LỜI MỞ ĐẦU
Vụ tài chính tiền tệ là một trong số các cơ quan giúp cho Bộ Kế Hoạch-
Đầu tư thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình. Vụ có chức năng quản
lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ, xây dựng các cân đối lớn như cân
đối NSNN, cân đối tiền – hàng, tham mưu về chính sách tài chính, tiền tệ,
chính sách huy động và sử dụng nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế - xã
hội một cách có hiệu quả. Kể từ khi thành lập cho tới nay, Vụ Tài Chính- Tiền
Tệ đã không ngừng nổ lực thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, đạt
được những kết quả đáng khích lệ góp phần vào sự phát triển của đất nước. Có
thể thấy, Vụ Tài Chính- Tiền Tệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công
tác điều hành, quản lý lĩnh vực tài chính, tiền tệ của đất nước. Trong thời gian
5 tuần thực tập tổng hợp tại Vụ, dưới sự hướng dẫn của chuyên viên Vũ Ngọc
Hưng và sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ, nhân viên của Vụ, tôi đã có cơ
hội được tìm hiểu về Vụ, về chức năng nhiệm vụ, tình hình công tác của Vụ
Tài Chính – Tiền Tệ. Qua đó, tôi đã có được những hiểu biết sâu hơn về công
tác của Vụ trong thời gian qua. Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo THS. Đặng
Thị Lệ Xuân, anh Vũ Ngọc Hưng cùng các cán bộ Vụ Tài Chính - Tiền Tệ đã
giúp đỡ tôi hoàn thành bản báo cáo này.
1
PHẦN I. TÌM HIỂU CHUNG VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP
I. TÌM HIỂU CHUNG VỀ BỘ KẾ HOẠCH - ĐẦU TƯ
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Bộ Kế Hoạch – Đầu Tư
Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập, ngày
31/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Sắc lệnh số 78-SL thành lập ủy ban Nghiên cứu
kế hoạch kiến thiết nhằm nghiên cứu, soạn thảo và trình Chính phủ một kế
hoạch kiến thiết quốc gia về các ngành kinh tế, tài chính, xã hội và văn hóa.
Đến ngày 14 tháng 5 năm 1950, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
ra Sắc lệnh số 68-SL thành lập Ban Kinh tế Chính phủ (thay cho ủy ban
Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết). Ban Kinh tế Chính phủ có nhiệm vụ nghiên
cứu, soạn thảo và trình Chính phủ những đề án về chính sách, chương trình, kế
theo ngành, vùng lãnh thổ.
- Trình Chính phủ các dự án Luật, Pháp lệnh, các văn bản pháp quy có
liên quan đến cơ chế chính sách về quản lý kinh tế, khuyến khích đầu tư trong
và ngoài nước nhằm thực hiện cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
- Tổng hợp các nguồn lực của cả nước kể các nguồn từ nước ngoài để
xây dựng trình Chính phủ các kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn về phát
triển kinh tế - xã hội của cả nước và các cân đói chủ yếu của nền kinh tế quốc
dân.
- Hướng dẫn các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy
ban nhân dân các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và cân đối
tổng hợp kế hoạch.
- Hướng dẫn, kiểm tra các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, ủy ban nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực
hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
- Làm Chủ tịch các Hội đồng cấp Nhà nước: Xét duyệt định mức kinh tế
- kỹ thuật, xét thầu quốc gia, thẩm định thành lập doanh nghiệp nhà nước; điều
phối quản lý và sử dụng nguồn ODA; cấp giấy phép đầu tư cho các dự án hợp
tác, liên doanh.
- Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc sử dụng quỹ dự trữ Nhà
nước.
- Tổ chức nghiên cứu dự báo, thu thập xử lý các thông tin về phát triển
kinh tế - xã hội.
3
- Tổ chức đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ
công chức, viên chức trực thuộc Bộ quản lý.
- Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chiến lược phát triển, chính
sách kinh tế, quy hoạch và kế hoạch hóa phát triển.
3. Cơ cấu tổ chức của Bộ Kế Hoạch - Đầu Tư
Khối các cơ quan giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước gồm:
KHỐI CƠ QUAN GIÚP BỘ
THỰC HIỆN CHỨC NĂNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
KHỐI CÁC TỔ CHỨC HÀNH
CHÍNH SỰ NGHIỆP
4
trình độ thạc sĩ, 550 người có trình độ đại học và cao đẳng, 153 cán bộ đảng
viên có trình độ lý luận chính trị cao cấp, 401 người có trình độ lý luận chính
trị trung cấp.
II. TÌM HIỂU CHUNG VỀ VỤ TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Vụ Tài Chính - Tiền Tệ
Ngày 8/10/1955 cùng với sự ra đời của Uỷ Ban Kế Hoạch Quốc Gia,
theo nghị quyết của Hội đồng Chính Phủ, Phòng Tài Chính và Thương Mại -
tiền thân của Vụ Tài Chính Tiền Tệ hiện nay đã được thành lập. Phòng Tài
Chính và Thương Mại có nhiệm vụ tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện kế
hoạch khôi phục kinh tế sau chiến tranh (1955-1957) và kế hoạch 3 năm cải
tạo và phát triển kinh tế - xã hội (1958-1960), nghiên cứu trình chính phủ các
cơ chế, chế độ về tài chính, kế hoạch hoá giá thành, phí lưu thông.
Ngày 9/10/1961, Hội đồng Chính Phủ ra Nghị định số 158-CP quy định
nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ Ban Kế Hoạch Nhà Nước với
cơ cấu gồm Văn phòng, Tổng cục quản lý xây dựng cơ bản và 14 Vụ chuyên
môn, trong đó có Vụ Kế hoạch Tài Chính và Giá Thành. Tổng số cán bộ của
Vụ lúc đó gồm 12 người với 1 vụ trưởng, 2 vụ phó và 9 cán bộ. Ngay sau khi
thành lập, Vụ Kế Hoạch Tài Chính và Giá Thành đã tham gia vào việc lập kế
hoạch kinh tế 5 năm lần thứ nhất và kế hoạch thời chiến giai đoạn 1966-1975.
Đến cuối những năm 70, đầu những năm 80, tên gọi của Vụ được
chuyển thành Vụ Kế Hoạch Tài Chính – Giá Thành – Giá Cả. Số lượng cán bộ
của Vụ thời kỳ này lên tới trên 30 cán bộ. Chức năng của Vụ thời kỳ này
được phân công bao gồm: tổng hợp kế hoạch giá thành, chi phí lưu thông và
tích luỹ phát sinh của khu vực kinh tế quốc doanh; lập bảng cân đối tài chính
giao cho Vụ nhiệm vụ xây dựng chỉ tiêu giá thành giá cả và phí lưu thông hợp
lý giao cho các Bộ, ngành căn cứ trên chế độ lập kế hoạch, hạch toán và thống
kê giá thành.
Đến giai đoạn đổi mới, từ sau năm 1986, xuất phát từ chủ trương đường
lối đổi mới theo định hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, nhiệm vụ của Vụ Tài Chính - Tiền Tệ cũng được thay đổi cho phù hợp
với thực tế. Các nhiệm vụ mang tính cụ thể, vi mô trước đây đã được thay thế
dần bằng việc hoạch định các chính sách và cân đối mang tính vĩ mô.
Tháng 4/1996, Bộ trưởng Bộ Kế Hoạch - Đầu Tư đã có quyết định số 97
BKH/TCCB, căn cứ Nghị định số 75/CP, quy định về chức năng nhiệm vụ và
tổ chức bộ máy của Vụ Tài Chính - Tiền Tệ với những nội dung chính gồm:
- Xác định phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch của lĩnh vực tài chính, tiền tệ,
giá cả.
- Xây dựng các bảng cân đối tổng hợp về tài chính - tiền tệ trong thời kỳ kế
hoạch: cân đối tài chính, cân đối ngân sách Nhà nước, cân đối tổng thể tiền
tệ, cân đối tín dụng, cân đối tiền mặt, cân đối thanh toán quốc tế, cân đối
6
ngoại tệ, cân đối tiền hàng và các giải pháp thực hiện các cân đối trên; xác
định chỉ số lạm phát dự kiến trong kỳ kế hoạch.
- Tham gia với Bộ Tài Chính phân bổ kế hoạch thu chi ngân sách trong kỳ kế
hoạch cho các Bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ và
các địa phương.
- Phối hợp với các Vụ trong Bộ, với Bộ Tài Chính và các Bộ, Ngành xác
định kinh phí cho các dự án, chương trình quốc gia( thuộc khoản chi thường
xuyên của ngân sách) và phân bổ kinh phí của các chương trình, dự án cho
các ngành địa phương, các đơn vị sử dụng.
- Nghiên cứu đề xuất các chủ trương biện pháp và cơ chế chính sách lớn trên
lĩnh vực tài chính, tiền tệ, giá cả.
- Kiểm tra, theo dõi và lập báo cáo quý, 6 tháng, 9 tháng và hàng năm việc
thực hiện kế hoạch tài chính tiền tệ, giá cả. Phối hợp với Bộ Tài Chính giải
và toàn ngành ngân hàng (trừ Ngân hàng Chính sách xã hội), Quỹ hỗ trợ
phát triển, các Quỹ tài chính, Kiểm toán Nhà nước, Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nước
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao.
Nhiệm vụ của Vụ Tài Chính - Tiền Tệ ngày càng được mở rộng và đổi
mơi về nội dung, phù hợp với xu hướng đổi mới của nền kinh tế trong đó có
nhiều chức năng do Vụ chủ trì thực hiện. Vụ Tài Chính - Tiền Tệ ngày càng có
những đóng góp quan trọng vào điều hành chính sách tài chính, tiền tệ, tín
dụng.
3.Cơ cấu tổ chức của Vụ Tài Chính - Tiền Tệ
Vụ Tài Chính - Tiền Tệ được tổ chức thành 2 bộ phận là: nhóm tài chính
và nhóm tiền tệ. Nhóm tài chính có chức năng thực hiện tất cả các nhiệm vụ
được giao có liên quan tới lĩnh vực tài chính như: tham gia xây dựng kế hoạch
thu chi ngân sách, phối hợp phân bổ thu chi ngân sách, tổng hợp vốn đầu tư
phát triển, phân bổ vốn cho chương trình mục tiêu quốc gia, lập kế hoạch giải
ngân, vay, trả nợ ODA….Nhóm tiền tệ có chức năng thực hiện các nhiệm vụ
được giao có liên quan tới lĩnh vực tiền tệ như: tham gia xây dựng kế hoạch
Vụ Trưởng
Vụ Phó Vụ Phó Vụ Phó
Nhóm tiền tệNhóm tài chính
8
cung ứng tiền tệ, xây dựng các chính sách tiền tệ, kiểm soát, điều chỉnh lượng
cung tiền trong lưu thông, theo dõi đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tiền
tệ, ….Vụ làm việc theo chế độ chuyên viên. Biên chế của Vụ do Bộ trưởng Bộ
Kế hoạch và Đầu tư quyết định riêng.
PHẦN II. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA ĐƠN VỊ THỰC
TẬP
I. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG THỰC TẾ CỦA VỤ
Với một đội ngũ cán bộ không nhiều nhưng công việc phải triển khai thực
cận tính toán các chỉ tiêu kế hoạch NSNN mà cơ bản là các khoản thu, chi và
thâm hụt NSNN dựa trên giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Cách tiếp cận
vĩ mô để tính tổng thu NSNN của Vụ Tài Chính - Tiền Tệ đã đưa ra mức thu
sát với thực tế hơn, điều đó chứng tỏ phương pháp đề ra là đúng đắn. Thông
qua việc sử dụng tiếp cận mới này, Vụ Tài Chính - Tiền Tệ trong quá trình xây
dựng kế hoạch ngân sách hàng năm đã chứng minh khả năng thu hiện thực
thường cao hơn nhiều so với cách tính toán của Bộ Tài Chính và do đó đã được
lãnh đạo Bộ và Chính Phủ chấp nhận. Thu NSNN từ chổ không đủ chi thường
xuyên đến có tích luỹ và đáp ứng lượng vốn lớn cho đầu tư phát triển trong đó
có chi xây dựng cơ bản. Mức thu NSNN những năm qua đã tăng dần qua các
năm. Bội chi NSNN cũng đã được tính toán căn cứ trên GDP.
Vụ Tài Chính - Tiền Tệ cũng đã đưa ra một số nguyên tắc khác và quán
triệt trong quá trình tính toán NSNN, trong đó có nguyên tắc đẩy mạnh thu nội
địa, tạo ra sự vững chắc trong thu ngân sách bằng cách tránh thất thu và nuôi
dưỡng nguồn thu. Về chi NSNN, Vụ Tài Chính - Tiền Tệ cũng đã đề xuất và
kiên định nguyên tắc “lường thu mà chi”, có thu mới chi, không có thu thì cắt
giảm chi. Đây là những nguyên tắc tưởng chừng như đơn giản nhưng lại vô
cùng quan trọng, nó đảm bảo cho sự chi tiêu đúng mức, tiết kiệm và bảo đảm
ổn định nền kinh tế, không để xảy ra tình trạng chi tiêu quá mức khả năng có
thể của nền kinh tế. Vụ cũng đưa ra nguyên tắc tốc độ tăng chi đầu tư phát
triển trong NSNN phải cao hơn tốc độ tăng chi thường xuyên, do vậy trong
những năm qua chi đầu tư phát triển trên tổng chi NSNN trong những năm qua
luôn đạt cao ở mức trên 28% tổng chi NSNN.
Vụ Tài Chính - Tiền Tệ đã tích cực nghiên cứu triển khai cùng Bộ Tài
Chính Kế hoạch chi tiêu trung hạn NSNN( MTEF), áp dụng thí điểm cho một
số ngành với nội dung chủ yếu: phân bổ NSNN 3 năm; chi NSNN theo mô
hình trên xuống, dưới lên; gắn đặc biệt với các đối tượng ưu tiên. Công tác xây
dựng dự toán NSNN từng bước căn cứ vào mục tiêu, chương trình và kết quả
đầu ra đã được xác lập và đẩy mạnh.
Có thể nói, công tác xây dựng kế hoạch và cân đối ngân sách ngày càng
tệ đã được Vụ nghiên cứu và đề xuất trong các giai đoạn phát triển kinh tế
như:
Các chính sách nhằm Hạn chế tác động của khủng hoảng tài chính -
tiền tệ ở các nước Đông Nam Á vào nước ta.
Những năm 1997 – 1998, các nước Đông Nam Á lâm vào cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ trầm trọng, đe doạ sự phát triển và ổn định kinh tế nước
ta. Trước tình hình đó, Vụ Tài Chính - Tiền Tệ đã được giao nhiệm vụ cố vấn
11
cho Bộ Kế Hoạch - Đầu Tư đưa ra các giải pháp hạn chế tác động của cuộc
khủng hoảng khu vực vào nước ta. Các chính sách điều chỉnh tỷ giá theo biên
độ, hạn chế nhập khẩu để giảm nhu cầu về ngoại tệ, bắt buộc các đơn vị kinh tế
có thu ngoại tệ phải bán cho Ngân hàng, hạn chế đưa ngoại tệ ra nước ngoài.
Vay và trả nợ nước ngoài được đẩy mạnh kiểm tra, giám sát…Các biện pháp
chính sách trên đã hạn chế tối đa tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng khu
vực, đảm bảo cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam tiếp tục được duy
trì ở mức cao thời gian 10 năm qua.
Xây dựng chính sách kích cầu nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Bước sang năm 1998 – 2000, nền kinh tế có dấu hiệu thiểu phát
do chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực. Do đó, Vụ
Tài Chính - Tiền Tệ đã cùng tham gia xây dựng giải pháp kích cầu nhằm hạn
chế thiểu phát để đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển cao. Trong
các giải pháp đó có giải pháp bơm thêm vốn vào đầu tư nhằm kích cầu sản
xuất. Các chính sách kích cầu tiêu dùng đã được ban hành. Việc mua trả góp,
mua trả chậm hàng tiêu dùng hay vay vốn để xây dựng nhà cửa hoặc mua hàng
đã được triển khai rộng.
Tham gia xây dựng hệ thống giải pháp và chính sách chống lạm phát
Vụ Tài Chính - Tiền Tệ đã đưa ra các biện pháp kiểm soát chi tiêu
NSNN, tiết kiệm chi trong chi thường xuyên và nâng cao hiệu quả trong chi
đầu tư bằng việc cắt giảm hoặc đình hoản các công trình đầu tư kéo dài kém
hiệu quả. Khống chế tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán, tốc độ huy động
Thứ tư, Tham gia xây dựng chiến lược vay và trả nợ nước ngoài đến
năm 2010
Vào năm 1996, khi vấn đề vay và trả nợ nước ngoài được đặt ra, vấn đề
làm thế nào để quản lý tốt công tác vay và trả nợ nước ngoài và làm thế nào để
Việt Nam không gặp phải những sai lầm như một số nước khác đi vay vốn
nước ngoài và để lại gánh nặng nợ nước ngoài cho thế hệ hậu thế được đặt ra
bức thiết. Trước tình hình đó, Vụ Tài Chính - Tiền Tệ, Bộ Kế Hoạch - Đầu Tư
cùng Bộ Tài Chính và Ngân hàng Nhà nước đã cùng tham gia xây dựng chiến
lược vay và trả nợ nước ngoài đến năm 2030. Việc tính toán vay và trả nợ
nước ngoài đã được tính toán cho từng năm, tổng dư nợ nước ngoài, nợ của
Chính phủ, nợ của doanh nghiệp, nghĩa vụ nợ phải trả ( gốc và lãi), hạn mức
vay nợ, giới hạn an toàn và các giải pháp vay và trả nợ có hiệu quả. Tuy nhiên,
công tác tính toán nợ đến năm 2030 là cực kỳ khó khăn không chỉ vì các số
liệu mà còn vì chiến lược phát triển kinh tế xã hội nước ta đến 2010 còn đang
trong quá trình dự thảo, chiến lược tài chính, chiến lược huy động vốn chưa có.
Hơn nữa, với thời hạn hơn 30 năm thì tình hình trong nước và thế giới có nhiều
biến động chưa lường hết được. Do vậy, chiến lược vay và trả nợ nước ngoài
được xây dựng đến năm 2010, và tầm nhìn đến năm 2030. Chiến lược vay và
trả nợ nước ngoài đã được Chính phủ và Bộ chính trị thông qua năm 2004 và
13
trở thành một văn kiện quan trọng để định hướng công tác vay và trả nợ nước
ngoài của Nhà nước, Chính phủ, các Bộ, ngành và các địa phương trong thời
gian tới, nó là căn cứ và biện pháp bảo đảm vay và trả nợ nước ngoài có hiệu
quả, tránh được gánh nặng nợ trong tương lai.
Thứ năm, Vụ đã tiến hành phân bổ vốn cho Chương trình Mục tiêu
Quốc gia( CTMTQG), tham gia công tác tín dụng xoá đói giảm nghèo.
Vụ đã tiến hành triển khai phân bổ nguồn vốn, khảo sát đánh giá tình hình
thực hiện, đề xuất các giải pháp quản lý Chương trình mục tiêu Quốc gia gồm:
CTMTQG về Văn hoá, CTMTQG nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn,
CTMTQG giảm nghèo, CTMTQG việc làm, CTMTQG phòng chống một số
hiệu quả chi NSNN; đổi mới phương thức cân đối NSNN; khảo sát nghiên cứu
tình hình tài chính doanh nghiệp; dự báo tiền tệ trong nền kinh tế thị trường;
cung, cầu vốn trong công tác kế hoạch hoá; lạm phát và tăng trưởng kinh tế
trong nền kinh tế thị trường; giải pháp về vay, trả nợ nước ngoài; chính sách tỷ
giá và quản lý ngoại hối; nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng cho phát triển
nông nghiệp nông thôn
Đến cuối năm 2007, Vụ đã trình Thủ tướng Chính phủ các báo cáo và
đề án: Báo cáo kết quả thẩm định đề án “ giải pháp huy động vốn và xã hội hoá
nguồn lực cho đầu tư phát triển” ; Báo cáo về các giải pháp chủ yếu kiểm soát
lạm phát năm 2007 ; Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện các giải pháp kiềm
chế lạm phát và các giải pháp cho các tháng cuối năm 2007; Một số giải pháp
kiềm chế lạm pháp; Tình hình giá cả thị trường năm 2007 và các giải pháp;
Báo cáo đánh giá 4 năm triển khai thực hiện Luật NSNN; Báo cáo đánh giá
vốn đầu tư phát triển, cải thiện môi trường kinh doanh và khả năng cạnh tranh
của nền kinh tế năm 2007 và các giải pháp cho năm 2008; Báo cáo về danh
mục các dự án vay vốn ngoại tệ và cơ chế chính sách. Các báo cáo và đề án
trình Lãnh đạo Bộ: Báo cáo đánh giá tình hình tài chính, tiền tệ 2007, dự kiến
kế hoạch 2008; Báo cáo tình hình tài chính tiền tệ hàng tháng, hàng quý; Báo
cáo tình hình tiền tệ, tín dụng, tín dụng ưu đãi và tín dụng chính sách; Báo cáo
về xây dựng đề cương chiến lược phát triển Tài chính - Tiền tệ; Báo cáo về cơ
chế chính sách quản lý thị trường Chứng khoán; Báo cáo về phát triển dịch vụ
tài chính, ngân hàng năm 2007 và định hướng 2008. Các công việc tham mưu
cơ chế chính sách: tham gia cùng NHNN soạn thảo các văn bản quy phạm
pháp luật có liên quan tới tiền tệ, tín dụng; Tham gia xây dựng dự án luật thuế;
Tham gia dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan; Tham
gia soạn thảo Luật Bảo hiểm tiền gửi…
Hiện nay, để chuẩn bị xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội
2010 – 2020, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 – 2015, Vụ
Tài Chính - Tiền Tệ cũng đã và đang hoạch định chính sách tài chính, tài khoá,
15
trợ kinh phí công tác chuyên môn như: WB, Ausaid, Quỹ tín thác đa biên,…
Nhiều cán bộ trong Vụ đã tích cực tham gia nghiên cứu khoa học, học
tập để nâng cao kiến thức chuyên môn và đồng thời sử dụng kết quả nghiên
cứu vào phục vụ cho công tác xây dựng và hoạch định chính sách tài chính -
tiền tệ.
16
2. Về tồn tại và hạn chế.
Lực lượng cán bộ của Vụ còn quá mỏng so với lượng công việc ngày
một nhiều và khó. Hiện nay, tổng cán bộ của Vụ là 19 người, có nhiều cán bộ
đang đi công tác và học tập ở nước ngoài. Do đó, dù đã nỗ lực thực hiện nhưng
kết quả đạt được cũng còn có mặt chưa đáp ứng được hết đòi hỏi hiện nay của
Bộ, của nền kinh tế.
Trong tập thể vẫn còn một vài cán bộ chưa chấp hành đúng nội quy giờ
giấc của Vụ, công việc hoàn thành chưa đúng tiến độ.
Một số lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ được giao nhưng còn chưa
thực hiện tốt
Chế độ thông tin, báo cáo phục vụ cho công tác tổng hợp của Vụ còn
nhiều hạn chế, tính cập nhật và chính xác của thông tin chưa thật cao gây khó
khăn cho việc tính toán tổng hợp và dự báo để đưa ra các định hướng, các chỉ
tiêu kế hoạch và các giải pháp thúc đẩy thực hiện hay tháo gỡ các vướng mắc,
khó khăn gặp phải.
Công tác phối hợp với các cơ quan khác có liên quan trong một số lĩnh
vực còn bị động, chưa thật sự hiệu quả và còn có phần chồng chéo về chức
năng. Chức năng, nhiệm vụ của Vụ Tài Chính – Tiền Tệ thuộc Bộ Kế Hoạch
Đầu Tư với các Vụ thuộc Bộ Tài Chính còn chưa phân định rõ ràng, có phần
trùng lặp, chồng chéo trong việc tính toán các chỉ tiêu thu, chi NSNN, phân bổ
cơ cấu ngân sách Trung ương, tổng hợp vốn hỗ trợ, vốn tín dụng Nhà
Nước… Do đó, sự phối hợp chưa mang lại hiệu quả cao, chưa đạt được sự
thống nhất về tài chính, tiền tệ.
III. PHƯƠNG HƯỚNG CÔNG TÁC CỦA VỤ TRONG NĂM 2008
- Tiếp tục bổ sung và triển khai chương trình hành động về vay và trả nợ
nước ngoài
- Xây dựng Nghị định về xã hội hoá đầu tư trong 4 lĩnh vực: văn hoá, thể
thao, y tế, giáo dục.
- Tiếp tục nghiên cứu và đề xuất cơ chế, chính sách về quản lý tài chính các
CTMTQG giai đoạn 2006 – 2010
- Triển khai nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và các công việc khác do
lãnh đạo Bộ giao
PHẦN III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ CỦA
VIỆT NAM HIỆN NAY
I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Trong những năm qua, kinh tế vĩ mô của nước ta tương đối ổn định, các
cân đối chủ yếu đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Tình hình tài chính
tiền tệ có nhiều cải thiện, tiềm lực tài chính quốc gia và ngân sách nhà nước
ngày càng được tăng cường. Chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt theo
18
cơ chế thị trường, ổn định được giá trị đồng tiền, giữ được cán cân thanh toán
liên tục thặng dư.
1. Tình hình tài chính, tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2001- 2005.
Tài chính quốc gia tiếp tục được củng cố và cải thiện, góp phần ổn định
kinh tế vĩ mô và khai thác tốt hơn các nguồn tài lực. Tổng thu cân đối ngân
sách nhà nước 5 năm tăng 19.1% / năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế và
tốc độ tăng giá cộng lại. Tính chung cho 5 năm, tổng thu cân đối NSNN đạt
xấp xỉ 778 nghìn tỷ đồng, tăng 158 nghìn tỷ đồng so với mục tiêu kế hoạch
( vượt 25.1%). Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước bình quân đạt 24.4%
GDP, vượt mục tiêu đề ra là 20 – 21%.
Cơ cấu thu ngân sách bước đầu chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các
nguồn thu ổn định từ nền sản xuất trong nước, giảm tỷ trọng các nguồn thu từ
yếu tố bên ngoài. Tỷ trọng thu nội địa( không kể dầu thô) đã được nâng lên từ
50.9% năm 2000 lên 53.1% năm 200. Tỷ trọng thu từ xuất nhập khẩu từ 20.9%
ứng yêu cầu cơ bản về chi hành chính và chi sự nghiệp giáo dục, y tế, văn
hoá…Bên cạnh đó việc thay đổi định mức chi, khoán biên chế và khoán chi
hành chính và chế độ tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu đã
tạo ra những thay đổi cả về tư duy hoạt động quản lý chi tiêu ngân sách. Thủ
tục chi ngân sách nhà nước qua hệ thống kho bạc từng bước được sửa đổi theo
hướng đơn giản hoá, cắt giảm các khâu và thủ tục không cần thiết.
Chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt, vừa kiểm soát được lạm phát
vừa hỗ trợ tích cực cho quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán nhìn chung phù hợp với mức biến
động của giá cả và tăng trưởng kinh tế, bình quân hàng năm tăng 22.5%.
Nguồn vốn huy động tăng bình quân hàng năm 24% tương đương với kế hoạch
đề ra là 20-25%. Dư nợ cho vay toàn nền kinh tế bình quân tăng 27.6%, cao
hơn kế hoạch đề ra 22%. Tín dụng bằng ngoại tệ tăng nhanh nhất với tốc độ
tăng bình quân năm 33.7%.
Đến cuối năm 2005, nợ xấu chiếm khoảng 4% tổng dư nợ tín dụng, giảm
mạnh so với những năm đầu của kế hoạch 5 năm.
Lãi suất tiếp tục được tự do hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng
chủ động điều chỉnh lãi suất huy động và cho vay phù hợp. Việc giảm tỷ lệ kết
hối ngoại tệ xuống 0% được coi là một bước đi tích cực trong tiến trình tự do
hoá thị trường tài chính tiền tệ, đảm bảo cho việc thực hiện các cam kết quốc tế
trong quá trình hội nhập.
Hệ thống giá cả cơ bản được duy trì ổn định, quan hệ cung cầu phù hợp,
lạm phát nằm trong tầm kiểm soát, chỉ số giá bình quân 5 năm 5.1%.
2.Tình hình tài chính tiền tệ của Việt Nam năm 2006, 2007
2.1. Về tài chính và cân đối NSNN
Tình hình tài chính và thực hiện NSNN nhìn chung thuận lợi. Thu NSNN
vượt dự toán, năm 2006 đạt 258.6 nghìn tỷ đồng, tăng 8.7% so với dự toán,
20
bằng 26% GDP, là mức cao nhất so với các năm trước. Năm 2007 đạt 287.9
nghìn tỷ đồng, bằng 25.2% GDP, tăng 11.5% so với năm 2006, trong đó thu
7.32%, trong đó giá tăng chủ yếu tập trung vào 2 nhóm hàng là ăn uống tăng
10.57% và vật liệu xây dựng tăng 9.66%. Về cán cân thanh toán quốc tế: cán
21
cân thương mại năm 2006 thâm hụt 4 tỷ USD, bằng 10.4% kinh ngạch xuất
khẩu, thấp hơn nhiều so với các năm trước. Năm 2007, thâm hụt cán cân
thương mại là 9 tỷ USD cao hơn nhiều so với những năm trước, nguyên nhân
là do tăng nhập khẩu máy móc thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu phục vụ cho sản
xuất. Về khả năng trả nợ của Việt Nam hiện nay được đánh giá là khả quan. Tỷ
lệ nợ nước ngoài/GDP là <35%. Nguồn dự trữ ngoại hối của nước ta hiện nay
so với nợ là ở mức tương đối an toàn và liên tục được cải thiện qua các năm.
II. NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ
Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao trong năm nay đã ảnh hưởng xấu tới sản
xuất và đời sống của nhân dân. Lạm phát tăng cao do các nguyên nhân sau:
- Luồng ngoại tệ đưa vào nước ta tăng nhanh trong khi khả năng can thiệp
của Ngân hàng Nhà nước trong điều hành chính sách tiền tệ hạn chế vì mục
tiêu tiếp tục duy trì sự ổn định tỷ giá nhằm thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu.
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng rất cao là để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh
tế và ổn định lãi suất.
- Hoạt động của thị trường liên ngân hàng chưa thật sự hiệu quả, chưa tạo
được kênh điều tiết vốn giữa các ngân hàng thừa vốn với các ngân hàng
thiếu vốn
- Do giá những đầu vào quan trọng tăng cao như giá xăng dầu, sắt thép, xi
măng…
- Điều hành tiền tệ chưa hợp lý làm tăng nhu cầu có khả năng thanh toán trên
thị trường và những tồn tại trong công tác quản lý bình ổn thị trường và giá
cả. Tăng trưởng tiền tệ ở mức cao trong khi đó các kênh đầu tư khác gặp
nhiều khó khăn, năng lực sản xuất kinh doanh chưa được mở rộng tương
ứng đã dẫn tới mất cân đối cung cầu hàng - tiền, đẩy mặt bằng giá cả tăng
cao. Vậy yếu tố tiền tệ đóng một vai trò không nhỏ giải thích cho sự tăng
giá cao trong thời gian qua. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện
với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.
Quá trình phân cấp ngân sách mặc dầu đã có nhiều cải tiến kể từ khi
thực hiện luật NSNN mới, song vẫn còn nhiều tồn tại, vướng mắc. Việc phân
cấp chưa được thực hiện một cách cương quyết, triệt để. Việc quyết định các
mức hỗ trợ cho ngân sách địa phương và ngân sách trung ương chưa có các
tiêu chí xác định một cách rõ ràng, minh bạch. Quá trình phân cấp chưa đi đôi
với việc nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ tại địa phương.
Việc xây dựng định mức chi ngân sách vẫn chủ yếu dựa trên các yếu tố
đầu vào mà chưa tính đến các hiệu quả đầu ra của các khoản chi tiêu. Đây là
một trong những nguyên nhân chính dẫn tới trình trạng chi tiêu ngân sách lãng
phí, hiệu quả thấp. Việc tính toán tỷ lệ điều tiết ngân sách cũng như mức hỗ trợ
từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương vẫn chưa có căn cứ tiêu chí
xác định rõ ràng. Tính toán vẫn chủ yếu dựa trên cơ sở nhu cầu đề xuất của địa
phương, khả năng cân đối của ngân sách trung ương và tình hình ngân sách
23
của các năm trước. Do vậy vẫn xảy ra tình trạng các tỉnh nghèo nhận được hỗ
trợ với tỷ lệ thấp hơn các tỉnh giàu, các tỉnh đông dân được hỗ trợ có tỷ lệ thấp
hơn các tỉnh ít dân.
Hệ thống ngân hàng và tài chính còn nhiều rủi ro, chưa phát triển
tương xứng và chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế về mặt giá trị. Dịch
vụ ngân hàng chưa phát triển đa dạng nên nguồn thu chủ yếu của các ngân
hàng thương mại vẫn trông chờ vào việc cho vay, đặc biệt đối với ngân hàng
thương mại nhà nước. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các ngân hàng quốc
doanh mới đạt 4.4 – 6.2% còn khoảng cách khá xa so với yêu cầu tối thiểu 8%.
Chất lượng tín dụng chưa cao, tỷ lệ nợ xấu tuy đã giảm nhưng còn khá cao nếu
tính theo chuẩn quốc tế. Tài chính doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp lớn chưa
thật sự lành mạnh, tình trạng thua lỗ, nợ nần còn phổ biến, chậm được giải
quyết.
Thị trường tài chính chỉ mới bắt đầu hình thành và phát triển.
Các sản phẩm trên thị trường chưa nhiều, số lượng công ty niêm yết có
- Vốn tham gia của chủ đầu tư ở mức thấp
- Thời gian nghiệm thu, hoàn tất hồ sơ thanh toán kéo dài
- Công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp ở một số nơi còn chưa chặt chẽ,
chưa kịp thời trong giải ngân cũng như giám sát việc thực hiện dự án.
Các chương trình mục tiêu quốc gia vẫn còn nhiều hạn chế.
Cơ chế cho các địa phương tự phân bổ và cấp phát kinh phí cho các dự án
thuộc các chương trình mục tiêu dẫn đến tình trạng việc phân bổ kinh phí cho
các dự án còn phân tán, dàn trải, hiệu quả thấp. Việc thực hiện CTMTQG thiếu
sự gắn kết giữa trung ương với địa phương. Cơ chế tài chính của CTMTQG
chưa khuyến khích việc đa dạng hoá các nguồn đầu tư và đảm bảo nguồn tài
chính liên tục.
Hệ thống các chính sách và các quy định về thuế cho đến nay vẫn chưa
hoàn chỉnh, chưa bao quát hết các nguồn thu, có quá nhiều mức thuế suất.
Nguồn thu từ thuế hiện nay vẫn chủ yếu là từ thuế gián thu, thu từ thuế trực thu
còn rất ít nên thuế vẫn chưa thực sự phát huy được tác dụng điều tiết của mình.
Chính sách miễn giảm thuế áp dụng trên diện quá rộng gây khó khăn cho việc
triển khai thực hiện, dể nảy sinh tiêu cực, tác động làm sai lệch cơ cấu kinh tế
và môi trường bình đẳng trong đầu tư kinh doanh. Mặc dầu thuế suất một số
mặt hàng được thay đổi linh hoạt nhằm tăng thu, song điều này cũng đặt ra vấn
đề về tính dễ tiên liệu của chính sách thuế. Trong một chừng mực nhất định
những thay đổi đột ngột trong chính sách thuế có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như độ tin cậy của chính
sách nói chung.
25