Lời nói đầu
Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI nền kinh tế nớc ta là "nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý vĩ mô của nhà nớc
theo định hớng XHCN". Đây là sự chuyển hớng lớn có tính chiến lợc trên con đờng quá
độ lên CNXH. Điều này không những khẳng định nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế thị tr-
ờng mà còn khẳng định vai trò của nhà nớc đối với nền kinh tế.Vai trò này ngày càng
quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của con đờng lên CNXH mà
trớc hết là sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc.
Trong công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xớng, vấn đề quan trọng nhất là quan niệm
lại mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa, tìm ra cách tiếp cận phù hợp với xu hớng phát triển
của nhân loại. Việc thay đổi cơ cấu kinh tế nhằm phát huy tiềm lực kinh tế, nâng cao đời
sống về vật chất và tinh thần cho ngời dân, đảm bảo cho dân giàu, nớc mạnh, xã hội
công bằng văn minh sánh vai cùng các cờng quốc là một yêu cầu thực tiễn của sự phát
triển. Nền kinh tế thị trờng rất phù hợp cho sự phát triển đó nhng để phát huy đợc hết u
điểm của nó cũng nh để hạn chế nhợc điểm, ta cần phải nghiên cứu nó một cách chính
xác, hoàn thiện. Đồng thời cũng cần phải nghiên cứu những biện pháp để tăng cờng sự
quản lý của nhà nớc sao cho phù hợp với nền kinh tế hiện nay để tránh khỏi những sai
lầm và khủng hoảng mà nhiều nớc đã vấp phải. Do vậy việc nghiên cứu vai trò kinh tế
của nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam và thấy đợc u nhợc điểm trong quá
trình quản lý kinh tế của nhà nớc là hết sức quan trọng. Đây là một vấn đề rộng lớn bao
hàm nhiều nội dung nhng trong giới hạn của đề án này em xin đợc đề cập tới 4 nội dung
chính sau đây:
I-Tính tất yếu khách quan vai trò quản lý vĩ mô của nhà nớc đối với nền kinh tế.
II-Các đặc trng cơ bản của nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta.
III-Các mục tiêu và chức năng quản lý vĩ mô của nhà nớc.
IV-Một số giải pháp nhằm đổi mới và tăng cờng vai trò kinh tế của nhà nớc ở nớc ta
hiện nay.
B . Nội dung
I . Tính tất yếu khách quan Nhà nớc phải can thiệp vào kinh tế.
Nhà nớc không phải bẩm sinh sẵn có mà nó xuất hiện do tính t hữu về t liệu sản xuất
(TLSX) sản xuất hàng hóa, giai cấp và đấu tranh giai cấp. Nhà nớc là bộ máy do giai cấp
quan để đánh thuế cao vào hàng nhập khẩu và thuế xuất khẩu các mặt hàng ra nớc
ngoài thấp, chỉ xuất thành phẩm chứ không xuất nguyên liệu. Nhà nớc hỗ trợ cho thơng
nhân trong nớc các phơng tiện vật chất và tài chính khi họ tham gia buôn bán quốc tế.
Đồng thời nhà nớc cũng quy định nghiêm ngặt tỉ giá hối đoái cấm trả cho ngời nớc ngoài
cao hơn mức quy định của nhà nớc. Nhờ các chính sách đó, các nớc t bản đã tích lũy đ-
ợc một lợng của cải đáng kể.
2
4.2. Quan niệm cổ điển:
Sang đầu thế kỷ XVIII, nền kinh tế đã tơng đối tập trung và phát triển mạnh trong
lĩnh vực sản xuất, thuyết ''bàn tay vô hình '' của Adam-Smith đợc lan rộng và phát triển
mạnh mẽ. Lúc này giai cấp t sản đang đi lên, những vấn đề của sản xuất kinh tế xã hội
đòi hỏi tự do cạnh tranh. Nhà nớc trong điều kiện đó không tham gia vào kinh tế thị trờng
và các hoạt động của chủ thể kinh tế hàng hóa mà chỉ là công cụ cần thiết làm nhiệm vụ
chống thù trong giặc ngoài bảo vệ đất nớc. Tuy nhiên đôi khi nhà nớc cũng có nhiệm vụ
kinh tế nhất định, khi mà nhiệm vụ kinh tế qúa khả năng của các chủ thể t nhân nh làm
đờng sá, cải tạo sông ngòi để phát triển kết cấu hạ tầng.
4.3. Keynes:
Vào đầu thế kỷ XX, những cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra có tính chu kỳ. Đặc
biệt cuộc khủng hoảng 1929-1933 cho thấybàn tay vô hình không đảm bảo điều kiện ổn
định cho nền kinh tế thị trờng phát triển, cần phải có một lực lợng nhân danh xã hội can
thiệp vào quá trình kinh tế ở mức vĩ mô và vi mô. T tởng này xuất phát từ quan niệm cho
rằng sự tăng lên của thu nhập kéo theo tăng tiêu dùng. Song do khuynh hớngtiêu dùng
giới hạn nên tiêu dùng tăng chậm hơn so với thu nhập vì vậy cầu giảm xuống. Mức tỷ
suất lợi nhuận nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất vay thì chủ doanh nghiệp sẽ không có lợi
trong việc vay vốn để đầu t, và họ sẽ không đầu t vào sản xuất kinh doanh dẫn đến sản
xuất trì trệ, khủng hoảng và thất nghiệp tăng. John.M.Keynes cho rằng ở tầm vĩ mô nhà
nớc sử dụng các công cụ nh lãi suất chính sách tiêu dùng, điều tiết lu thông hàng hóa,
lạm phát thuế, ở tầm vĩ mô nhà nớc trực tiếp phát triển các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh và dịch vụ công cộng. Keynes và những ngời theo ông tin tởng rằng sự can thiệp
nh vậy của nhà nớc sẽ khắc phục đợc khủng hoảng thất nghiệp tạo ra sự ổn định cho
thiện. Lênin chỉ rõ rằng nhà nớc xã hội chủ nghĩa có vai trò kinh tế đặc biệt. Nhà nớc
không còn là bộ máy ăn bám đứng trên quá trình sản xuất. Nó phải chuyển sang tổ chức
thực hiện chức năng quản lý nền kinh tế quốc dân. Nhà nớc trong hệ thống chuyên chính
vô sản có vai trò cực kỳ quan trọng, với t cách là bà đỡ. Vai trò tạo điều kiện ( môi tr-
ờng, hành lang ) thuận lợi và ổn định cho sự hình thành và phát triển kinh tế thị trờng.
Vai trò ''bà đỡ'' chỉ có thể thực hiện khi hệ thống chuyên chính vô sản trong đó bộ phận
quan trọng là nhà nớc phải tự đổi mới để có đủ năng lực và phẩm chất. Nói cách khác
nhà nớc đó phải là nhà nớc pháp quyền.
Nh vậy, bất kỳ nhà nớc nào dù lớn hay nhỏ, dù ở thời đại nào cũng có vai trò kinh tế
nhất định. Sự ra đời và sự tồn tại của nhà nớc bao giờ cũng có nguồn gốc từ nguyên
nhân kinh tế. Đến lợt mình bất kỳ một hoạt động nào của nhà nớc cũng hoặc là thúc đẩy
hoặc là kìm hãm sự vận động nền kinh tế. Đó là mối quan hệ biện chứng giữa nhà nớc
và kinh tế.
II-Các đặc trng cơ bản của nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta.
Đặc điểm về mô hình kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam.
Kinh tế thị trờng ở Việt nam sẽ đợc phát triển theo định hớng XHCN. Đó lá sự đinh h-
4
ớng của một xã hội mà sự hùng mạnh của nó nhờ vào sự giàu cóvà hạnh phúc của dân
c. Xã hội không còn chế độ ngời bóc lột ngời, dựa trên cơ sở nhân dân lao động làm
chủ, con ngời đợc giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hởng
theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện
cá nhân. Xã hội có nền kinh tế phát triển cao trên cơ sở khoa học, công nghệ và lực l-
ợng sản xuất hiện đại. Nội dung định hớng XHCN ở nớc ta đã đợc hội thảo khoa học
nhiều lần, về cơ bản có những đặc điểm sau:
Một là, hai mặt kinh tế và xã hội của nền kinh tế thị trờng nớc ta đợc chủ động kết
hợp với nhau ngay từ đầu thông qua pháp luật, chính sách kinh tế, chính sách xã hội
trên cả tầm quản lý kinh tế vĩ mô và vi mô. Nếu ở tầm vi mô, các chủ doanh nghiệp lấy lợi
nhuận làm mục tiêu xác định hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh thì ở tầm vĩ
mô, Nhà nớc dùng hiệu quả kinh tế xã hội làm mục tiêu quản lý nhằm thực hiện công
bằng kinh tế và hiệu quả xã hội.
khác ngoài mục tỉêu đó. Chúng ta đã có độc lập dân tộc, còn phải làm cho dân giầu, nớc
mạnh điều đó chỉ có thể sử dụng động lực của kinh tế thị trờng và vai trò của nhà nớc.
Trong những năm qua, nhờ chuyển sang kinh tế thị rờng mà nền kinh tế nớc ta đã có
những thay đổi căn bản, nhờ cơ ché thị trờng mà phân bổ nguồn lực một cách có hiệu
quả hơn. Các động lực lợi ích kinh tế đã phát huy tác dụng, cơ chế quản lý mới đã đợc
vận hành và ngày càng tham gia tốt vào phân công lao động quốc tế. Nhng Đảng ta chủ
trơng chuyển sang kinh tế thị trờng không phải là thị trờng bất kỳ mà là thị trờng định h-
ớng XHCN. Về bản chất đó là cơ chế hỗn hợp mang tính định hớng XHCN, vừa kế thừa
thành tựu của loài ngời, vừa gắn liền với đặc điểm và mục tiêu chính trị là: Sự kết hợp
giữa tăng trởng kinh tế và tiến bộ xã hội.
Muốn đạt đợc mục tiêu đó Nhà nớc phải bằng hệ thống chính sách, công cụ để quản
lý và điều hành nền kinh tế, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực với ý tởng xây
dựng một nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân đợc nâng cao.
Trớc đây có lúc chúng ta hiểu cha đúng, đồng nhất kinh tế thị trờng với kinh tế TBCN
vì vậy mà không tận dụng đợc sức mạnh của thị trờng để phát triển kinh tế nhằm đạt đợc
những mục tiêu đề ra.
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài ngời, sản xuất hàng hoá ra đời từ khi tan rã
chế độ cộng sản nguyên thuỷ, nó tồn tại và phát triển trong xã hội nông nô, trong xã hội
phong kiến và đạt đỉnh cao trong xã hội TBCN. Rõ ràng, thị trờng không mang bản chất
chế độ, mà chỉ có ché đọ xã hội nào biết hay không biết tận dụng những lợi thế của kinh
tế thị trờng và sử dụng những lợi thế đó để phục vụ chế độ mình. Thị trờng đợc coi là một
phơng tiện quan trọng để xây dựng và phát triển kinh tế. Kinh tế thị trờng bao giờ cũng
tồn tại dới một thể chế chính trị. Mỗi nhà nớc đều có thể sử dụng nó theo quan điểm của
riêng mình.
Nhờ kinh tế thị trờng, CNTB đã đạt đợc những mục tiêu kinh tế - xã hội, phát triển
lực lợng sản xuất, nâng cao năng xuất lao động. Cũng nhờ kinh tế thị trờng, quản lý xã
6
hội đạt đợc những thành quả về hành chính, văn minh công cộng, con ngời nhạy cảm với
khả năng sáng tạo và ý trí vơn lên
CNXH cần phải biết kế thừa và phát triển những thành tựu của loài ngời, trớc hết
thực hiện chế độ tự chủ kinh doanh theo cơ chế thị trờng, còn nhà nớc giảm bớt sự can
7
thiệp vào hoạt động kinh doanh và tập trung chủ yếu vào chức năng quản lý vĩ mô. Căn
cứ vào mục tiêu và hoàn cảnh của đất nớc ta trong thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế,
nhà nớc ta có những chức năng sau :
2.1-Chức năng quản lý: bao trùm là tạo môi trờng cho hoạt động kinh doanh. Đó là
các môi trờng chính trị, ngoại giao, luật pháp, kinh tế -xã hội và kết cấu hạ tầng Tạo đ-
ợc một môi trờng thuận lợi là điều kiện quan trọng hàng đầu để mọi ngời - kể cả ngời nớc
ngoài - an tâm bỏ vốn đầu t vào sản xuất kinh doanh, tạo cho nền kinh tế sôi động nhng
có trật tự kỷ cơng, giải quyết đúng đắn các mối quan hệ và lợi ích.
2.2-Chức năng hớng dẫn: Nền kinh tế quốc dân phát triển theo những định hớng
nhất định, phù hợp với chiến lợc phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn do Đảng
và Nhà nớc đề ra nhằm hớng dẫn các doanh nghiệp và ngời tiêu dùng khắc phục bớt tính
mù quáng, tự phát của cơ chế thị trờng. Thực hiện chức năng này trớc hết nhà nớc phải
quan tâm xây dựng chiến lợc kinh tế - xã hội, quy hoạch chơng trình, mục tiêu, kế hoạch
và các chính sách đảm bảo thực hiện chiến lợc và kế hoạch đó. Trong điều kiện nớc ta
hiện nay, việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế - xã
hội do Đại hội VII của Đảng đề ra có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm định hớng cho
việc bố trí cơ cấu kinh tế và làm căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm
cho cả nớc, địa phơng và các đơn vị kinh tế cơ sở.
2.3-Chức năng điều tiết : Đây là chức năng quan trọng và phức tạp trong việc điều
hành nền kinh tế thị trờng. Do tính chất phức tạp của thị trờng cũng nh sự biến động của
quan hệ cung-cầu kéo theo sự biến động của giá cả thị trờng, sự phân hóa giàu nghèo
và bất công xã hội tăng lên v.v đòi hỏi nhà nớc cần phải có tác động điều tiết, chi phối
thị trờng nhằm tạo môi trờng và hành lang kinh doanh cho các chủ doanh nghiệp, đảm
bảo mục tiêu có hiệu quả, ổn định và công bằng của nền kinh tế. Để điều tiết nền kinh tế
nhà nớc sử dụng một hệ thống các biện pháp, chủ yếu là biện pháp kinh tế, các công cụ
quản lý bao gồm các chính sách và tiềm lực kinh tế của nhà nớc.
2.4-Chức năng kiểm soát : Nhằm thiết lập trật tự, kỷ cơng trong hoạt động kinh tế,
bảo vệ tài sản quốc gia và lợi ích của mọi thành viên trong xã hội, từng bớc thực hiện
triển ổn định và có hiệu quả của nền kinh tế, gắn việc xây dựng và thực hiện kế hoạch
với các chính sách đòn bẩy kinh tế, với việc hớng dẫn thông tin kinh tế, khoa học kỹ thuật
và công nghệ.
3.3-Các chính sách kinh tế và xã hội:
Hệ thống chính sách và công cụ kinh tế sẽ giúp nhà nớc có thể điều khiển hoạt
động của các doanh nghiệp, có thể nói mỗi chính sách kinh tế là một hành lang hớng dẫn
hoạt động đầu t mở rộng phát triển sản xuất, hớng dẫn các doanh nghiệp hàng động một
cách hiệu quả nhất trong nền kinh tế thị trờng. Nó bao gồm ngân sách nhà nớc, các loại
thuế, chính sách tiền tệ, thu chi ngân sách. Kinh tế thị trờng đòi hỏi phải xây dựng ngân
sách theo tinh thần bội chi để chống suy thoái kinh tế, bội thu để chống lạm phát, khi cần
9
sẽ huy động vốn trong nớc bằng nhiều hình thức (kỳ phiếu, công trái) hoặc vay vốn nớc
ngoài để đầu t phát triển. Để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua ngân sách, nhà nớc
phải xác định đợc trạng thái nền kinh tế để điều chỉnh mức sản xuất thực tế so với mức
tiềm năng và mức sản xuất tối đa.
3.3.1-Chính sách thuế : Tác động lớn tới hoạt động của các doanh nghiệp. Thông
qua thuế, nhà nớc điều chỉnh cơ cấu kinh tế, kích thích hoặc hạn chế hoạt động sản xuất
kinh doanh của từng ngành, từng lĩnh vực.
3.3.2-Chính sách tiền tệ : Đợc hình thành dựa trên cơ sở khoa học của sự thống nhất
biện chứng giữa sản xuất và lu thông. Sự tác động của nền kinh tế theo ba bớc lôgíc :
thay đổi mức cung tiền tác động đến lãi suất và cuối cùng là tổng cầu hay trong quan hệ
cân đối giữa sản lợng và giá cả. Chính sách tiền tệ có thể tóm lại gồm hai loại chính sách
định hớng sau:
- Chính sách mở rộng tiền tệ là chính sách cung cấp thêm tiền cho nền kinh tế để
khuyến khích đầu t phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm.
- Chính sách thu hẹp tiền tệ là chính sách giảm bớt lợng cung ứng tín dụng, nhằm
hạn chế đầu t, ngăn chặn sự phát triển quá đà của nền kinh tế, ngăn chặn lạm phát có
thể xảy ra trong tơng lai.
Về lâu dài, chính sách tiền tệ phải hớng vào ba mục tiêu lớn : gia tăng sản lợng thúc
đẩy kinh tế phát triển, tạo công ăn việc làm, ổn định giá trị tiền tệ kiểm soát lạm phát. Để
chính sách kinh tế xã hội. Hơn nữa, trong điều kiện một đất nớc trải qua chiến tranh lâu
dài và gian khổ, đối tợng hởng chính sách rất đông, khi chuyển qua kinh tế thị trờng họ sẽ
gặp rất nhiều khó khăn nếu không đợc sự quan tâm của Đảng và Nhà nớc. Thêm vào đó,
những yêu cầu cần phải giải quyết về mặt xã hội nh công ăn việc làm, giáo dục, y tế
càng đòi hỏi điều chỉnh chính sách xã hội phù hợp, vừa chống đợc những tác động xã
hội tiêu cực của cơ chế thị trờng.
3.4-Các công cụ khác :
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nớc ta hiện nay, lực lợng kinh tế
quốc doanh đợc coi là công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nớc. Kinh tế quốc doanh có tác
dụng chi phối nền kinh tế, hoàn toàn có khả năng làm chủ và điều tiết thị trờng. Nhà nớc
cần nắm lực lợng dự trữ quốc gia - bao gồm ngân sách , vàng, ngoại tệ, các loại hàng
hóa dự trữ chiến lợc nh lơng thực, xăng dầu - để can thiệp khi cần thiết nhằm giảm nhẹ
các cơn sốt và ổn định thị trờng. Có thể khẳng định rằng trên thế giới ngày nay không có
nớc nào lại vắng bóng các cơ sở kinh tế quốc doanh. Nớc ta xem kinh tế quốc doanh là
thành phần ''chủ đạo'', ''lãnh đạo then chốt'' đối với nền kinh tế. Vai trò của kinh tế quốc
doanh thể hiện ở năng suất, chất lợng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong điều kiện
nớc ta hiện nay khi các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và các thành phần kinh tế t
nhân còn yếu thì vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh là cần thiết. Tuy nhiên không vì
thế mà xây dựng chế độ công hữu đại trà. Chủ đạo có nghĩa là nắm vững những khâu
11
trọng yếu nhất trong nền kinh tế, nhất là các khâu thuộc ngành chiến lợc và các ngành
có ý nghĩa xã hội to lớn nh lơng thực, thực phẩm. Ngoài ra kinh tế quốc doanh còn là lực
lợng tham gia vào sự hình thành và mở rộng các quan hệ thị trờng theo định hớng nhà n-
ớc. Vì vậy không đợc phủ nhận hay coi nhẹ công cụ và lực lợng đặc biệt này.
Các doanh nghiệp nhà nớc là nơi nắm vững những ngành và lĩnh vực then chốt của
nền kinh tế, có tác dụng hớng dẫn và chi phối hoạt động của các thành phần kinh tế
khác. Nhà nớc cần nắm và có cơ chế quản lý các doanh nghiệp nhà nớc, đảm bảo cho
chúng trở thành công cụ điều tiết vĩ mô đáng tin cậy .
Ngoài ra nhà nớc còn sử dụng các công cụ khác để quản lý nền kinh tế thị trờng
nh hệ thống thông tin kinh tế, thống kê, kế toán, lực lợng kiểm tra, kiểm soát - bao gồm
vừa là một hớng đi đúng đắn của chiến lợc phát triển kinh tế t nhân, là một biện pháp cần
thiết mà nhiều nớc phát triển đã và đang lựa chọn nhằm cấu trúc lại nền kinh tế. Thu
hẹp phạm vi hoạt động của các khu vực kinh tế nhà nớc về vị trí then chốt, nhất là ngân
hàng dự trữ, sân bay và bến cảng
3-Tăng cờng khả năng kiểm kê, kiểm soát của nhà nớc đối với hoạt động của các
doanh nghiệp. Để làm việc đó còn phải tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp tự
do kinh doanh. Thành lập các công ty kiểm soát t nhân và nhà nớc, đặt dới sự quản lý và
chỉ đạo nghiệp vụ của bộ T pháp. Thực hiện chế độ nghiêm ngặt đăng ký hệ thống kế
toán.
4-Cải cách hiện đại hoá bộ máy hành chính nhà nớc. Vấn đề cốt lõi là đổi mới chức
năng của cả hệ thống bộ máy này và trên cơ sở đó đặt lại chức năng của từng cơ quan
trong hệ thống. Yêu cầu nâng cao năng lực quản lý và điều hành nhà nớc. Đội ngũ viên
chức nhà nớc cần đợc gấp rút đào tạo lại và đào tạo mới. Về mặt kinh tế, mục tiêu cao
nhất của hành chính là tạo môi trờng cho mọi hoạt động, mọi nguồn lực của xã hội phải
sinh lời.
5-Đổi mới công tác theo xu hớng kế hoạch hóa. Phải bảo đảm tính cân đối thống
nhất giữa mục tiêu và nguồn lực, lựa chọn phơng hớng phát triển đúng đắn và động viên
sức lực, trí tuệ xã hội.
6-Đổi mới hệ thống thông tin kinh tế , thông tin quản lý theo yêu cầu của cơ chế thị
trờng.
7-Đổi mới sử dụng các chính sách kinh tế theo yêu cầu của cơ chế thị trờng tạo ra
cơ chế phù hợp với các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô. Sử dụng một hệ thống các đòn
bẩy kinh tế tác động vào cơ chế giá, lơng, tiền. Các chính sách tác động vào cầu, cung.
Tác động của tất cả các chính sách cần đợc hội tụ ở việc giải quyết các mục tiêu định h-
ớng của nền kinh tế.
8-Đổi mới hệ thống pháp chế kinh tế theo hớng dân chủ hóa nền kinh tế. Hệ thống
đó phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích kinh doanh và công bằng xã hội. Trớc
mắt cần ban hành sớm các bộ luật nh : luật dân sự, luật lao động, luật doanh nghiệp nhà
13
nớc để làm nền tảng pháp chế cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Cần tổ chức và
cấp bách là phải đào tạo lại cán bộ và bố trí cán bộ đúng với năng lực chuyên môn.
Nhìn chung lại, thì nhà nớc sử dụng biện pháp: giáo dục, hành chính và kinh tế. Đại
hội VI Đảng ta khẳng định biện pháp kinh tế là biện pháp quản lý chủ yếu của cơ chế
14
quản lý mới.
Mỗi một biện pháp đều có u, nhợc điểm riêng vì vậy chúng ta cần phải kết hợp lại
để bổ sung cho nhau trong đó biện pháp kinh tế phải coi trọng đặc biệt. Con ngời là tổng
hòa của các quan hệ xã hội hoạt động vì nhiều động cơ cho nên việc quản lý phải dùng
tổng hợp các biện pháp. Và nhờ vậy, nhà nớc chúng ta mới quản lý có hiệu quả nền kinh
tế thị trờng để đạt đợc mục tiêu của mình.
15
C.Kết luận.
Nớc ta đang đi đúng con đờng mà Đảng và Bác đã lựa chọn, nhng để duy trì đợc
định hớng XHCN, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nớc, khắc phục nguy cơ tụt
hậu, phát huy vai trò của cơ chế thị trờng, cần phải có sự tham gia của nhà nớc trong nền
kinh tế. Trong cuộc chạy đua vì lợi nhuận và cạnh tranh thị trờng, muốn nền kinh tế phát
triển nhanh, bền vững vì lợi ích trớc mắt và lâu dài thì sự định hớng của nhà nớc là cần
thiết. Trong hoàn cảnh nớc ta đang diễn ra quá trình xóa bỏ cơ chế cũ, phát triển cơ chế
thị trờng định hớng XHCN , vai trò của nhà nớc rất quan trọng và nhiệm vụ của nhà nớc
cũng rất nặng nề. Nhằm thực hiện tốt vai trò và nhiệm vụ đó, nhà nớc phải dùng những
công cụ và hệ thống chính sách để điều tiết vĩ mô nền kinh tế một cách hiệu quả. Có nh
vậy, mới đáp ứng đợc nhu cầu và mong mỏi của ngời dân ./.
16
Tài liệu tham khảo
1. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII
2. Kinh tế thị trờng định hớng XHCN _Nguyễn Sinh Cúc
3. Vai trò quản lý kinh tế của nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng_Kinh nghiệm của các n-
ớc ASEAN _Nguyễn Duy Hùng
4. Tìm hiểu cơ chế thị trờng
5. Một số vấn đề về quản lý vĩ mô