MỤC LỤC
STT Nội dung Trang
Mở đầu 2
I Phần thứ nhất
Thực trạng dự án vay vốn của ông Hoàng Văn Bình 4
1 Quá trình thực hiện dự án 4
2 Nguyên nhân dẫn đến dự án không trả được nợ đến hạn 5
3 Những bất cập trong quản lý và hậu quả 8
II Phần thứ hai
Phương án giải quyết 10
1 Mục tiêu xử lý tình huống 10
2 Nội dung các phương án 10
3 Phương thức thực hiện phương án 3 14
III Phần thứ ba
Những kiến nghị về việc đổi mới chính sách cho vay giải quyết
việc làm, tăng cường hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo
trong giai đoạn tới
15
Kết luận 19
Tài liệu tham khảo 21
Nguyễn Hồng Nhật Trang 1
MỞ ĐẦU
*
* *
Việt Nam đang phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, trong những năm qua thường xuyên đạt được tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao và ổn định, đứng hàng đầu trong khu vực. Tuy nhiên,
với mục tiêu “Tất cả vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh” thì vấn đề xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho người
lao động nhằm khắc phục những hạn chế của cơ chế thị trường đang được
xem là một mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
1,4 % so với năm 2001. Cơ cấu lao động đã có bước chuyển biến tích cực
theo hướng giảm tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao
động trong công nghiệp và dịch vụ. Năm 2002, tỷ trọng lao động làm việc
trong khu vực nông nghiệp là 60,95 %; khu vực công nghiệp là 15,08 % và
thương mại dịch vụ là 23,96 %. Do kết quả giải quyết việc làm đã giảm tỷ
lệ thất nghiệp khu vực thành thị xuống 6,01 %; nâng tỷ lệ sử dụng thời gian
lao động ở nông thôn lên 75,29 %. Mặc dù đã đạt được kết quả đáng khích
lệ, song trên thực tế việc triển khai chương trình này ở một số vùng, địa
phương ở nước ta còn có những tồn tại, vướng mắc nhất định. Tiểu luận
này đề cập đến việc vay vốn theo chương trình xoá đói giảm nghèo và giải
quyết việc làm của ông Hoàng Văn Bình tại xã Thanh Xuân, huyện Sóc
Sơn thành phố Hà Nội và xin có một số trao đổi, kiến nghị xung quanh vấn
đề này, nhằm phát huy tối đa hiệu quả của những đồng vốn cho vay, góp
phần cải thiện, nâng cao đời sống của nhân dân theo những mục tiêu của
Đảng, Nhà nước đã đề ra, từng bước khắc phục những hạn chế, tồn tại của
việc triển khai chương trình này.
Nguyễn Hồng Nhật Trang 1
PHẦN THỨ NHẤT
THỰC TRẠNG DỰ ÁN VAY VỐN CỦA ÔNG HOÀNG VĂN BÌNH
1. Quá trình thực hiện dự án.
Ông Hoàng Văn Bình là cựu chiến binh thời kỳ chống Mỹ sinh sống
tại xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội. Thực hiện chủ
trương của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội và Uỷ ban nhân huyện Sóc
Sơn về cho vay vốn giải quyết việc làm, năm 1999, ông Bình đã được Uỷ
ban nhân dân xã Thanh Xuân giao cho làm chủ một dự án vay vốn từ quỹ
quốc gia giải quyết việc làm.
Nội dung dự án: Sử dụng nguồn vốn vay để tập trung cải tạo, khai
thác một số diện tích đất đai đồi núi trọc và đất đai còn hoang hoá ở địa
phương để tiến hành sản xuất. Qui mô dự án bao gồm: Trồng mới 20 ha
cây ăn quả (vải, nhãn); trồng mới 7 ha chè và nuôi thả cá trên diện tích mặt
còn nợ
1 2000 120.000 25.000 10.080 10.080 120.000
2 2001 120.000 10.050 10.080 0 130.080
3 2002 130.080 45.000 10.926 30.000 111.006
Bảng: Quá trình sử dụng vốn của ông Hoàng Văn Bình
Như vậy, đến thời hạn kết thúc dự án (tháng 9/2002), chủ dự án chỉ
thanh toán được 30 triệu đồng, số tiền gốc vay và toàn bộ tiền lãi là 111
triệu đồng phải chuyển sang nợ quá hạn. Qua kiểm tra, xem xét thực tế thì
dự án này chỉ thu hút được 15 lao động, có thu nhập hạn chế và không đủ
khả năng trả nợ.
2. Nguyên nhân dẫn đến dự án không trả được nợ đến hạn.
Ban đầu việc triển khai dự án diễn ra thuận lợi. Các diện tích đất đai
đã được chủ dự án tập trung lao động và vốn để thực hiện trồng chè, vải,
nhãn, diện tích ao hồ được cải tạo lại và thả cá. Tuy nhiên, trong quá trình
thực hiện dự án đã nảy sinh một số vấn đề khó khăn:
- Vào cuối năm 2000, với chủ trương đẩy mạnh công tác thương mại
của huyện, Uỷ ban nhân dân huyện Sóc Sơn đã ra quyết định thu hồi 3,5 ha
đất nằm trong khu đất sản xuất của dự án để xây dựng và mở rộng một hệ
thống chợ hiện đại. Số diện tích này chủ dự án chưa làm đầy đủ thủ tục
Nguyễn Hồng Nhật Trang 1
giao nhận đất, chưa được cấp quyền sử dụng đất tại thời điểm thu hồi đất
nên đã không được đền bù. Trên diện tích này, ông Bình đã tiến hành trồng
vải nhưng chưa đến thời kỳ thu hoạch, do đó số tiền đền bù năng suất cho
cây vải là rất thấp. Việc này đã gây thiệt hại cho ông Bình khoảng 23 triệu
đồng.
- Dự án lập từ tháng 2/1999 nhưng mãi tháng 9/1999 mới được phê
duyệt và thực hiện. Lúc này do điều kiện thời tiết nắng nóng, không phù
hợp với việc trồng cây nên một số cây mới trồng bị chết 20%, gây thiệt hại
trực tiếp đến nguồn vốn đầu tư ban đầu và ảnh hưởng đến sản lượng thu
hoạch. Việc phê duyệt dự án do nhiều cơ quan, nhiều cấp tham gia gây
Nguyên nhân này là do việc xây dựng dự án vật nuôi, cây trồng chưa thật
phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương dẫn đến mức khả thi của dự
án không cao.
- Thời gian sinh trưởng của cây vải và nhãn dài, 3 năm là thời gian
quá ngắn chưa đủ để thu hồi vốn vay. Nguyên nhân này là do sự chuẩn bị
của chủ dự án chưa tốt, chưa tìm ra loại cây trồng thích hợp với điều kiện
của dự án nên hiệu quả không đạt được mục tiêu ban đầu đặt ra. Chủ dự án
có ý định sử dụng nguồn lợi thu dược từ cây chè và nuôi cá để bổ sung, bù
chi phí sản xuất cho cây nhãn, vải là cây lâu năm có thời gian thu hồi vốn dài.
Nhưng trên thực tế, việc trồng chè và nuôi cá cũng gặp nhiều khó khăn bất lợi
(cả chủ quan lẫn khách quan) nên đã không đáp ứng được mục đich này.
- Trình độ của chủ dự án còn hạn chế. Khi công việc sản xuất gặp
khó khăn, bất lợi, chủ dự án đã không có đủ khả năng khắc phục, dẫn đến
thiệt hại là tất yếu. Hơn nữa, chủ dự án lại không báo cáo lên cơ quan cấp
trên để nhận được trợ giúp, trong khi các cơ quan này (Kho bạc Nhà nước
huyện Sóc Sơn, Phòng Kinh tế - Phát triển nông thôn huyện Sóc Sơn) lại lơ
là, xao lãng công tác kiểm tra giám sát.
Nguyễn Hồng Nhật Trang 1
Ngoài ra còn có tâm lý là vốn vay sẽ được gia hạn nợ, đảo nợ hoặc
xoá nợ nên chủ dự án không triệt để thực hiện kế hoạch sản xuất kinh
doanh và có biện pháp điều chỉnh kịp thời khi có biến động.
3. Những bất cập trong công tác quản lý và hậu quả.
- Trước hết, về đất đai: Các cơ quan xét duyệt, thẩm định dự án
không xem xét kỹ quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, dẫn
đến vùng đất đai thực hiện dự án nằm trong quy hoạch phát triển của
huyện, phải tiến hành giải toả. Trong khi đó cũng không kiểm tra xem điều
kiện tự nhiên ở địa phương có thích hợp cho việc trồng chè hay không? Đó
là sự thiếu trách nhiệm và hạn chế về trình độ của cán bộ, công chức trong
quá trình xét duyệt và thẩm định dự án. Chính quyền địa phương cũng
không công bố rộng rãi chương trình quy hoạch phát triển cho nhân dân
ngân sách cấp này trả cho ngân sách cấp kia là không có ý nghĩa về kinh tế
và không đúng theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.
- Sự phối hợp giữa Kho bạc nhà nước huyện với UBND xã không
chặt chẽ. Kho bạc huyện sau khi cấp phát cho vay một lần đã không thực
hiện đầy đủ chức năng giám sát, quản lý dự án một cách thường xuyên, do
đó không phát hiện kịp thời những sai sót của chủ dự án trong quá trình
thực hiện mà chỉ đến khi kết thúc kỳ hạn cho vay mới biết vốn vay được sử
dụng không đúng mục đích và không có hiệu quả thì đã quá muộn. Phòng
Kinh tế - Phát triển nông thôn huyện cũng không làm tròn trách nhiệm
trong khâu kiểm tra giám sát chủ dự án vì coi đây không phái là nhiệm vụ
chính. Trong khi đó, Uỷ ban nhân dân xã lại không thông báo kịp thời các
thông tin liên quan về quá trình thực hiện, triển khai dự án đối với kho bạc
huyện, dẫn đến thất thoát về vốn.
Nguyễn Hồng Nhật Trang 1
- Thủ tục hành chính trong việc xét duyệt dự án còn nặng nề, có
nhiều cơ quan tham gia, lại không phân định rõ trách nhiệm; nhiều khâu,
nhiều cấp dẫn đến chậm trễ, lỡ thời vụ, làm giảm hiệu quả vốn vay.
Nguyễn Hồng Nhật Trang 1
PHẦN THỨ HAI
PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT
1. Mục tiêu xử lý.
Việc đưa ra các phương án nhằm giải quyết tình huống trên phải đảm
bảo được mục tiêu tuân thủ pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa và bảo vệ hài hoà lợi ích của nhà nước, xã hội cũng như của công
dân, nâng cao hiệu quả nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm.
2. Nội dung các phương án.
Căn cứ vào các qui định hiện hành về cho vay giải quyết việc làm và
thực tế công tác quản lý, có thể xử lý theo những phương án sau:
Phương án thứ nhất: Cho vay lại vốn thêm một chu kỳ sản xuất
nữa, có nghĩa là chủ dự án tiếp tục được vay thêm số vốn là 120 triệu đồng
người vay vốn.
Song, phương án trên chưa đảm bảo hài hoà giữa lợi ích Nhà nước
và cá nhân. Để thực hiện phương án này, chủ dự án phải tập trung mọi
nguồn lực để trả nợ ngay, có khả năng phải bán toàn bộ tài sản, không thể
tiếp tục sản xuất và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nhiều
người, ít nhất là những lao động trong dự án và người thân của họ. Làm
như vậy sẽ gây ảnh hưởng đến không chỉ chủ dự án mà còn kéo theo rất
nhiều người khác, có thể gây ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh té – xã hội
ở địa phương Và mục đích ban đầu của dự án là cho vay giải quyết việc
làm, cải thiện đời sống người dân không thực hiện được.
Hơn nữa, nếu trích tài khoản ngân sách xã theo cam kết tín chấp ban
đầu thì phải ngừng hoạt động của xã trong một thời gian, vì đây là một xã
nghèo, có nguồn thu rất eo hẹp. Mặt khác, đây cũng chỉ là lấy ngân sách
Nguyễn Hồng Nhật Trang 1
cấp này trả cho ngân sách cấp kia, không có ý nghĩa về kinh tế và đối với
nhà nước vẫn chịu một phần thiệt hại.
Phương án thứ ba : Các nội dung của phương án thứ ba là:
- Thứ nhất, yêu cầu chủ dự án thu hồi phần vốn sử dụng sai mục đích
để mua sắm tài sản riêng không phục vụ cho sản xuất để đưa vào đầu
tư. Đồng thời cho vay tiếp một phần vốn đủ định mức kỹ thuật trong
thời hạn nhất định cho 1 ha cây trồng để chủ dự án tiếp tục sản xuất.
Phần vốn cho vay thêm này được xác định trên cơ sở thực tế điều
kiện sản xuất ở địa phương, do cơ quan cho vay vốn là Kho bạc Nhà
nước huyện Sóc Sơn phối hợp với phòng Kinh tế - Phát triển nông
thôn huyện và Uỷ ban nhân dân xã Thanh Xuân quyết định.
- Thứ hai, các cơ quan chức năng của địa phương phải cung cấp cho
chủ dự án những kiến thức cần thiết để nâng cao hiểu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh; tạo điều kiện cho chủ dự án đi tham quan học
tập kinh nghiệm của những người làm ăn giỏi; đề nghị chủ dự án
điều chỉnh phương án kinh doanh như chuyển diện tích trồng chè
doanh, tạo được việc làm và cải thiện đời sống cho một bộ phận nhân dân
địa phương, không gây xáo trộn cho địa phương
3. Phương thức thực hiện phương án ba.
Như trên đã đề cập, trong ba phương án nêu trên thì phương án thứ
ba là phương án tối ưu nhất. Để thực hiện tốt phương án này cần thực hiện
một số phương thức chủ yếu sau:
- Trước hết, cơ quan cho vay vốn phối hợp với các bên có liên quan
xem xét đánh giá phần thiệt hại khách quan do thu hồi đất, đôn đốc, hướng
dẫn chủ dự án hoàn thiện hồ sơ, thủ tục đề nghị đền bù một phần. Khi nhận
Nguyễn Hồng Nhật Trang 1
được đền bù, chủ dự án sẽ phải đầu tư vào sản xuất một phần và cơ quan
cho vay sẽ thu hồi một phần nợ quá hạn.
- Thứ hai, giám sát nghiêm ngặt quá trình chủ dự án bán các tài sản
do sử dụng vốn vay để mua sắm và thu hồi vốn dùng sai mục đích để đầu
tư vào sản xuất theo đúng phương án đã điều chỉnh.
- Thứ ba, các cơ quan chuyên môn cần phối hợp với cơ quan cho vay
vốn và chính quyền địa phương tiến hành tập huấn, đào tạo và cung cấp các
tài liệu liên quan về các giống vật nuôi, cây trồng mới có hiệu quả kinh tế
cao để giúp chủ dự án có thể lựa chọn những cây, con phù hợp với điều
kiện tự nhiên của địa phương, đồng thời phổ biến những kinh nghiệm trong
việc phát triển kinh tế trang trại. Nếu xét thấy cần thiết thì tổ chức cho chủ
dự án đi học hỏi kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm sản xuất từ các chủ dự
án khác làm ăn có hiệu quả.
- Thứ tư, cơ quan cho vay vốn phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã
Thanh Xuân xác định số vốn cần thiết còn thiếu để cho vay tiếp giúp chủ
dự án duy trì sản xuất kinh doanh.
- Cuối cùng là phân công cán bộ trực tiếp theo dõi dự án giám sát
quá trình thực hiện đến khi kết thúc, thu hồi toàn bộ vốn vay. Cần chú ý
quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan cũng như cá nhân khi tham gia
giám sát để đảm bảo dự án thực hiện đạt hiệu quả đề ra ban đầu.
đào tạo, là những thành phần yếu thế trong thị trường sức lao động.
Chương trình xoá đói giảm nghèo, cho vay giải quyết việc làm là rất bức
thiết cần được tăng cường hơn nữa cả về nguồn vốn và đổi mới công tác
quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của vốn vay.
2/ Nhà nước cần tạo điều kiện cho người dân được tiếp xúc với
những thành tựu, tiến bộ của khoa học kỹ thuật, tiếp cận được những kiến
thức và điều kiện làm ăn trong cơ chế thị trường, từ đó giúp nâng cao trình
độ dân trí, tránh tình trạng tụt hậu của một bộ phận dân cư trong quá trình
phát triển chung.
3/ Cho vay vốn phát triển các làng nghề và ngành nghề truyền thống,
kinh tế biển, nghề phụ ở nông thôn, kinh tế trang trại, là một tiềm năng
lớn, nhưng do cơ chế đảm bảo tiền vay còn gò bó, nên việc chuyển tải vốn
vay còn hạn chế. Những vướng mắc này cần sớm được tháo gỡ.
4/ Vấn đề rủi ro trong cho vay là tất yếu do các nguyên nhân như:
thiên tai, giá cả thị trường và việc tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy Nhà nước cần
có biện pháp cụ thể giúp đỡ nông dân trong quá trình sản xuất, chế biến và
tiêu thụ sản phẩm. Đặc biệt cần tăng quỹ dự phòng rủi ro để đủ đối phó với
những biến động bất thường.
5/ Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như
phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tăng cường trách nhiệm cá nhân của đội
ngũ cán bộ công chức trực tiếp tham gia xét duyệt, thẩm định và giám sát
các dự án sử dụng vốn vay.
6/ Nên xây dựng cơ chế phân cấp quản lý vốn vay cho cơ quan Nhà
nước cấp huyện, đảm bảo sát thực tế, đồng thời tăng cường trách nhiệm cá
nhân trước pháp luật trong việc làm thất thoát hay sử dụng, giám sát việc
sử dụng vốn vay không có hiệu quả. Công khai dân chủ hoá quá trình xét
duyệt vốn cho vay, tránh tình trạng xin cho hoặc thông đồng, lạm dụng.
Nguyễn Hồng Nhật Trang 1
7/ Nâng mức cho vay, thời gian cho vay và hạ lãi suất cho vay, có cơ
chế điều chỉnh lãi suất kịp thời để kích thích phát triển sản xuất. Chú trọng
12/ Tăng cường vai trò của chính quyền và các đoàn thể ở địa
phương, trong đó cần chú trọng tới vai trò và tính hiệu quả trong hoạt động
của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ,
… đặc biệt là các hoạt động trợ giúp có lien quan trực tiếp tới quá trình sản
xuất tại địa phương.
Nguyễn Hồng Nhật Trang 1
KẾT LUẬN
Cho vay giải quyết việc làm để xoá đói giảm nghèo là một mục tiêu
lớn của Đảng và Nhà nước phù hợp với đường lối phát triển nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Nghị quyết Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định:
"Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Các
thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành
quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng
phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày
càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân"; kinh tế cá
thể, tiểu chủ "được Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ phát triển"; kinh tế
tư bản tư nhân "được khuyến khích phát triển rộng rãi trong những ngành
nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm".
Chính phủ đã có Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 về
tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Đối tượng
cho vay ưu đãi được mở rộng thêm ngoài đối tượng theo Nghị quyết
120/HĐBT ngày 11/4/1992 bao gồm các hộ nghèo; học sinh, sinh viên có
hoàn cảnh khó khăn đang theo học đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp và học nghề; những người đi lao động có thời hạn ở nước ngoài; các
tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh khu vực II, III miền núi Thành
lập Ngân hàng chính sách xã hội để thực hiện tín dụng ưu đãi trên, không
vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, được
miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước. Đây là một bước tiến
cực của cơ chế thị trường ở Việt Nam - 2000.
8. Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia. Báo cáo phát
triển con người Việt Nam 2001. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội -
2001.
9. Quyết định số 2434/QĐ-UB ngày 25/7/1996 của Uỷ ban nhân dân
thành phố Hà Nội quy định về chức năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Sở
nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội.
Nguyễn Hồng Nhật Trang 1
MỤC LỤC
Mở đầu 2
Phần thứ nhất: Thực trạng dự án vay vốn của ông Hoàng Văn Bình 4
1. Quá trình thực hiện dự án 4
2. Nguyên nhân dẫn đến dự án không trả được nợ đến hạn 5
3. Những bất cập trong công tác quản lý và hậu quả 8
Phần thứ hai: Phương án giải quyết 11
1. Mục tiêu xử lý 11
2. Nội dung các phương án 11
3. Phương thức thực hiện phương án ba 14
Phần thứ ba: Những kiến nghị về việc đổi mới chính sách cho vay giải
quyết việc làm, tăng cường hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo
trong giai đoạn tới 16
Kết luận 20
Tài liệu tham khảo 22
Nguyễn Hồng Nhật Trang 1