Đề án kinh tế chính trị
PHầN Mở ĐầU
Chủ nghĩa t bản đang chiếm đại đa số toàn cầu trong đó một số nớc t bản có
nền kinh tế phát triển do đó nó có sức mạnh về kinh tế cũng nh chính trị ,quân
sự
Chủ nghĩa t bản ra đời và phát triển trong suốt quá trình dài. Bên cạnh sự
phát triển của chủ nghĩa t bản ,bao giờ cũng có một nhà nớc t sản.Nhà nớc này luôn
tạo điều kiện cũng nh tìm mọi biện pháp để duy trì ,phát triển chủ nghĩa t bản. Từ
chủ nghĩa t bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa t bản độc quyền ,nhà nớc t sản
đóng một vai trò rất quan trọng . Và đặc biệt trong thời đại ngày nay ,nhà nớc t sản
đang tìm mọi cách hàn gắn những rạn nứt trong chính bản thân nền kinh tế t bản
chủ nghĩa. Vậy tại sao nhà nớc t bản hiện đại lại cần phải điều tiết nền kinh tế và sự
điều tiết kinh tế của nhà nớc t sản hiện đại nh thế nào? Với mong muốn tìm hiểu
về nền kinh tế của chủ nghĩa t bản và sự điều tiết của nhà nớc t sản hiện đại đối với
quá trình vận động của nền kinh tế tôi xin chọn đề tài sự điều tiết kinh tế của nhà
nớc t sản hiện đại- một đề tài đang thu hút rất nhiều sự quan tâm của những nhà
kinh tế học vĩ đại cũng nh của rất nhiều độc giả.Thông qua việc trả lời những câu
hỏi này tôi muốn tìm hiểu xâu hơn về hệ thống chính sách điều chỉnh kinh tế của
nhà nớc t bản hiện đại.
Để hoàn thành tốt đề tài này tôi xin chân thành cảm ơn thầy Mai Hữu Thực
đã hớng dẫn tôi, giúp tôi tìm hiểu sâu hơn về những vấn đề này.
1
Đề án kinh tế chính trị
Phần nội dung
I- Mâu thuẫn kinh tế của chủ nghĩa t bản và những nét mới trong chủ nghĩa t
bản hiện đại.
1-Mâu thuẫn kinh tế của chủ nghĩa t bản:
Chủ nghĩa t bản ngay từ khi ra đời đã bộc lộ những mâu thuẫn tởng nh không
thể điều hoà đợc.
-Chế độ phân phối thu nhập quốc dân dới chế độ chủ nghĩa t bản chứa đựng
những mâu thuẫn đối kháng sâu sắc đe doạ sự tồn tại của chủ nghĩa t bản.
+Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp t sản và giai cấp vô sản bởi đặc
điểm của CNTB là t liệu sản xuất tách rời ngời sản xuất.T liệu sản xuất thì tập
trung trong tay giai cấp t sản còn ngời trực tiếp sản xuất lại là giai cấp vô sản ,ngoài
sức lao động của mình ra,họ không còn gì nữa.
Tất cả những lí do trên đã thúc đẩy những cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra,từ
đó làm sản xuất bị đình đốn,nền kinh tế bị lùi bớc và đa lại tai hoạ cho giai cấp
công nhân.
- Sự phân hoá xã hội thành kẻ giàu ngời nghèo,sự nắm giữ về kinh tế của
các tập đoàn kinh tế lớn và sự cạnh tranh giữa chúng .
- Nạn thất nghiệp và những vấn đề về mặt xã hội nh tệ nạn xã hội,mafia
2- Khái quát về chủ nghĩa t bản hiện đại và những nét mới của nó :
Trong quá trình phát triển của mình,CNTB có khả năng thích nghi rất lớn.
Sự thích nghi đó là không thể tránh khỏi,vì chủ nghĩa xã hội đã tồn tại và cạnh
tranh với chế độ TBCN.CNTB luôn tìm kiếm những hình thức thích nghi mới để
tồn tại và phát triển :sự phát triển của các hình thức sở hữu về t liệu sản xuất,những
thay đổi trong giai cấp kinh doanh,những biến đổi trong lao đọng làm thuê và cả
việc lợi dụng những sai lầm và mâu thuẫn của chủ nghĩa xã hội chỉ nhằm mục đích
tồn tại và phát triển.CNTB đã buộc phải mợn một số nét của chủ nghĩa xã hội,thừa
nhận giai cấp công nhân và các tổ chức của nó .về mặt chính trị,giai cấp t sản cũng
buộc phải lùi bớc. Quá trình phát triển của CNTB không phủ định những hình thức
cũ mà làm cho nó chuyển nhanh sang công nghệ mới. Chẳng hạn trong cuộc cách
3
Đề án kinh tế chính trị
mạng công nghiệp thế kỉ XVIII .Các công xởng không phù hợp nữa,vì đó là của
từng ông chủ t nhân,mâu thuãn với sự cần thiết phải có những mối quan hệ chặt chẽ
lẫn nhau giữa các ngành và với toàn bộ hệ thống tái sản xuất xã hội.Do đó ,phải tập
trung hoá cơ bản và nhập các xí nghiệp cá thể thành công ti cổ phần .Hình thức cá
nhân của sở hữu t nhân TBCN đợc thay bằng hình thức tập thể của nó .cũng nh
trong cuộc khủng hoảng kéo dài những năm 70-90 thế kỉ trớclại bộc lộ những nhợc
điểm của các hình thức tổ chức TBCN chủ yếu. CNTB đã tạo ra một hình thức tồn
kĩ thuật đã đặt những công ti t bản đứng trớc những đòi hỏi khắc nghiệt hơn nh
nhanh chóng nghiên cứu những sản phẩm mới,áp dụng có hiệu quả những công
nghệ tiên tiến nhất từ đó tất yếu phải thay đổi cơ cấu tổ chức và sản xuất của các
công ti,đặc biệt là các công ti lớn.
- Các quan hệ xã hội đợc ổn định ở một mức lớn bởi cơ chế điều tiết thị tr-
ờng nhân lực đã góp phần ổn định thu nhập và hợp đồng lao động cũng góp phần
ổn định các quá trình tái sản xuất sứclao động,đòng thời có lợi cho các nhà t bản và
chế độ TBCN.Việc sử dụng sức lao động trong giai đoạn mới của CMKHKINH Tế
cũng là một vấn đề quan trọng bởi thị trờng lao động đang là một địa bàn đấu tranh
giữa giới kinh doanh TBCN với những ngời lao động ở các nớc t bản phát triển.
- Vai trò kinh tế của nhà nớc trong các nớc t bản phát triển cũng có những
thay đổi lớn so với không những CNTB tự do cạnh tranh mà cả CNTB lũng đoạn
và CNTB lũng đoạn nhà nớc.
- Xu hớng quốc tế hoá và sự phân chia thế giới giữa các liên minh.
- Sự biến đổi về chiều hớng và kết cấu cơ cấu của xuất khẩu t bản cũng có
những nét mới.
II- Điều chỉnh kinh tế của nhà nớc t bản hiện đại- cơ sở thực tiễn và lí luận.
Trong quá trình phát triển của CNTB bao giờ cũng có một nhà nớc t bản
bên cạnh phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển và biến đổi của CNTB .Từ
đó,vai trò về kinh tế của nhà nớc t bản cũng thay đổi cùng với sự thay đổi đó.Sự
chuyển biến vai trò kinh tế của nhà nớc t bản từ nhân tố bên ngoài, nhân tố tạo điều
kiện và môi trờng cho sự vận động của các quá trình kinh tế san thành nhân tố bên
trong,nhân tố quyết định phơng hớng phát triển của chúng. Đây cũng là một tiến
trình biện chứng, tiến trình biến đổi từ lợng sang chất của những tác động.
1- Những biến đổi về lợng trong vai trò của nhà nớc:
5
Đề án kinh tế chính trị
Vai trò kinh tế của nhà nớc đối với quá trình tái sản xuất của CNTB đợc biểu
hiện qua các chỉ tiêu về lợng ở các ngành, lĩnh vực mà nhà nớc trực tiếp tác động
vào qua mức tơng đối của xu hớng này.
Từ đó cho thấy việc nhà nớc giữ vai trò chủ đạo trong điều chỉnh hệ thống
tài chính -tiền tệ đã tạo cho nhà nớc một u thế tuyệt đối trớc các tổ chức độc
quyền.Nhờ hệ thống này,nhà nớc có thể chủ động điều chỉnh đợc hoạt động kinh
doanh của t bản t nhân,kể cả đó là tập đoàn t bản lớn.
Thứ ba,trong quá trình điều chỉnh sự vận động của kinh tế,nhà nớc sử dụng các
công cụ nh:tài chính tiền tệ v v .để can thiệp và điều chỉnh kinh tế.chúng ta có thể
thấy tỉ trọng chi ngân sách của chính phủ các nớc so với GNP của các nớc ấy để chỉ
ra qui mô và mức độ nhà nớc can thiệp vào kinh tế . theo thống kê của tổ chức hợp
tác quốc tế năm 1969 ,tỉ trọng chi ngân sách của 24 nớc thành viên chiếm
31,7%GNP. Năm 1988,tỉ trọng này đã tăng lên tới 39,8%. Năm 1988,tỉ trọng chi
ngân sách của Mỹ chiếm 36,2%GNP, tại Nhật là 32,8% ,khối cộng đồng kinh tế
Châu Âu(EEC)là 49,9%.
Từ đó cho thấy GNP của các quốc gia này ngày càng tập trung vào taynhà
nớc nh một công cụ mạnh điều chỉnh kinh tế(tăng từ 1/3 lên 1/2 GNP) .
Theo ớc tính,trong một thời gian dài trớc chiến tranh thế giới thứ hai,tỉ
trọng chi ngân sách của nhà nớc chỉ chiếm khoảng 10% GNP . ở Anh ,qui mô hoạt
động của chính phủ rất hạn chế,có thể thấy chi tiêu công cộng gồm cả trung ơng và
địa phơng,mỗi năm 20 triệu bảng anh,chiếm khoảng 10% GNP.Cũng có thể nói nh
vậy đối với vấn đề về việc làm ,số ngời do chính phủ trung ơng thuê làm chiếm 1,5
% so với ngời có năng lực làm việc.Số đó do chính quyền địa phơng thuê là
3,5%bao gồm giáo viên,cảnh sát v v. tổng cộng cả hai nhóm ngời nói trên cha tới
1 triệu. Nhng tình hình đó thay đổi rất nhanh,trong vòng 20 năm,số ngời do chính
phủ thuê mớn tăng gấp 3 lần.
Tại Mỹ và các nớc chủ yếu khác tình hình cũng diễn ra tơng tự nh vậy.
Trớc chiến tranh thế giới thứ nhất,chi tiêu của chính phủ liên bang của các bang và
các địa phơng chiếm 1/12 thu nhập của cả nớc. Thời kì chiến tranh thế giới thứ
hai,chi tiêu của nhà nớc tăng lên rất cao,vào khoảng 1 nửa GNP .Theo thống kê
7
Đề án kinh tế chính trị
,năm 1913,chi tiêu của chính quyền các cấp của Mỹ là 3 tỉ USD cho đến cuối
Đề án kinh tế chính trị
tiết kinh tế của nhà nớc chỉ đợc thiết lập mổi khi có chiến tranh hoặc có khungr
khoảng kinh tế, sau đó phần lớn các cơ quan đó bị giải thể. Cho tới sau chiến tranh
thế giới thứ hai nhà nớc lập ra một loạt các cơ quan điều tiết kinh tế hoạt động ổn
định, những cơ quan này hoàn thiện hơn và có thể thay đổi tuỳ theo sự biến đổi của
tình hình kinh tế và chính sách cụ thể của mỗi chính phủ. Tính chất phổ biến, toàn
diện, thờng xuyên và ổn định trong vai trò điều chỉnh kinh tế của nhà nớc cũng đợc
biểu hiện ở sự thay đổi của các giải pháp và tính phù hợp của chúng trong thực tiễn.
Nếu trớc chiến tranh thế giới thứ hai, biện pháp chủ yếu mà nhà nớc t bản thờng sử
dụng trong quá trình tác động vào nền kinh tế là giải pháp hành chính, thì nay là
các giải pháp kinh tế, đợc nhà nớc sử dụng phổ biến và chiếm tỷ trọng lớn trong các
giải pháp tác động. Chẳng hạn tại Mỹ trớc kia có một thời chính phủ Mỹ sử dụng
các giải pháp hành chính trong điều chỉnh kinh tế là chủ yếu tức là ban hành các
sắc lệnh kinh tế. Mặc dù các sắc lệnh này có tạm thời làm dịu bớt tiến trình khủng
hoảng, nhng vì các biện pháp hành chính này khônh phối hợp đồng bộ với các
biệnpháp, chính sách khác nên trong suốt những năm 30 kinh tế Mỹ luôn trong tình
trạng trì trệ. Cuối cùng chính phủ Mỹ phải tuyên bố chính sách kinh kế mới bị
phá sản.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai do có hoà bình lâu dài nên nền kinh tế của
các nớc TBCN có một thời kì phát triển tơng đối ổn định, tạo điều kiện cho các nớc
t bản phát triển chuyển các giải pháp hành chính ,quản chế sang dùng các giải pháp
kinh tế và kết hợp kinh tế với các giải pháp hành chính thông qua luật hoá các công
cụ kinh tế.Đạc biệt đối với khu vực kinh tế t nhân, nhà nớc chủ yếu dùng các công
cụ và đòn bẩy kinh tế để hớng dẫn kinh doanh theo định hớng của nhà nớc.Từ
đó,nhà nớc điều tiết kinh tế có hiệu quả hơn,vừa tăng thêm sức sống kinh tế cho các
xí nghiệp t nhân,vừa đảm bảo cho kế hoạch kinh tế đợc thực hiện một cách thuận
lợi .
Những phân tích trên cho thấy sự can thiệp của nhà nớc t bản vào kinh tế
là một quá trình chuyển biến từ lợng sang chất.Vai trò của nhà nớc đã chuyển từ
yếu tố bên ngoài, yếu tố tạo môi trờng thành yếu tố bên trong của quá trình tái sản
sự ổn định về mặt xã hội.Tất cả những điều đó cần fải dựa vào nhà nớc,ủng hộ nhà
nớc nh ngời đại diện chung cho lợi ích của mình và chấp nhận sự điếu phối kinh tế
10
Đề án kinh tế chính trị
của nhà nớc nh một yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phảt triển của họ.Mặt
khác,các nhà t bản t nhân luôn muốn một tỉ xuất lợi nhuận cao mà việc đầu t vào cơ
sở hạ tầng , nghiên cứu khoa học phát triển sự nghiệp giáo dục đòi hỏi một khoảng
đầu t lớn.Nhng tỉ xuất lợi nhuận thấp, thời gian thu hồi vốn chậm,sau dó t bản t
nhân chuyển sang vai nhà nớc với t cách là ngời đại biểu cho xã hội gánh vác và để
đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển,nhà nớc t bản phải đứng ra gánh vác trách
nhiệm xây dựng kết cấu hạ tầng,phát triển khoa học-giáo dục, từ đó mà vai trò kinh
tế của nhà nớc t bản ngày càng đợc nâng cao .
Thứ t,khi các tập đoàn t nhân ra sức áp dụng kĩ thuật mới,tăng cờng quản lí
kinh doanh,tăng cờng tính tổ chức và tính kế hoạch sản xuất của xí nghiệp thì cần
phải có định hớng ở tầm vĩ mô để hạn chế tính tự phát vi mô, đảm bảo cho sự phát
triển cân đối về lợng và chất của nền kinh tế.
Thứ năm,do lực lợng sản xuất phát triển mạnh,năng xuất lao động tăng lên
,làm nảy sinh mâu thuẫn giữa sản xuất đợc mở rộng tuyệt đối với thị trờng bị thu
hẹp tơng đối và cũng để khắc phục sự mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng đã
gây ra cuộc khủng hoảng nghiêm trọng trong những năm 30 của thế kỉ XX.Từ đó
đặt ra yêu cầu cấp bách buộc nhà nớc phải can thiệp vào các khâu của quá trình tái
sản xuất xã hội nhằm bảo đảm sự vận động bình thờng của nó.
Thứ sáu, do sự phân công lao động mà mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế
làm cho mối quan hệ giữa các nớc vừa phụ thuộc vừa đấu tranh lẫn nhau. Để tăng
cờng vị trí kinh tế, chiếm lĩnh thị trờng rộng hơn đồng thời để tăng cờng sự hợp tác
các nớc t bản phải đứng ra áp dụng các chính sách phối hợp quốc tế.
2- Cơ sở lý luận về điều chỉnh kinh tế của nhà nớc t bản hiện đại:
2.1- Vai trò kinh tế của nhà nớc trong chủ nghĩa t bản theo quan điểm của
Mác xít:
Theo lý luận của ĂngGhen về chức năng xã hội của nhà nớc thì các xã hội vận
Đại diện cho quan điểm t sản có tác giả J.M.Keynes, ông cho rằng CNTB
phát triển đến một giai đoạn nhất định, thì cơ chế tự điều chỉnh của thị trờng không
đủ sức dập tắt khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp. Tai hoạ khủng hoảng và thất
nghiệp đổ lên đầu những ngời lao động đã thúc đẩy họ nổi dậy lật đổ chế độ TBCN.
Mặt khác, theo ông nguyên nhân của tai hoạ này là: Do sự tăng trởng của nền
kinh tế đã làm cho thu nhập tăng lên, cùng với nó là sự tăng lên của tiêu dùng, nhng
12
Đề án kinh tế chính trị
tiêu dùng tăng lên thờng chậm hơn mức tăng lên của thu nhập do bản chất tiết kiệm
của con ngời. Từ đó dã làm cho tổng cầu của xã hội thấp hơn so với tổng cung của
toàn xã hội sản xuất ra. Hơn nữa, do tỷ xuất lợi nhuận thấp hơn tỉ xuất lợi tức làm
chocác nhà t bản thích duy trì t bản của mình dới hình thức tiền tệ, t bản sản xuất sẽ
chuyển thành t bản sinh lợi tức dẫn đến việc làm bị thu hẹp lại. Ông cho rằng sự
vận động của nền sản xuất TBCN có nhạy cảm rất cao đối với mức lợi tức, do đó
nếu lợi tức tăng cao, số d tiết kiệm lớn, đầu t giảm và số thất nghiệp sẽ tăng lên gây
hậu quả cho nền kinh tế và nguy cơ bùng nổ xã hội. Vì vậy muốn cho xã hội ổn
định, nhà nớc fải can thiệp vào nền kinh tế, làm cho nó vận động nhịp nhàng và
tăng trởng theo chiều hớng lành mạnh.
Trái với J.Keynes thì M.Friedman lại cho rằng nền kinh tế lâm vào tình
trạng đó là do nhà nớc đa vào lu thông một khôí lợng tiền tệ quá lớn hoặc quá nhỏ.
Nếu nhà nớc đa vào lu thông một khối lợng tiền lớn hơn so với khối lợng cần thiết
sẽ làm cho thu nhập danh nghĩa tăng cao hơn thu nhập thực tế, từ đó kích thích lãi
xuất thị trờng tăng cao, dẫn đến đồng tiền mất giá, tăng tốc độ lạm phát và giá cả.
Từ đó làm xấu đi điều kiện tái sản xuất xã hội và mất ổn định xã hội. Theo
M.Friedman nhu cầu tiền tệ nhạy cảm cao với nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ. Ông
đa ra kết luận rằng các biến số kinh tế vĩ mô nh tổng sản lợng, công ăn việc làm và
giá cả chủ yếu chịu tác động của việc điều chỉnh khối l ợng tiền tệ trong lu thông
của nhà nớc, tức là nó ảnh hởng tới chính sách chủ yếu trong mô hình điều chỉnh
kinh tế của nhà nớc.Nhnh trong những năm 1979 - 1982 chính phủ Mỹ đã áp dụng
mô hình điều chỉnh kinh tế của Friedman và nó đã đa nền kinh tế lâm vào suy thoái
thuyết hiện đại về điều chỉnh kinh tế ngày nay đã tập trung hẳn vào hớng xác định
kịp thoừi các mô hình điều chỉnh kinh tế thích hợp và các chính sách kinh tế hiệu
quả cao.
III- Sự điều chỉnh kinh tế của nhà nớc t bản hiện đại:
Hệ thống điều chỉnh kinh tế của nhà nớc t bản hiện đại đợc hình thành trên
cơ sở kết hợp giữa cơ chế nhà nớc với cơ chế thị trờng và cơ chế độc quyền t nhân.
Sự kết hợp này không phải là sự kết hợp đơn thuần, giản đơn giữa các cơ chế có
tính chất và nguên tắc vận động khác nhau mà là sự kết hợp hài hoà với nhau do
yêu cầu của thực tiễn đặt ra.
1- Sự hình thành hệ thống điều chỉnh kinh tế của nhà nớc t bản hiện đại:
14
Đề án kinh tế chính trị
Trớc hết hãy nói về cơ chế thị trờng, đó chính là cơ chế vận động của nền sản
xuất hàng hoá, ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá
trong lịch sử. Cơ chế thị trờng tạo ra trong nền sản xuất xã hội những hình thức sản
xuất, lu thông hàng hoá ngày càng hoàn thiện hơn bằng cách đào thải, loại bỏ
những hình thức lỗi thời, yếu kém và giữ lại những hình thức phù hợp với sự phát
triển của lực lợng sản xuất và phân công lao động xã hội. Cơ chế thị trờng là sự thể
hiện của quy luật giá trị ra bề mặt của nền sản xuất xã hội mà quy luật giá trị đợc
xem nh một trung tâm điều chỉnh nền kinh tế vô hình nhng đầy quyền lực và hiện
thực. Tính hiện thực của nó đợc thể hiện ở bất kỳ một chủ thể thị trờng nào, đó
chính là những tín hiệu, mệnh lệnh mà nó phát ra trên thị trờng, trong đó giá cả thị
trờng đợc xem là công cụ điều chỉnh kinh tế chủ yếu của cơ chế thị trờng . Trong
cơ thể nền kinh tế xã hội cơ chế thị trờng hoạt động rất nhanh nhạy, nó kịp thời
nắm bắt mọi biến động xảy ra trong nền kinh tế, đồng thời đối chiếu, xử lý thông
tin thu đợc đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và lập tức phát ra bề mặt thị trờng
những số liệu đã đợc xử lý dới hình thức giao động của giá cả, lãi tức tỷ giá . Sự
điều tiết của cơ chế thị trờng diễn ra sau lng những ngời sản xuất kinh doanh, nhng
thông qua những tín hiệu nó phát ra trên thị trờng mà các chủ thể kinh tế đa ra
những giải pháp giảm bớt chi phí sản xuất, nâng cao chất lợng hoặc thay đổi mẫu
động điều chỉnh hành vi sản xuất. Hình thức đầu tiên mang tính điều tiết của độc
quyền t nhân là hoạt động của các cartel dựa trên nguyên tắc tự nguyện thống nhất
có tính độc quyền của một nhóm sở hữu t nhân hoạt động trên thị trờng. Thông qua
các quy định của mình bớc đầu độc quyền t nhân dã điều tiềt đợc việc sản xuất và l-
u thông của một nhóm chủ thể kinh tế.Song sự điều tiết của các cartel rất lỏng lẻo
và mới chi phối đợc một phạm vi hẹp trong lĩnh vực lu thông hàng hoá và dẫn đến
đổ vỡ do cạnh tranh và phát triển không đều giữa các chủ thể kinh tế trong nội bộ
cartel. Từ đó dẫn đến sự xuất hiện các hình thức độc quyền cao hơn nh: syndicat,
trust, consortiun các tổ chức này dùng sức mạnh độc quyền của mình để tạo ra cơ
chế điều tiết, những công cụ biện pháp tác động có lợi cho họ và bắt các chủ thể
kinh tế khác phải theo họ. Điều đó cho thấy rằng độc quyền t nhân đang cố gắng
thích ứng với quá trình xã hội hoá ngày càng cao của lực lợng sản xuất trong CNTB
hiện đại. Khi sự tích tụ và tập trung t bản đạt đến mức độ cao hơn thì t bản tài chính
xuất hiện và trở thành hình thức phổ biến trong nền kinh tế TBCN, t bản tài chính
16
Đề án kinh tế chính trị
nhờ có độc quyền t nhân đã biến một phần lớn những chủ sở hữu nhỏ, riêng lẻ
thành những chủ sở hữu tập thể gián tiếp đợc chỉ đạo thống thất theo một hớng hoạt
động thất định theo đó mà độc quyền t nhân đã thu hẹp và giảm bớt tính biệt lập
trong hoạt động của các chủ thể thị trờng và tạo mối liên hệ xã hội có hớng dẫn
trong phạm vi của họ. Đó chính là sự khắc phục tính tự phát của cơ chế độc quyền
đối với cơ chế thị trờng. Đối với nội tập đoàn nguyên tắc điều tiết là thống nhất
theo hớng nhất định còn đối với thị trờng nguyên tắc điều tiết của tập đoàn là độc
quyền, do đó chúng sẵn sàng bóp chết đối thủ cạng tranh bằng cả bạo lực và kinh
tế. Nhng xét một cách tổng thể điều tiết của t bản tài chính chủ yếu bằng công cụ
tài chính nh: tài trợ, bán phá gía hoặc khi cần thiết thì tập trung đàu t vốn cho các
xí nghiệp chịu áp lực cạnh tranh để họ có điều kiện trang bị lại dây chuyền công
nghệ để tăng sức cạnh tranh.
Từ đó ta thấy độc quyền không thủ tiêu cạnh tranh và sự hoạt động của nó tuy
làm giảm bớt khối lợng các chủ thể cạnh tranh trên thị trờng nhng lại làm tăng
nhau vì độc quyền t nhân điều tiết hoạt động kinh doanh của mình theo mục tiêu
ích kỷ còn nhà nớc phải điều tiết sao cho dung hoà đợc lợi ích của mọi tầng lớp
trong xã hội. Tuy nhiên hoạt động điều tiết của nhà nớc là có giới hạn do sự tồn tại
của nền sản xuất TBCN, các chính sách của nhà nớc khi thì nhân nhợng ngời lao
động, khi lại u đãi các nhà t bản. Tất cả đều vì sự tồn tại của phơng thức sản xuất
TBCN.
2- Sự điều chỉnh kinh tế của nhà nớc t bản hiện đại:
Hệ thống điều chỉnh kinh tế của nhà nớc t bản hiện đại là một tổng thể của
những thiết chế và thể chế kinh tế của nhà nớc TBCN là hệ thống công cụ, chính
sách có khả năng thực hiện chức năng điều chỉnh đối với sự vận động của toàn bộ
nền kinh tế xã hội. Hệ thống này có những công cụ điều chỉnh kinh tế cơ bản nh:
tiền tệ, giá cả, kế hoạch, tài chính, tín dụng, chứng khoán Điều chỉnh chính là
việc nhà nớc áp đặt những quy chế của mình nhằm hớng dẫn, hạn chế, thay đổi
hành vi kinh tế của các chủ thể sản xuất và kinh doanh cho phù hợp với những mục
tiêu mà nhà nớc đặt ra.
Đặc trng của nền kinh tế TBCN là nền kinh tế dựa trên sở hữu t nhân TBCN
về t liệu sản xuất.Vì vậy, để kích thích sự phát triển của khu vực này nhà nớc cần
sử dụng các nguồn lực, công cụ của mình để hỗ trợ họ. Song sự hỗ trợ và kích thích
18
Đề án kinh tế chính trị
này phải đợc định hớng vào một mục tiêu nhất định, phải có sự hớng dẫn và kiểm
soát. Trong nền kinh tế thị trờng, cơ chế thị trờng vẫn tồn tại nh một tất yếu khách
quan chi phối nền kinh tế nên sự điều chỉnh kinh tế của nhà nớc chỉ cần tập chung
vào những khâu chính yếu có tính quyết định sự vận động của quá trình tái sản
xuất.Từ những phân tích trên cho thấy kết cấu của hệ thống điều chỉnh kinh tế của
nhà nớc t bản độc quyền hiện đại là một hệ thống thiết chế tổ chức thuộc bộ máy
nhà nớc t bản,cùng với nó là hệ thống các công cụ và các giải pháp kinh tế đợc thể
chế hoá thành các chính sách kinh tế của nhà nớc.
Hoạt động điều chỉnh nhà nớc t bản đợc thực hiện thông qua một hệ thống tổ
chức nhà nớc, điều chỉnh kinh tế là một chức năng mới phát triển thành một chứ
Pháp 100 75 50 100 100 100 100 75 75 100
Anh 100 25 75 50 75 100 100 100 75 75 100
Italia 75 25 75 100 100 100 100 100
Canada 75 25 100 75 75 75 25
Tỉ trọng sở hữu nhà nớc trong 11 ngành kinh tế quan trọng ở các nớc t bản phát
triển chủ yếu(%)
Từ bản trên cho thấy tỉ lệ các ngành kinh tế mà nhà nớc nắm giữ chiếm chủ
yếu.
Trong nửa sau những năm 80,làn sóng phi quốc hữu hoá tăng cao làm cho tỉ
trọng sở hữu nhà nớc trong toàn bộ nền kinh tế giảm xuống nhng vai trò của nó đối
với ổn định và phát triển kinh tế không hề suy giảm bởi vì nó có vai trò tạo ra cơ sở
ổn định hơn cho sự phát triển của toàn bộ ngành kinh tế ,đặc biệt đối với những
ngành quan trọng nh:đờng sắt,hàng không,thông tin liên lạc Hơn nữa,nhà n ớc
đầu t cải tạo kĩ thuật và hiện đại hoá các xí nghiệp của mình đã thúc đẩy toàn bộ
nền kinh tế quốc dân phát triển. Ngoài ra, các xí nghệp nhà nớc không lấy lợi
nhuận tối đa làm mục đích mà hoạt động của nó nhằm đảm bảo cho toàn bộ nền
kinh tế phát triển cân đối cả về mặt chất lợng và số lợng. Từ đó cho thấy vai trò to
lớn của khu vực sản xuất nhà nớc trong việc điều chỉnh sự vận động của nền kinh
tế.
- Hai là tài chính nhà nớc: đó chính là công cụ cơ bản nằm trong tay nhà n-
ớc vì nhà nớc nắm trong tay từ 30- 40% thu nhập quốc dân nhờ đó nhà nớc t sản có
tiềm lực kinh tế và có hiệu quả điều chỉnh kinh tế to lớn. Công cụ chủ yếu của tài
chính là hệ thống thuế và tài trợ nhà nớc. Bằng cách đa ra các mức thuế khác nhau
và định ra các khoản tài trợ chủ yếu, nhà nớc có thể điều chỉnh đợc dòng đầu t t
bản, khoa học công nghệ, điều hoà đợc thu nhập giữa các tầng lớp nhân dân. Có
thể thấy đầu t của nhà nớc ở các nớc t bản phát triển nh: Mỹ trong vòng 20
20
Đề án kinh tế chính trị
năm(1950- 1970) chiếm khoảng 30% GDI, tại Đức chiếm trên 25% từ 1950- 1976,
trong đó đầu t cho nghiên cứu khoa học và phát triển chiếm tỉ trọng cao. Ngoài ra
đều đã thực thi chính sách thu nhập chẳng hạn, vào 1962 chính phủ Anh lập ra uỷ
ban thu nhập quốc gia trực tiếp can thiệp vào tiền lơng và giá cả. Năm 1978 chính
phủ catơ tuyên bố chỉ đạo tiền lơng và giá cả, quy định giá cả không đợc tăng quá
6,5%, tiền lơng không đợc tăng quá 7%. Chính phủ Pháp cũng đã thực thi chính
sách đông giá và chính sách ổn định vật giá đồng thời quy điịnh mmức lơng tối
thiểu để ổn định thị trờng tạo điều kiện cho sản xuất phát triển.
- Năm là kế hoạch hoá: trong nền kinh tế thị trờng hiện đại, chơng trình kế
hoạch hoá của nhà nớc và thị trờng có mối liên hệ qua lại với nha, các quan hệ kế
hoạch hoá phải lấy quan hệ thị trờng làm đối tợng phản ánh bởi giá cả thị trờng
phản ánh sự vận động của quy luật thị trờng và trên thị trờng thì các chủ thể sản
xuất trao đổi hàng hoá trên cơ sở ngang giá. Cũng thấy rằng tính ổn định của của
kế hoạch và tính tự phát của thị trờng là mâu thuẫn với nhau, sự điều chỉnh của nhà
nớc có nhiệm vụ khắc phục tính trì trệ của kế hoạch và hạn chế tính tự phát của thị
trờng, giữ lại tính nhanh nhạy của thị trờng và tính ổn định tơng đối của kế hoạch
phù hợp với sự phát triển của sản xuất. Quá trình điều chỉnh bằng kế hoạch của nhà
nớc diễn ra liên tục nhờ những thông tin trung thực từ thị trờng phản ánh t đó thông
tin đợc sử lý, thể chế hoá và lại đợc đa trở lại thị trờng dới dạng những chính sách
cụ thể để điều chỉnh nền kinh tế. Chơng trình và kế hoạch của nhà nớc không mang
tính pháp lệnh mà mang tính định hớng nên các chủ thể kinh tế tìm thấy những h-
ớng dẫn thiết thực giúp cho họ tránh đợc thiệt hại to lớn và thu đợc lợi nhuận cao.
- Sáu là,các công cụ hành pháp:nhà nớc đa ra các văn bản hành chính để h-
ớng đẫn thi hành các đạo luật nh: luật kiểm soát lu thông tiền tệ,hàng hoá vật đầu t-
,luật bảo vệ ngời lao động,tiêu dùng môi trờng Các văn bản và sắc lệnh nhà n ớc
cùng với bộ máy tổ chức thi hành,thanh tra giám sát tạo thành một hệ thống công
cụ hành pháp để nhà nớc vận động quá trình điều chỉnh kinh tế. Hệ thống công cụ
của nhà nớc có đặc trng là áp đặt và cỡng chế,khi cần thiết,nhà nớc sẽ đa ra những
sắc lệnh,qui chế buộc các chủ thể kinh tế phải thi hành. Trong hệ thống này có
những công cụ đợc áp dụng thờng xuyên nh các văn bản hớng dẫn hoạt động kinh
tế,có những công cụ chỉ sử dụng trong những tình trạng khẩn cấp nh các sắc lệnh
đình chỉ và các hình phạt hà khắc.
hiện nhân danh quốc gia nhng trong thực tế phần lớn do tác động của các thế lực t
bản, các lực lợng chính trị và bộ máy quan liêu nhà nớc. Từ đó sự vận hành của cơ
23
Đề án kinh tế chính trị
chế thị trờng bị bóp méo, sự phân phối mang tính điều tiết các quyền lực xã hội mất
tác dụng tích cực, ngân sách bị thâm hụt càng lớn và hạn chế khả năng động viên
các nguồn lực cần thiết cho việc thay đổi mô hình phát triển nền sản xuất mới.
Trong những năm 80 hầu hết các nớc t bản phát triển đã diễn ra một cuộc vận động
mạnh mẽ giảm bớt khối lợng trợ cấp và những phơng pháp khác nhau đã đợc thử
nghiệm hoặc vận dụng.
Thứ ba, thực hiện làn sóng t nhân hoá. Nguyên nhân chủ yếu khiến cho phải
t nhân hoá khu vực nhà nớc là: do nhu cầu củng cố khả năng cạnh tranh của nền
kinh tế mỗi nớc t bản phát triển. Đồng thời cung cấp cho dân c trong nớc hàng hoá
và dịch vụ có chất lợng cao mà không cần phải tăng thêm gánh nặng về thuế; do tổ
chức đời sống kinh tế phù hợp với các quy luật thị trờng và sự cạnh tranh bình đẳng
trên thị trờng tỏ ra có hiệu quả hơn là dựa trên những quy định và hạn chế hành
chính chặt chẽ; do tính không hiệu quả của khu vực kinh doanh nhà nớc về kinh tế
kỹ thuật và kinh tế xã hội cần phải khắc phục. Việc t nhân hoá thực chất không
phải là xoá bỏ những chức năng đặc biệt cần thiết của khu vực nhà nớc mà chỉ làm
cho việc thực hiện những chức năng ấy hiệu quả hơn. Nhà nớc trong thực tiễn vẫn
phải sử dụng doanh nghiệp nhà nớc một cách thích hợp để thực hiện chức năng
kinh tế vĩ mô vì lợi ích quốc gia chung.
Thứ t, giải điều tiết đợc thực hiện ở đại đa số những nớc t bản phát triển
nhằm làm cho thị trờng có tính mở hơn, xoá bỏ những quy định của nhà nớc có thể
dẫn đến hình thành độc quyền và ngăn chặn cạnh tranh trên thị trờng này. Trong
mô hình điều tiết mới, giải điều tiết và t nhân hoá là yếu tố quy định chính sách của
nhà nớc t bản phát triển trong khỏang một thập kỷ vừa qua. Nhng không phải bao
giờ cũng chuyển sở hữu nhà nớc thành sở hữu t nhân, giải điều tiết chỉ đợc thực
hiện một cách hạn chế.
Thứ năm, xác định lại các thứ tự u tiên trong chính sách kinh tế, chuyển
xoá bỏ đợc những mâu thuẫn vốn có của CNTB, không thể xoá bỏ đợc tình trạng vô
chính phủ trong phát triển nền sản xuất và khủng hoảng kinh tế chu kỳ gây ra thất
nghiệp.
Trên thế giới hiện nay điều kiện tái sản xuất đang ngày càng xấu đi trong khi
các công ty xuyên quốc gia vẫn không ngừng lớn mạnh từ đó làm cho sự điều chỉnh
kinh tế của nhà nớc rơi vào trạng thái khủng hoảng buộc nó phải thích ứng theo cả
25