu hồi vốn nhanh.
Bởi vậy thực chất lợi nhuận thợng nghiệp là một phần giá trị thặng d của ngời
công nhân sản sinh ra đợc t bản công nghiệp chia xẻ cho t bản thơng nghiệp.
Bớc đi này đã che dấu đi một phần sự bóc lột tinh vi của các nhà t bản.
3. Lợi tức và tỉ suất lợi tức
Sau khi xong một chu kì kinh doanh, tiến hành tái sản xuất mở rộng và
chi phí cho nhu cầu của cá nhân mà vẫn thừa số vốn nhàn rỗi. Nhà t bản
không chịu để tiền ngồi yên mà muốn rằng tiền phải đẻ ra tiền. Ông ta sẽ
đem số tiền ấy cho ngời có nhu cầu vay. Đó là ngời mà máy móc đã đến thời
kì phải thay thế, nhân công phải thuê thêm, nhà xởng phải cải tạo mà số tiền
ông ta có không đủ. Nhà t bản có vốn nhàn rỗi sẽ đem cho ông ta vay nhng
không phải cho vay rồi thu hồi với số vốn cũ mà phải có thêm số tiền d ra, ở
đây ngời đi vay đem tiền về tiến hành kinh doanh, có lãi và đem tiền trả cho
ngời cho vay giá trị của số tiền cũ cộng thêm một khoản tuỳ theo thoả thuận,
đó là lợi tức. Nhìn kĩ vòng chu chuyển của vốn đó thì lợi tức chỉ là một phần
của giá trị thặng d của t bản kinh doanh trả cho t bản cho vay. Sự lắt léo
này đã che đậy bản chất bên trong của lợi tức nh là một hình thức trả công,
vay mợn bình thờng.
Lợi tức hoạt động theo quy luật tỉ suất lợi tức
Tỉ suất lợi tức là tỉ lệ phần trăm tính giữa tổng số lợi tức và số t bản tiền
tệ cho vay. Tỉ suất lợi tức cao hay thấp phụ thuộc vào tỉ suất lợi nhuận bình
quân, tỉ lệ phân chia lợi nhuận thành lợi tứcvà thu nhập của xí nghiệp mà nhà
t bản hoạt động, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của t bản cho vay .
4. Lợi nhuận ngân hàng:
Nền kinh tế t bản chủ nghĩa phát triển ở mức độ, cao do sự không đồng
bộ giữa các chu kì kinh doanh dẫn đến các nhà t bản lúc thiếu vốn lúc thừa
12
vốn, một yêu cầu đăt ra là phải có một sự cân đối giữa những ngời có vốn

1. Lợi nhuận thúc đẩy lực l ợng sản xuất phát triển
Lợi nhuận đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế thị trờng, ảnh hởng của
nó có thể làm biến đổi bộ mặt của xã hội trong một thời gian ngắn, Việt Nam
là một thí dụ điển hình nh thế, tiến hành đổi mới từ năm 1985 chỉ trong vòng
mời năm, một mô hình kinh tế mới đã làm thay đổi cả một đất nớc kiệt quệ vì
chiến tranh, khủng hoảng liên miên. Tuy nhiên cũng giống nh bất cứ một yếu
tố nào khác, lợi nhuận cũng có tính hai mặt, những hạn chế này mang lại
những tác hại sâu sắc cho nền kinh tế không kém gì những u điểm của nó. Và
chúng ta luôn phải tìm cách hiểu rõ về nó nhằm khắc phục những yếu điểm
đó.
Vào thời kì đầu của chủ nghĩa t bản, nhằm thu đợc lợi nhuận cao nhất,
nhà t bản tỉm mọi cách kéo dài thời gian lao động của lao động, nhng chính
sách này mau chóng thất bại vì vấp phải sự phản đối dữ dội của công nhân với
các hình thức đấu tranh chính thức và không chính thức dẫn đến năng suất lao
động không những không đớc tăng lên mà lại giảm đi. Nhà t bản áp dụng ph-
ơng pháp khác, tiến hành các cuộc đua nhằm rút ngắn thời gian lao động xã
hội cần thiết để tăng thời gian lao động thặng d lên bằng nhiều cách: đổi mới
cách thức quản lí, đa các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào trong sản xuất và cách
thức này mang lại hiệu quả to lớn. Điều này thúc đẩy việc nghiên cứu khoa
học phát triển, đồng thời cũng làm cho ngời công nhân nhận thức đợc tình thế
của mình khi phải nâng cao tay nghề đáp ứng đợc những đòi hỏi trong điều
kiện mới nếu không muốn bị đào thải.Và nhà t bản cũng thấy đợc ngời công
nhân, là ngời nắm giữ nguồn lợi của mình phải đợc tạo điều kiện để học hỏi
phát huy những kĩ năng lao động ấy. Theo cùng thời gian trình độ cũng nh
mức sống của ngời công nhân đợc nâng cao là điều phổ biến ở các nớc phát
triển, yêu cầu về một đội ngũ công nhân có tay nghề cao dẫn tới việc các nớc
phát triển thu hút một lợng lớn tài năng của các nớc mà điều kiện u đãi không
đợc tốt về phía họ, dẫn tới tình trạng chảy máu chất xám.
2. Lợi nhuận dẫn tới thúc đẩy quan hệ sản xuất phát triển
14

tế, không kìm hãm dòng chảy tự nhiên của quá trình phát triển mà một thời
chúng ta đã mắc phải.
3. Lợi nhuận tham gia vào quá trình tái sản xuất xã hội
Nh ta đã biết các yếu tố sản xuất bị hao mòn dần theo thời gian đòi hỏi
chúng ta bổ sung, đồng thời vận động là một đặc tính chung của tất cả các nền
15
kinh tế, để tồn tại phát triển trong nền kinh tế có mức cạnh tranh cao thì yếu tố
tái sản xuất là yếu tố không môt nhà t bản nào đợc bỏ qua. Nhng nó đòi hỏi
phải có một mức vốn không nhỏ, đặc biệt là với yêu cầu hoạch định chiến lợc
cho một quá trình phát triển lâu dài. Nếu vốn không đủ thì phải tiến hành tích
luỹ vốn, và công việc này đợc chuyên môn hoá cao bởi các tổ chức t nhân và
nhà nớc. Thực ra thì vốn đợc tích luỹ chính là từ giá trị thặng d do lao động
không đợc trả công đợc chuyển hoá vào (đợc đảm bảo do năng suất lao động
cao đã sản xuất ra sản phẩm mà giá trị vợt quá các giá trị cần thiết). Vốn đợc
quay vòng trở lại với sự gia tăng cao về mặt lợng phục vụ cho nhu cầu sản
xuất, vòng quay của vốn càng ngắn càng chứng tỏ hiệu quả kinh doanh cao và
số vốn thu hồi càng lớn. Quá trình này cứ thế tiếp diễn đem đến hiệu quả ngày
càng to lớn cho nhà sản xuất. Bởi vậy ta có thể nói một cách đúng đắn rằng
yếu tố quyết định đến quá trình tái sản xuất, đến sự phát triển của bất kì một
nền kinh tế nào đều là doanh thu hay là lợi nhuận,
4. Lợi nhuận ảnh h ởng đến mọi mặt đời sống xã hội
Với một mục đích tối cao duy nhất là đạt đợc lợi nhuận cao nhất có thể,
nhà sản xuất bằng mọi cách mở rộng ảnh hởng của mình ra toàn thị trờng, tiêu
diệt các đối thủ cạnh tranh với các phơng pháp khác nhau (kể cả hợp pháp và
không hợp pháp) nhằm trở thành một nhà cung cấp độc quyền. Trong quá
trình giầu lên của mình thì cũng làm bần cùng hoá bao nhiêu đối thủ, bao
nhiêu ngời lao động. Nền kinh tế thị trờng tự do càng phát triển thì hố sâu
ngăn cách giầu nghèo càng lớn, sự bất bình đẳng càng cao, lúc đó nhiệm vụ
của nhà nớc là san bằng sự bất công đó bằng các chính sách của mình nh trợ
cấp giá, quỹ phúc lợi xã hội, chính sách thuế u đãi. Tuỳ theo sự phát triển của

một cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu xắc theo đúng những gì mà những nớc
trớc chúng ta đã trải qua. Tất cả bắt đầu từ mô hình kinh tế, tất cả thuộc về nhà
nớc, nhà nớc phải quản lí một khối lợng công việc khổng lồ, đảm bảo cho nền
kinh tế quốc gia vận hành trôi chảy, và phải đảm nhiệm tất cả các khâu của
quá trình sản xuất: sản xuất cái gì, nh thế nào, cho ai. Do phải đảm trách khối
lợng công việc to lớn nh thế, nhà nớc không thể hoàn thành tốt trọng trách của
mình. Ngời lao động không nhận đợc thành quả xứng đáng với công sức lao
động mà mình bỏ ra, từ đó không khuyến khích đợc sản xuất. Năng suất lao
động ngày càng giảm đi, dẫn đến tổng sản phẩm quốc dân suy giảm, tỉ lệ thất
nghiệp tăng theo, đời sống nhân dân giảm sút, lòng tin của nhân dân lung lay.
Đứng trớc tình hình trong nớc và quốc tế nh vậy, học tập kinh nghiệm của
Trung Quốc tiến hành đổi mới thành công trong những năm 70-80. Việt Nam
tiến hành cải cách một cách đầy thận trọng, từ từ trong vòng gần hai mơi năm,
đồi mới về kinh tế trớc cải cách về chính trị, Đảng ta đã có nhận thức đầy
đúng đắn: sự bền vững về kinh tế sẽ dẫn đến sự vững chắc về chính trị. Hiệu
quả đến ngay một cách nhanh chóng: kinh tế Việt Nam có sự thay đổi cả về
chất và về lợng. Nhà nớc trao quyền điều khiển nền kinh tế cho thị trờng với "
17
bàn tay vô hình" quyết định: sản xuất cái gì, nh thế nào, cho ai. Nhà nớc chỉ
can thiệp vào quá trình định hớng và điều chỉnh cho nền kinh tế phát triển
đúng hớng và lành mạnh ở tầm vĩ mô bằng chính sách thuế và phi thuế. ở đây
quá trình phân phối đã bắt đầu công bằng hơn trớc: mọi ngời đợc hởng thành
quả theo năng lực lao động của mình, hoàn toàn do mình quyết định. Chỉ
trong vòng mời năm: GDP của Việt Nam tăng lên gấp hai lần đời sống của
nhân dân đã đợc cải thiện, tỉ lệ hộ đói nghèo giảm xuống đáng kể và lần đầu
tiên trong vòng vài chục năm qua Việt Nam tự túc đợc lơng thực, sản lợng lúa
tăng cao với số gạo xuất khẩu tăng cao đa Việt Nam trở thành nớc xuất khẩu
gạo đứng đầu thế giới mang về cho đất nớc một nguồn ngoại tệ không nhỏ.
Mặt khác trong vòng hơn hai mơi năm qua, bên cạnh những thành công
thì cải cách cũng mang lại những hậu quả không nhỏ: với hố sâu ngăn cách

đờng đó thì chúng ta không bao giờ đuổi kịp quá trình phát triển nh vũ bão
của thế giới chung quanh ta. Học hỏi những kinh nghiệm quý báu bổ ích đồng
thời phát huy tính sáng tạo, tiềm lực của đất nớc với những thay đổi phù hợp
với tình hình đất nớc ta để lựa chọn một hớng đi đúng đắn nhất, một chiến lợc
lâu dài nhằm phát triển nền kinh tế đất nớc không những thoát khỏi đói nghèo,
vơn tới ấm no thịnh vợng, mà còn phải đi tới sánh ngang vai cùng những cờng
quốc kinh tế của châu lục, thế giới nh mong mỏi của bao ngời dân Việt Nam,
của bất kì một công dân nào có ý thức tự hào, tự tôn dân tộc.
Thế giới chung quanh chúng ta chuyển động và biến đổi không phải là
từng ngày mà là từng giờ với môt tốc độ ngày càng cao. Hiện nay thời gian
trung bình để khối lợng sản phẩm tạo ra tăng lên gấp đôi đang ngày càng thu
ngắn lại, tơng lai của thế giới, sự thịnh vợng của thế giới thuộc về kẻ nào xử lí
đợc khối lợng thông tin khổng lồ đang ngày ngày lu chuyển khắp hành tinh.
Việt Nam dù muốn dù không cũng phải gia nhập vào cuộc chạy đua này dù
không có hi vọng về nhất, chúng ta phải tham gia nhằm học hỏi những kiến
thức mới nhất, những kĩ năng làm việc, va quan trọng nhất là đào tạo những
nhân tài phục vụ cho công cuộc xây dựng, quản lí nền kinh tế nớc nhà sau này
3. Mối quan hệ kinh tế với các n ớc
Từ sau khi chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, quan hệ
ngoại thơng của chúng ta không còn bó hẹp với những nớc xã hội chủ nghĩa
truyền thống trớc kia nữa, mà theo xu hớng mở rộng cửa đúng nh lời tuyên bố
của Đảng ta "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả những nớc trên thế giới",
chúng ta làm ăn với tất cả những nớc, những đối tác theo nguyên tắc hai bên
cùng có lợi, bình đẳng tự nguyện. Theo cùng đà đổi mới ngày càng sâu rộng
trong đất nớc, quan hệ kinh tế đối ngoại của chúng ta cũng mở rộng và phát
triển theo cả về lợng lẫn chất. Sự kiện Việt Nam tham gia vào tổ chức ASEAN
càng làm tăng thêm cơ hội và khả năng hội nhập và chiếm lĩnh những thị tr-
ờng rộng lớn, ở đó chúng ta có thể tiến hành sản xuất, kinh doanh những mặt
hàng là thế mạnh của ta nh hàng: nông lâm thuỷ sản, hàng gia công may mặc,
những sản phẩm mỹ nghệ thủ công, những mặt hàng ta có u thế về tài nguyên

không nhỏ vào Việt Nam chủ yếu trên các lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng,
những nghành kinh doanh truyền thống của nớc Anh. Hiện nay cán cân thơng
mại của hai nớc đạt mức vào khoảng 50 triệu dolar/ năm.
III. Hậu quả do theo đuổi lợi nhuận trong nền kinh tế thị trờng nói chung
và ở Việt Nam nói riêng
1. Cạnh tranh không lành mạnh:
20
Nh chúng ta đã biết với mục đích tối đa hoá lợi nhuận có thể, nhà kinh
doanh bằng mọi thủ đoạn cạnh tranh dù hợp pháp hay không hợp pháp để tiêu
diệt đối thủ độc chiếm thị trờng nhằm bán đợc càng nhiều hàng càng tốt, để
thu lợi nhuận lớn nhất. Đối với quá trình cạnh tranh trong nội bộ ngành nhằm
thu đợc lợi nhuận siêu ngạch các nhà sản xuất đã phải cải tiến kỹ thuật, nâng
cao cấu tạo hữu cơ t bản, nâng cao năng suất lao động làm cho giá trị cá biệt
của hàng hoá xí nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội để thu lợi nhuận
siêu ngạch. Kết quả của cạnh tranh là hình thành nên giá trị xã hội của từng
loại hàng hoá.
Cạnh tranh giữa các ngành sử dụng biện pháp tự do di chuyển t bản từ
ngành này sang ngành khác dẫn đến hình thành dần tỉ suất lợi nhuận bình
quân và giá trị hàng hoá trở thành giá trị sản xuất.
Cạnh tranh trong sản xuất là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong
sản xuất.
Biện pháp: Tăng năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật
Kết quả: Làm cho lực lợng sản xuất phát triển.
Cạnh tranh trong tiêu thụ sản phẩm là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
để tiêu thụ đuợc nhiều sản phẩm hơn nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch.
Biện pháp: Cải tiến mẫu mã, chất lợng sản phẩm, cải tiến phơng pháp
phục vụ,
Kết quả: Hình thành nên giá thị trờng từng loại hàng hoá.
Đó là tất cả những thủ đoạn để có thể kiếm đợc lợi nhuận cao.
Việc sử dụng các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật đòi hỏi quy mô

mỏ đợc trang bị bằng những hệ thống dầm nớc và thông hơi tồi tệ nhất thờng
là xây tồi, hệ thống chống xấu, thợ máy kém, các đờng hầm và đờng goòng
xây dựng không tốt, sự huỷ hoại tính mạng và sức khoẻ, những vụ sập hầm
gây thơng tích rất lớn. Đây chỉ là một ví dụ trong vô vàn ví dụ mà chúng ta
không có điều kiện nêu ra vẫn đang tiếp diễn trong xã hội. Ngoài ra các nớc
nhập t bản còn bị phụ thuộc chặt chẽ vào các nớc đế quốc.
2. Tiêu cực xã hội nảy sinh :
Vì những lí do nêu trên, chúng ta thấy quá trình giàu lên của nhà t bản
là quá trình nghèo đi của ngời dân lao động, do nhiều nguyên nhân khác
nhau mà quá trình đó trở thành một cái vòng lẩn quẩn mà ngời lao động
không thể nào thoát ra đợc. Bằng chứng là ở rất nhiều nớc có nền kinh tế phát
triển, bên cạnh những biệt thự nguy nga rộng hàng chục hàng trăm ha có
những khu ổ chuột với những túp lều chỉ rộng có vài m
2
làm nơi che ma che
nắng, đó là những nơi tệ nạn xã hội hoành hành nhiều nhất, đói nghèo, thất
học sẽ khiến cho những ngời dân lao động sẵn sàng làm nhiều thứ để chống
lại cái mà họ cho là bất công đó. Đó là vấn đề mà bất cứ chính phủ nào cũng
22
phải giải quyết trong quốc gia mình tuỳ theo mức độ nặng nhẹ khác nhau.
Hành vi phản kháng xã hội rất đa dạng: từ trộm cắp, cớp của, giết ngời, mại
dâm, đến sống gấp đe doạ xói mòn đạo đức xã hội, sức mạnh của một dân
tộc, tàn phá tinh thần những thế hệ thanh niên, chủ nhân tơng lai của đát nớc
3. Quá trình xâm lăng văn hoá
Với đất nớc ta, còn đang trong giai đoạn phát triển, yếu tố ngoại nhập
có sức thu hút ghê ghớm. Nền văn hoá bên ngoài tràn vào cùng với đà mở cửa
của đất nớc đe doạ tàn phá ý thức dân tộc của một bộ phận thanh niên, nắm
bắt đợc thị hiếu của thanh niên với khát khao đợc đổi mới, thử nghiệm để
chứng tỏ, thể hiện mình dẫn đến mở đờng cho những phong cách sống không
phù hợp với truyền thống bản sắc dân tộc nh sống gấp, sống thực dụng, coi

Muốn hạn chế đợc nhợc điểm của nền kinh tế thị trờng thì chúng ta chỉ
còn cách là làm cho đất nớc phát triển mà thôi. Nh vậy, trong nền kinh tế thị
trờng của nớc ta hiện nay để có thể phát triển đợc thì các doanh nghiệp phải
mở rộng sản xuất, phải xây dựng các xí nghiệp lớn, muốn vậy phải hợp nhất
nhiều t bản cá nhân lại thành những công ty cổ phần. Đó là những xí nghiệp
mà vốn của nó do những ngời tham gia gọi là cổ đông góp vào.
Cổ đông là ngời mua cổ phiếu, căn cứ vào số tiền ghi trên cổ phiếu, cổ
đông sẽ đợc lĩnh một phần thu nhập của xí nghiệp gọi là lợi tức cổ phần. Lợi
tức cổ phần không cố định mà phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của công
ty.
Cổ phiếu đợc mua bán trên thị trờng gọi là thị giá cổ phiếu. Thị giá cổ
phiếu không phải là số tiền ghi trên mặt phiếu, mà là một số tiền đem gửi
ngân hàng sẽ thu đợc một số lợi tức bằng lợi tức cổ phần. Công ty cổ phần
ngoài phát hành cổ phiếu còn phát hành trái khoán, ngời mua trái khoán đợc
nhận lợi tức cố định nhng không đợc dự đại hội cổ đông.
Thị trờng chứng khoán là nơi mua bán các chứng khoán có giá trị. Giao
dịch theo hình thức tín dụng ngời mua chứng khoán chi trả một phần, phần
còn lại do môi giới của số dịch vụ ứng trớc và hởng lợi tức về số tiền ứng trớc
cho ngời mua.
Nớc ta đang trên con đờng đổi mới từ nền kinh tế tập trung sang nền
kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, với sự tham gia nhiều thànhphần
kinh tế, nhu cầu xây dựng và phát triển đất nớc đòi hỏi ngày càng nhiều vốn.
Đây là cách huy động vốn hiệu quả nhất, ngoài số tiền vốn có thể huy động
một cách nhanh chóng, nếu cách thành viên của công ty hay xí nghiệp muốn
họ có thể trở thành cổ đông, điều này sẽ tạo cho họ ý thức làm chủ hơn, tích
24
cực và hăng hái hơn trong kinh doanh sản xuất vì trực tiếp họ đang lao động vì
quyền lợi cuả chính họ.
3. Sự tham gia của nhà n ớc vào nền kinh tế
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status