Chương2: Phân tích tình hình hoạt động tín dụng đối với DNNVV…
2.1. Lý luận chung về tín dụng
2.1.1. Nguồn gốc ra đời và sự phát triển của quan hệ tín dụng
Vào thời kỳ công xã nguyên thủy, xã hội đã có những chuyển biến sâu sắc,
những thay đổi trong các quan hệ kinh tế xã hội. Sự phân công lao động xã hội và sự
xuất hiện của quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là cơ sở ra đời của quan hệ tín
dụng. Trong đó tín dụng nặng lãi là hình thức tín dụng sơ khai nhất. Nó ra đời trong thời
kỳ cuối của chế độ công xã nguyên thủy, khi quan hệ tư hữu về tư liệu sản xuãt xuất
hiện dẫn đến sự khác nhau về mức độ thu nhập giữa các thành viên trong xã hội.
Song song với sự phát triển không ngừng của quá trình phân công lao động xã
hội, của cải được mang đi trao đổi, nền sản xuất hàng hóa ra đời. Sự ra đời và phát triển
của nền kinh tế hàng hóa góp phần thúc đẩy phân công lao động xã hội, đồng thời cũng
làm sâu sắc thêm thu nhập của các thành viên trong xã hội. Tín dụng được áp dụng
thông qua hình thức vay mượn vốn dưới hình thái sản phẩm hàng hóa giữa các chủ thể
sản xuất kinh doanh và các hộ gia đình dân cư, nhằm thực hiện điều hòa vốn từ nơi thừa
đến nơi thiếu.
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, vốn tín dụng được sử dụng cho mục đích tiêu
dùng là chủ yếu.Giai đoạn đầu, hoạt động của tín dụng nặng lãi mang tính chất phi kinh
tế, song cùng vời sự phát triển của kinh tế hàng hóa tín dụng nặng lãi dần dần được tiền
tệ hóa trở thành một nghề của một số người giàu có hoặc những người môi giới trung
gian. Do số lượng người cần vay nhiều và nhu cầu vay cấp bách, nguồn cho vay lại ít
cho nên lãi suất rất cao. Tiền vay hầu như không được đầu tư vào sản xuất kinh doanh
mà chủ yếu được dùng vào mục đích tiêu dùng cấp bách mặc dù người đi vay là những
người sản xuất kinh doanh. Như vậy, tín dụng nặng lãi góp phần vào quá trình làm tan
rã “kinh tế tự nhiên”, mở rộng quan hệ hàng hóa tiền tệ, tạo điều kiện tiền đề cho chủ
nghĩa tư bản xuất hiện. Ra đời từ chế độ tư hữu nhưng hoạt động của tín dụng nặng lãi
lại có tác động ngược lại làm cho sự phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc hơn, sự tách biệt
giàu nghèo ngày càng lớn. Khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành và
phát triển, giai cấp tư sản nhanh chóng tự tạo lập cho mình một hình thức tín dụng mới -
Tín Dụng Tư Bản Chủ Nghĩa.
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 11
Chương2: Phân tích tình hình hoạt động tín dụng đối với DNNVV…
a. Người cho vay
Giá trị (hàng hóa, tiền tệ)
> Người đi vay
Sau một thời gian:
b. Người cho vay <
Giá trị (hàng hóa, tiền tệ)
Người đi vay
Người cho vay trên cơ sở tín nhiệm về người đi vay, đó là sự hoàn trả đúng hạn
của giá trị tín dụng (cả gốc và lãi) sẽ chuyển giao một lượng giá trị tín dụng cho người
đi vay. Từ đó ta có thể đưa ra khái niệm tổng quát về tín dụng như sau: “Tín dụng là
một phạm trù kinh tế chỉ mối quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả
cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định". Từ khái niệm này cho thấy trong
quan hệ tín dụng, người cho vay chỉ chuyển giao quyền sử dụng vốn cho người đi vay
trong một thời gian nhất định, không chuyển giao quyền sở hữu vốn cho vay. Người đi
vay chỉ nhận được quyền sử dụng chứ không nhận được quyền sở hữu vốn vay.
Mặc dù quan hệ tín dụng được biểu hiện qua các phương thức rất đa dạng và
phong phú nhưng nó vẫn mang bản chất cơ bản sau:
• Chỉ làm thay đổi quyền sử dụng, không làm thay đổi quyền sở hữu vốn.
• Thời hạn tín dụng được xác định dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên tham
gia quan hệ tín dụng.
• Chủ sở hữu vốn được nhận lại một phần thu nhập dưới dạng lợi tức tín
dụng.
2.1.3. Chức năng và vai trò của tín dụng
2.1.3.1. Chức năng của tín dụng
Có hai chức năng cơ bản sau:
a. Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả
Có thể nói chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai quá trình cùng
2.1.3.2. Vai trò của tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường tín dụng có những vai trò sau:
a. Tín dụng là công cụ thực hiện tích tụ, tập trung vốn và tài trợ vốn cho các
ngành kinh tế, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
Quan hệ tín dụng thực hiện kết nối giũa tiết kiệm và đầu tư, giữa giao lưu vốn
trong nước và ngoài nước. Tín dụng khai thác các khoản vốn nhàn rỗi trong xã hội, các
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 14
Chương2: Phân tích tình hình hoạt động tín dụng đối với DNNVV…
quỹ tiền tệ đang tồn động trong lưu thông đưa nhanh vào phục vụ trong sản xuất và tiêu
dùng xã hội, góp phần điều tiết các nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh
doanh không bị gián đoạn. Tín dụng còn là công cụ tài trợ cho các ngành kém phát triển,
các ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước tạo tiền đề
cho một nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững.
b. Tín dụng là công cụ góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả và kiềm chế kiểm
soát lạm phát
Thông qua tín dụng, bằng các biện pháp huy động vốn và cho vay, thực hiện
nghiệp vụ điều hòa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, tín dụng góp phần làm cho tốc độ luân
chuyển hàng hóa và tiền vốn tăng lên. Nhà nước có thể thu hút được một lượng tiền mặt
dư thừa trong lưu thông vừa không phải phát hành thêm tiền. Do đó, tình trạng thiếu tiền
mặt cục bộ được giải quyết. Do vậy mà tín dụng là một biện pháp quan trọng được nhà
nước sử dụng trong tình trạng nền kinh tế suy thoái, khủng hoảng, việc mở rộng quan hệ
tín dụng nhà nước với các nước cũng như các tổ chức tài chính tiền quốc tế sẽ làm tăng
các nguồn thu tài chính, đảm bảo cho nhà nước có thể can thiệp hữu hiệu vào thị trường
để ổn định tình hình Tài chính - Tiền tệ quốc gia. Mặt khác, việc mở rộng quan hệ tín
dụng còn tạo điều kiện tăng khối lượng hàng hóa, dịch vụ cho nền kinh tế, là cơ sở vững
chắc cho sự ổn định giá cả hàng hóa, tiền tệ từng bước củng cố và tăng cường tiềm lực
tài chính quốc gia. Có thể khẳng định, hoạt động của tín dụng tạo điều kiện mở rộng
công tác thanh toán không dùng tiền mặt. Đây là một trong những nhân tố tích cực tiết
giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giúp cho nhà nước quản lý và điều hành hữu hiệu
chính sách tiền tệ.
lợi tức tín dụng là khoản chênh lệch giữa số vốn thu về và số vốn đã cho vay. Lợi tức tín
dụng được xem là giá cả của vốn vay, nó có độ lớn và được biểu hiện thông qua tỷ suất
lợi tức hay lãi suất tín dụng. Lãi suất tín dụng là tỷ lệ giữa tổng lợi tức thu được so với
tổng số vốn đã cho vay trong một thời gian nhất định.
Nếu đứng trên góc độ huy động vốn, lãi suất tín dụng có các loại:
+ Lãi suất tiền gởi có kỳ hạn
+ Lãi suất tiền gửi không kỳ hạn
+ Lãi suất tiền gởi từ các đơn vị, tổ chức kinh tế
+ Lãi suất của các loại chứng từ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu
Nếu đứng trên góc độ sử dụng vốn, lãi suất tín dụng có:
+ Lãi suất cho vay bằng tiền
+ Lãi suất cho vay cầm cố
+ Lãi suất chiết khấu các chứng từ có giá
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 16
Chương2: Phân tích tình hình hoạt động tín dụng đối với DNNVV…
Nếu đứng trên góc độ điều tiết vốn giữa các tổ chức tín dụng, lãi suất tín dụng có:
+ Lãi suất tái chiết khấu
+ Lãi suất liên ngân hàng
2.1.4.2. Các hình thức tín dụng
Có thể nói quan hệ tín dụng trong nền kinh tế thị trường được thể hiện rất đa dạng,
phong phú nhưng tiêu biểu là các hình thức tín dụng sau:
a. Tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất kinh doanh với
nhau, được biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. Sự hình thành và phát triển
của tín dụng thương mại gắn liền với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản
xuất. Tín dụng thương mại hỗ trợ vốn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất không bị gián
đoạn. Tín dụng thương mại có ba đặc điểm:
+ Về hình thức biểu hiện của tín dụng: cho vay dưới hình thức hàng hóa với giá trị
của món tín dụng là giá trị của khối lượng hàng hóa bán chịu. Người đi vay khi nhận
được khoản tín dụng sẽ đưa trực tiếp toàn bộ lượng hàng hóa, nguyên liệu này vào chu
ngoài nước. Tín dụng nhà nước thể hiện bằng việc vay nợ của nhà nước dưới hình thức
nhà nước phát hành các giấy tờ có giá (như công trái, trái phiếu, tín phiếu) hoặc qua các
hiệp định, hiệp ước vay nợ với chính phủ, các tổ chừc tài chính tiền tệ trên thế giới theo
nguyên tắc có hoàn trả trong một thời gian nhất định. Tín dụng nhà nước gắn liền với
hoạt động của ngân sách nhà nước, là một giải pháp thực hiện cân đối ngân sách nhà
nước. Trong tín dụng nhà nước, nhà nước vừa là chủ thể đi vay vừa là chủ thể cho vay
nhằm mục đích thực hiện chức năng và nhiệm vụ quản lý kinh tế xã hội của nhà nước.
Tín dụng nhà nước có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.
- Căn cứ theo yếu tố thời gian, tín dụng nhà nước được chia làm hai loại: tín
dụng ngắn hạn và tín dụng trung dài hạn.
- Căn cứ vào hình thức huy động, tín dụng nhà nước được thực hiện qua hai
phương thức: huy động vốn qua phát hành chứng từ có giá và huy động vốn qua các
hiệp định vay nợ.
- Căn cứ vào phạm vi huy động, tín dụng nhà nước gồm: tín dụng trong nước và
tín dụng nước ngoài.
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 18
Chương2: Phân tích tình hình hoạt động tín dụng đối với DNNVV…
Tín dụng nhà nước có các đặc điểm như sau:
- Thể hiện lợi ích kinh tế mang tính tự nguyện, tính cưỡng chế và tính chính trị-
xã hội.
- Hình thức tín dụng đa dạng, phạm vi huy động vốn lớn.
- Việc huy động vốn và sử dụng vốn có sự kết hợp giữa các nguyên tắt và các
chính sách Tài Chính - Tiền Tệ của Nhà nước.
2.2. Tình hình hoạt của các DNVVN trong những năm vừa qua
2.2.1. Khái niệm DNVVN
“DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo
pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình
hàng năm không quá 300 người”. Định nghĩa này được ban hành trong Nghị định số
90/2001/NĐ-CP vào ngày 23/11/2001 dựa vào hai tiêu thức phổ biến: lao động thường
xuyên và vốn sản xuất.
con số đóng góp trực tiếp, điều quan trọng là doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò lớn
trong mối quan hệ gắn kết với các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn. Dù quy mô nhỏ và
vừa nhưng khu vực kinh tế này đã đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế đất
nước. Kể từ khi có luật doanh nghiệp ra đời, tốc độ tăng trưởng hàng năm của khu vực
này là 20%. Theo định hướng của Chính phủ, đến năm 2010, cả nước sẽ có 500.000
DNNVV. Đi cùng với con số này là một lương vốn lớn cần được đáp ứng.
Trong những năm qua, DNNVV đã đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội, giữ gìn và phát triển
ngành nghề truyền thống, tăng kim ngạch xuất khẩu, đóng góp vào ngân sách (hằng năm
các DNNVV đóng góp khoảng 7% ngân sách nhà nước, tương đương với mức đóng góp
của doanh nghiệp FDL); khai thác tiềm năng, trí tuệ, nguồn lực trong dân. Hầu hết các
lĩnh vực của nền kinh tế đều có DNNVV:
- Trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, DNNVV chiếm 17% tổng
số doanh nghiệp, tập trung chủ yếu vào những lĩnh vực thực phẩm, chế biến gỗ, chế
biến thủy hải sản… Hằng năm, DNNVV tạo ra 31% tổng giá trị sản lượng công nghiệp.
Nhìn chung, quy mô doanh nghiệp nhỏ: khoảng 90% số doanh nghiệp có số công nhân
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 20
Chương2: Phân tích tình hình hoạt động tín dụng đối với DNNVV…
dưới 100 người, bình quân mỗi doanh nghiệp chỉ xấp xỉ 45 công nhân; trang thiết bị,
máy móc còn lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 20 năm.
- Đa số các DNNVV ở nước ta hiện nay hoạt động trong lĩnh vực thương mại -
dịch vụ (chiếm 55%), do vậy là ngành có vòng quay vốn nhanh, lợi nhuận cao, không
cần số vốn đầu tư lớn, sử dụng ít lao động. Các DNNVV ngoài quốc doanh chiếm đến
78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa. Theo số liệu điều tra, các
DNNVV trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ hoạt động hiệu quả hơn trong lĩnh vực
công nghiệp, bình quân 1 lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tạo ra doanh thu
14,6 triệu đồng, trong khi doanh nghiệp thương mại - dịch vụ là 75,8 triệu đồng. Các
doanh nghiệp thương mại hiện chủ yếu tập trung ở thành phố lớn, kết cấu hạ tầng phát
triển, điều kiện giao thông thuận lợi, người tiêu dùng có thu nhập cao, sức cầu lớn. Do
tập trung quá nhiều doanh nghiệp trên cùng một địa bàn, nên tính cạnh tranh thường rất
động. Số DNNN có số vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm 26%, dưới 5 tỷ đồng 65%, 5-10 tỷ
đồng 15%. Khoảng 66,7% DNNVV gặp khó khăn trong việc tìm kiếm mặt bằng sản
xuất. Khoảng 20% DNNVV tiếp cận được thông tin từ các thương vụ; thông tin mà các
DNNVV có được chủ yếu khai thác từ internet, đo đó, chất lượng thông tin chưa cao.
Việc triển khai thương mại điện tử còn rất hạn chế, hiện chỉ có khoảng 7% tổng doanh
nghiệp tiếp cận thương mại điện tử, trong số đó DNNVV chiếm 33,1%. DNNVV cũng
rất hạn chế trong việc tiếp thị và khai thác thị trường nước ngoài.
Bên cạnh đó, sự liên kết hợp tác giữa DNNVV với các doanh nghiệp lớn và với
các dự án liên doanh còn thấp. Việc phát triển DNNVV còn gặp trở ngại từ phía các cơ
quan nhà nước như thủ tục hành chính nhiêu khê, quyền tự đo kinh doanh theo pháp luật
vẫn chưa thực thi đầy đủ, các chính sách trợ giúp doanh nghiệp chưa được quán triệt; sự
không nhất quán của một số cơ quan chức năng khiến doanh nghiệp gặp không ít khó
khăn, gây tốn kém, ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh; một số chủ trương của
Nhà nước chậm được thực thi do chưa có văn bản hướng dẫn hoặc đo những quy định
chưa hợp lý, vẫn còn tình trạng ban hành các văn bản pháp quy chưa thật sự xuất phát từ
yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ở một số địa phương, quỹ bảo lãnh tín
dụng đã được thành lập, nhưng đến nay chưa có quỹ nào đi vào hoạt động do một số
quy định còn vướng mắc, như yêu cầu về vốn lên đến 30 tỷ đồng, trong đó bắt buộc
Chuyên đề tốt nghiệp Trang 22