Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời nói đầu
1. Mục đích và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu.
Vốn là chìa khoá, là điều kiện hàng đầu của mọi quá trình phát triển. Do
vậy, muốn sản xuất kinh doanh phải có vốn. Để quá trình sản xuất kinh doanh
đợc tiến hành một cách bình thờng thì vấn đề đặt ra với các doanh nghiệp hiện
nay là phải tổ chức tốt công tác huy động và sử dụng vốn một cách có hiệu quả,
nói một cách khác là doanh nghiệp phải luôn luôn bảo toàn và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn. Đây là một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp
cho doanh nghiệp giữ vững đợc sức mua của đồng vốn trong điều kiện nền kinh
tế có lạm phát và nhiều rủi ro, nâng cao đợc năng lực hoạt động của đồng vốn
đồng thời đánh giá đợc chất lợng quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp,
giúp cho doanh nghiệp ngày càng vững mạnh trong nền kinh tế thị trờng. Vì vậy
các doanh nghiệp không thể không bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,
đó là một nguyên tắc bất di bất dịch trong nền kinh tế thị trờng.
Trong những năm cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp ở nớc ta, các
doanh nghiệp quốc doanh đợc Nhà nớc giao chỉ tiêu, doanh nghiệp lấy việc
hoàn thành kế hoạch cấp trên giao làm mục đích sản xuất kinh doanh. Nhà nớc
bao cấp về mọi mặt nh: vốn, giá, thị trờng tiêu thụ, lỗ Nhà nớc bù... nên các
doanh nghiệp quốc doanh không coi việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là
trách nhiệm của bản thân mình, mà là của Nhà nớc. Doanh nghiệp chỉ chạy đua
với thành tích, với chỉ tiêu.
Từ khi Nhà nớc ta chuyển đổi cơ chế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung
bao cấp sang nền kinh tế thị trờng lấy doanh lợi làm mục đích sản xuất kinh
doanh, nhiều thành phần kinh tế cùng song song tồn tại và cạnh tranh với nhau.
Những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì ngày càng đứng vững và phát triển,
ngợc lại những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, vốn kinh doanh bị mất dần sau
mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, doanh thu không bù đắp đủ chi phí, không thể
lập lại đợc quá trình tái sản xuất dẫn đến nguy cơ bên bờ vực phá sản mà
Trung tâm QTKDTH
liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng. Trong điều kiện đó, các mối quan hệ hàng
hoá, tiền tệ ngày càng đợc mở rộng và phát triển, xuất hiện các doanh nghiệp
thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau cùng song song tồn tại, cạnh tranh
lẫn nhau và bình đẳng trớc pháp luật. Trong nền kinh tế quốc dân thì mỗi doanh
nghiệp là một tế bào kinh tế. Doanh nghiệp là một tổ chức đợc thành lập nhằm
mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh
nghiệp có thể thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu
t từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, lao vụ, dịch vụ trên thị trờng nhằm mục
đích sinh lợi.
Để tiến hành sản xuất sản phẩm, mọi doanh nghiệp đều cần phải có hai
yếu tố cơ bản, đó là sức lao động và t liệu sản xuất. Căn cứ vào tính chất và tác
dụng khi tham gia vào quá trình sản xuất, t liệu sản xuất lại chia ra làm hai bộ
phận là đối tợng lao động và t liệu lao động.
Tài sản cố định (TSCĐ) là những t liệu lao động chủ. Căn cứ vào tính
chất và tác dụng khi tham gia vào quá trình sản xuất, t liệu sản xuất lại chia ra
làm hai bộ phận là đối tợng lao động và t liệu lao động.
Tài sản cố định (TSCĐ) là những t liệu lao động chủ yếu đợc tham gia
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp nh máy móc thiết bị, phơng tiện vận tải, các công trình kiến trúc... Đặc
điểm chung của các TSCĐ trong doanh nghiệp là tham gia vào nhiều chu kỳ sản
xuất sản phẩm với vai trò là các công cụ lao động. Trong quá trình đó hình thái
vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ là không thay đổi, song giá trị
của nó lại đợc chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra. Bộ
Trung tâm QTKDTH
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp và đợc bù đắp mỗi khi sản phẩm đợc tiêu thụ.
Trong thực tế, tuỳ theo điều kiện kinh tế, yêu cầu và trình độ quản lý ở
từng thời kỳ nhất định mà ngời ta có những quy định thống nhất và tiêu chuẩn
dụng trong những lĩnh vực hoạt động khác nhau của quá trình sản xuất kinh
doanh. Do vậy cần phân loại TSCĐ để có những biện pháp quản lý, sử dụng có
hiệu quả hơn.
Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ TSCĐ hiện có của doanh
nghiệp theo những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho những yêu cầu quản lý
của doanh nghiệp. Thông thờng có những cách phân loại TSCĐ chủ yếu sau:
1.1.1. Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện
Theo phơng pháp này TSCĐ của doanh nghiệp đợc chia thành hai loại:
TSCĐ có hình thái vật chất (TSCĐ hữu hình) và TSCĐ không có hình thái vật
chất (TSCĐ vô hình)
* TSCĐ hữu hình là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể nh nhà x-
ởng, máy móc thiết bị, phơng tiện vận tải, các vật kiến trúc... Những TSCĐ này
có thể là từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều
bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất
định trong quá trình sản xuất kinh doanh.
* TSCĐ vô hình là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể, thể
hiện một lợng giá trị đã đợc đầu t có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh
doanh của doanh nghiệp nh chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí mua bằng
phát minh sáng chế hay nhãn hiệu thơng mại...
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy đợc cơ cấu đầu t vào
TSCĐ hữu hình và vô hình. Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng các quyết
định đầu t hoặc điều chỉnh phơng hớng đầu t cho phù hợp với tình hình thực tế
và cũng là căn cứ để đa ra các biện pháp quản lý tài sản, quản lý vốn, tính toán
khấu hao hợp lý.
1.1.2. Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng
Theo tiêu thức này, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp đợc chia thành 3
loại:
Trung tâm QTKDTH
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trung tâm QTKDTH
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cách phân loại này cho thấy công dụng cụ thể của từng loại TSCĐ trong
doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng TSCĐ, tính toán
khấu hao TSCĐ chính xác.
1.1.4. Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng
Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ, ngời ta chia TSCĐ của doanh
nghiệp thành các loại:
* TSCĐ đang sử dụng: là những TSCĐ của doanh nghiệp đang sử dụng
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp,
an ninh, quốc phòng của doanh nghiệp.
* TSCĐ cha cần dùng: là những TSCĐ cần thiết cho hoạt động sản xuất
kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp song hiện tại cha cần
dùng, đang đợc dự trữ để sử dụng sau này.
* TSCĐ không cần dùng chờ thanh lý: là những TSCĐ không cần thiết
hoặc không phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cần đợc
thanh lý, nhợng bán để thu hồi vốn đầu t đã bỏ ra ban đầu.
Cách phân loại này cho thấy mức độ sử dụng có hiệu quả của TSCĐ của
doanh nghiệp nh thế nào, đồng thời tạo điều kiện cho việc phân tích, kiểm tra,
đánh giá tiềm lực sản xuất cần đợc khai thác, từ đó có biện pháp nâng cao hơn nữa
hiệu quả sử dụng TSCĐ.
1.1.5. Phân loại TSCĐ theo quan hệ sở hữu
Theo phơng pháp này, TSCĐ của doanh nghiệp đợc chia thành hai loại:
TSCĐ chủ sở hữu (tự có) và TSCĐ thuê ngoài.
* TSCĐ chủ sở hữu (tự có) là các TSCĐ đợc xây dựng, mua sắm và hình
thành từ nguồn vốn ngân sách cấp hoặc cấp trên cấp, nguồn vốn vay, nguồn vốn
liên doanh, các quỹ của doanh nghiệp và các TSCĐ đợc tặng, biếu... Đây là
những tài sản mà doanh nghiệp có quyền sử dụng lâu dài và đợc phản ánh trên
bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
chu chuyển của VCĐ. Trên ý nghĩa của mối liên hệ đó, có thể khái quát những
nét đặc thù về sự vận động của VCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh nh
sau:
- VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm có đặc điểm này là
do TSCĐ đợc sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất. Vì thế mà VCĐ -
hình thái biểu hiện bằng tiền của nó cũng tham gia vào các chu kỳ sản xuất tơng
ứng.
Trung tâm QTKDTH
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- VCĐ đợc luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận VCĐ đợc luân chuyển
và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dới hình thức chi phí khấu hao) tơng
ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ.
- VCĐ sau nhiều chu kỳ sản xuất mới hoàn thành một vòng luân chuyển.
Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn đợc luân chuyển vào giá trị sản phẩm
dần dần tăng lên. Song phần vốn đầu t ban đầu vào TSCĐ lại giảm dần xuống
cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó đợc chuyển dịch hết vào
giá trị sản phẩm đã sản xuất thì VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển.
Những đặc điểm luân chuyển trên đây của VCĐ đòi hỏi việc quản lý
VCĐ phải luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là các TSCĐ
của doanh nghiệp.
Từ những nội dung phân tích trên có thể đa ra khái niệm về VCĐ nh sau:
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu t, ứng trớc về
TSCĐ mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu
kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng.
TSCĐ và VCĐ có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động sản xuất
kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Một cách chung nhất nó quyết định đến
trình độ sản xuất của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp ấy có khả năng thực
hiện đợc các mục tiêu của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Quy mô
Việc nhận thức rõ các nguyên nhân ảnh hởng đến mức hao mòn hữu hình
TSCĐ sẽ giúp các doanh nghiệp có biện pháp cần thiết, hữu hiệu để hạn chế nó.
b. Hao mòn vô hình.
Hao mòn vô hình của TSCĐ là sự giảm thuần tuý về mặt giá trị của tài
sản do có những TSCĐ cùng loại nhng đợc sản xuất ra với giá rẻ hơn hoặc hiện
đại hơn.
Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hao mòn vô hình của TSCĐ, không phải
do chúng đợc sử dụng nhiều hay ít trong sản xuất mà là do tiến bộ khoa học kỹ
thuật. Trong điều kiện tăng trởng mạnh mẽ về khoa học công nghệ hiện nay,
ngời ta có thể sản xuất ra đợc những loại máy móc có tính năng tác dụng nh
máy cũ nhng với giá hạ hơn hoặc sản xuất ra những loại máy có cùng giá trị nh-
Trung tâm QTKDTH
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ng công suất lớn hơn, chất lợng tốt hơn. Do vậy, những máy móc đợc sản xuất ở
thời gian trớc đây sẽ bị mất giá so với hiện tại, sự mất giá đó chính là hao
mòn vô hình. Hao mòn vô hình còn xuất hiện cả khi chu kỳ sống của sản phẩm
nào đó bị chấm dứt làm cho những máy móc để chế tạo ra sản phẩm đó cũng bị
lạc hậu, mất tác dụng.
Để khắc phục hao mòn vô hình, các doanh nghiệp phải coi trọng đổi mới
kỹ thuật, công nghệ sản xuất, ứng dụng kịp thời các thành tựu tiến bộ khoa học.
Điều đó có ý nghĩa rất quyết định trong việc tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp
trong cạnh tranh trên thị trờng.
1.3.2. Khấu hao TSCĐ và các phơng pháp tính khấu hao TSCĐ
a. Khấu hao TSCĐ.
Để bù đắp giá trị TSCĐ bị hao mòn trong quá trình sản xuất kinh doanh,
doanh nghiệp phải chuyển dịch dần dần phần giá trị hao mòn đó vào giá trị sản
phẩm sản xuất trong kỳ gọi là khấu hao TSCĐ.
Vậy khấu hao TSCĐ là việc chuyển dịch phần giá trị hao mòn của TSCĐ
trong quá trình sử dụng vào giá trị sản phẩm sản xuất ra theo các phơng pháp
=
G
đ
T
T
KH
=
M
KH
T
Trong đó:
M
KH
: Mức khấu hao trung bình hàng năm.
T
KH
: Tỷ lệ khấu hao trung bình hàng năm.
G
đ
: Nguyên giá TSCĐ.
T: Thời gian sử dụng của TSCĐ (năm)
Nếu doanh nghiệp trích khấu hao hàng tháng thì lấy mức khấu hao hàng
năm chia cho 12 tháng.
Ưu điểm của phơng pháp khấu hao bình quân là tính toán đơn giản, dễ
hiểu. Mức khấu hao tính vào giá thành đều đặn làm cho giá thành ổn định. Tuy
nhiên, phơng pháp này có nhợc điểm là không phản ánh chính xác mức độ hao
mòn thực tế của TSCĐ vào giá thành sản phẩm trong các thời kỳ sử dụng khác
nhau; khả năng thu hồi vốn chậm làm TSCĐ chịu ảnh hởng bất lợi của hao mòn
vô hình.
* Ph ơng pháp khấu hao giảm dần.
Theo phơng pháp này, số tiền khấu hao hàng năm đợc tính bằng cách
nhân giá trị ban đầu của TSCĐ với tỷ lệ khấu hao giảm dần qua các năm. Tỷ lệ
khấu hao này đợc xác định bằng cách lấy số năm sử dụng còn lại chia cho tổng
số thứ tự năm sử dụng.
Công thức tính nh sau:
T
KH
=
t
T
Trong đó:
T
KH
: Tỷ lệ khấu hao theo năm sử dụng
T: Thời gian dự kiến sử dụng TSCĐ
t: Thứ tự năm cần tính tỷ lệ khấu hao.
Phơng pháp khấu hao giảm dần có u điểm là phản ánh chính xác hơn
mức hao mòn TSCĐ vào giá trị sản phẩm, thu hồi vốn nhanh nên hạn chế đợc
ảnh hởng của hao mòn vô hình. Tuy nhiên nhợc điểm của phơng pháp này là
việc tính toán mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao hàng năm sẽ phức tạp, số tiền
trích khấu hao luỹ kế đến năm cuối cùng cũng cha đủ bù đắp toàn bộ giá trị đầu
t ban đầu vào TSCĐ.
Trên thực tế ngời ta có thể sử dụng kết hợp phơng pháp khấu hao bình
quân với phơng pháp khấu hao giảm dần bằng cách: trong những năm đầu sử
Trung tâm QTKDTH
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dụng TSCĐ thì áp dụng phơng pháp khấu hao giảm dần, còn những năm cuối
thì thực hiện phơng pháp khấu hao bình quân. Bằng cách này có thể hạn chế đ-
ợc hao mòn vô hình và số khấu hao luỹ kế đến năm cuối cùng sẽ bù đắp đợc giá
Hiệu quả sản xuất kinh doanh phải bao gồm cả hai mặt: Hiệu quả kinh tế
và hiệu quả xã hội. Hai mặt này liên quan chặt chẽ với nhau và thể hiện nội
dung cơ bản của hiệu quả sản xuất. Trong đó hiệu quả kinh tế là cơ sở vật chất
của hiệu quả xã hội, hiệu quả xã hội tạo điều kiện tốt hơn để thu đợc hiệu quả
kinh tế cao hơn.
Nh vậy, ta có thể thấy rằng: Hiệu quả sử dụng VCĐ là mối quan hệ giữa
kết quả đạt đợc trong quá trình khai thác sử dụng VCĐ vào sản xuất với số
VCĐ đã sử dụng để đạt đợc kết quả đó.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, bất kỳ một doanh nghiệp nào khi
sử dụng vốn vào sản xuất nói chung và VCĐ nói riêng đều phải quan tâm đến
hiệu quả nó mang lại. Để đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ trong các doanh
nghiệp, ngời ta thờng dùng một hệ thống các chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu tổng
hợp và các chỉ tiêu phân tích.
Các chỉ tiêu tổng hợp nhằm phản ánh về mặt chất của việc sử dụng VCĐ
doanh nghiệp. Thông qua các chỉ tiêu này, ngời quản lý có thể so sánh kết quả
quản lý giữa kỳ này với kỳ trớc, giữa doanh nghiệp mình với các doanh nghiệp
khác có quy mô tơng tự để rút ra những trọng điểm cần quản lý. Thuộc loại này
bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố
định có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ.
Hiệu suất sử dụng vốn cố
định
=
Doanh thu ( hoặc doanh thu thuần) trong kỳ
Số vốn cố định bình quân trong kỳ
Số vốn cố định bình quân trong kỳ đợc tính theo phơng pháp bình quân
số học giữa số vốn cố định ở đầu kỳ và cuối kỳ.
Số vốn cố định
bình quân trong kỳ
=
T
=
Số tiền khấu hao kuỹ kế
Nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đánh giá
- Hiệu suất sử dụng TSCĐ: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ trong
kỳ tạo ra đợc bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần.
Hiệu suất sử
dụng TSCĐ
=
DT ( hoặc DT thuần ) trong kỳ
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
- Kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp: Chỉ tiêu này phản ánh quan hệ tỷ lệ
giữa giá trị từng nhóm, loại TSCĐ trong tổng số giá trị TSCĐ của doanh nghiệp
ở thời điểm đánh giá. Chỉ tiêu này giúp cho doanh nghiệp đánh giá mức độ hợp
lý trong cơ cấu TSCĐ đợc trang bị ở doanh nghiệp, từ đó có biện pháp đầu t,
điều chỉnh lại cơ cấu TSCĐ nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng vốn của doanh
nghiệp.
Trung tâm QTKDTH
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trên đây là những chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu phân tích chủ yếu nhằm
phục vụ cho việc kiểm tra tài chính đối voí việc sử dụng VCĐ của mỗi doanh
nghiệp. Khi đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ cần phải kết hợp các hai loại chỉ
tiêu trên để rút ra đợc những kết luận đúng đắn. Ngoài ra, vì TSCĐ gồm nhiều
loại nên phải kết hợp xem xét các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của từng loại cụ thể
về mặt hiện vật để đánh giá đợc toàn diện và chính xác hiệu quả sử dụng VCĐ.
Qua phơng pháp xác định hiệu quả sử dụng VCĐ trên đây chúng ta thấy
rằng: Nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ có nghĩa là khai thác một cách triệt để
khả năng hiện có của doanh nghiệp, phát huy hết công suất thiết kế của máy
móc, thiết bị, tận dụng một cách tối đa giờ máy... để từ đó tạo ra nhiều sản
doanh nghiệp. Việc thực hiện đợc chỉ tiêu lợi nhuận là một điều quan trọng đảm
bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp đợc vững chắc. Chính vì vậy, sản
xuất kinh doanh nh thế nào để có lợi nhuận là mục tiêu phấn đấu của tất cả các
doanh nghiệp.
Để đạt đợc điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải tăng cờng công tác tổ
chức và quản lý sản xuất, trong đó có vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ,
có nh vậy mới đem lại đợc lợi nhuận cao, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp ngày
càng phát triển.
- Xuất phát từ vị trí, vai trò của VCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. VCĐ của doanh nghiệp là thành phần cơ bản của vốn sản
xuất kinh doanh. Nó gắn liền với quy mô hoạt động và khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp đồng thời thể hiện một cách chính xác nhất trình độ trang bị cơ sở
vật chất kỹ thuật của mỗi doanh nghiệp. Do vậy nâng cao hiệu quả sử dụng
VCĐ sẽ làm cho hiệu quả sử dụng vốn sản xuất tăng lên. Đó cũng chính là mục
tiêu cần đạt tới của việc sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ. Hiệu
quả sử dụng VCĐ là chỉ tiêu chất lợng phản ánh tổng hợp những cố gắng,
những biện pháp hữu hiệu về kỹ thuật, về tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý
doanh nghiệp nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển. Chất lợng sản xuất cao sẽ thu
đợc nhiều lãi, hoàn vốn nhanh. Đây cũng là mục tiêu phấn đấu của mọi doanh
nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trung tâm QTKDTH
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nh vậy nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ là đảm bảo với số vốn hiện có,
bằng các biện pháp quản lý và sử dụng tổng hợp nhằm khai thác triệt để mọi
khả năng để có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ phải đợc biểu hiện trên hai khía cạnh:
Một là, với số vốn hiện có có thể sản xuất ra đợc một số lợng sản phẩm
cho giá thành hạ, chất lợng sản phẩm đợc đảm bảo, công tác tiêu thụ đợc đẩy
mạnh... làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ còn có ý nghĩa thúc đẩy vòng chu
chuyển của VCĐ tăng nhanh, tạo điều kiện rút ngắn thời gian hao mòn vô hình
và hữu hình, từ đó thúc đẩy nhanh nhịp độ đổi mới TSCĐ theo kịp với tốc độ
phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật. Nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ còn
đồng nghĩa với việc mở rộng sản xuất mà không cần bỏ thêm vốn đầu t xây
dựng cơ bản để xây dựng mới TSCĐ. Do đó tiết kiệm đợc vốn mà vẫn tăng
doanh lợi cho doanh nghiệp, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp thực sự mang lại hiệu quả kinh tế cao và ngày một phát triển.
Qua đây chúng ta thấy đợc việc nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ có ý
nghĩa vô cùng to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của nền sản xuất nói chung
và mỗi doanh nghiệp nói riêng. Đặc biệt trong cơ chế thị trờng hiện nay, vấn đề
nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ là rất cần thiết và cấp bách, nhất là đối với các
doanh nghiệp Nhà nớc bởi các lý do sau:
* Thứ nhất: Do tác động của cơ chế mới. Hiện nay các doanh nghiệp
hoạt động theo cơ chế thị trờng có nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại phát
triển và cạnh tranh với nhau. Khi đó các doanh nghiệp Nhà nớc muốn đứng
vững trên thị trờng thì nhất thiết phải sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, đảm
bảo không những duy trì bảo toàn đợc đồng vốn hiện có mà phải làm cho đồng
vốn đó ngày càng tăng lên tức là kinh doanh phải có lãi. Điều đó đòi hỏi các
doanh nghiệp phải thực hiện tốt việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung
và VCĐ nói riêng. Mặt khác trong điều kiện đổi mới cơ chế quản lý hiện nay
các doanh nghiệp thực sự là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự tổ chức quá trình sản
xuất kinh doanh, tự tìm hiểu thị trờng, tự chủ trong việc tìm đầu vào và đầu ra
của sản xuất, tự chịu trách nhiệm trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình.
Do vậy vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và VCĐ nói riêng
ngày càng trở nên thiết thực và cấp bách hơn.
Trung tâm QTKDTH
20
thì doanh nghiệp Nhà nớc đợc cấp không VCĐ. VCĐ có vòng luân chuyển
Trung tâm QTKDTH
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chậm (đối với máy móc thiết bị trung bình từ 15 đến 20 năm) do đó làm cho
doanh nghiệp không thấy căng thẳng về tài chính dẫn đến tình trạng ít quan tâm
đến việc tính toán hiệu quả đầu t VCĐ đa đến tình trạng TSCĐ đợc trang bị một
cách chắp vá, không đồng bộ theo một cơ cấu bất hợp lý. Việc lắp đặt, sử dụng,
bảo dỡng và sửa chữa kém nên TSCĐ không phát huy hết năng lực nên hiệu quả
sử dụng TSCĐ thấp, làm thất thoát VCĐ.
Việc quản lý TSCĐ còn nhiều thiếu sót, việc phân loại TSCĐ, tính toán
từng loại TSCĐ trong tổng số cha hợp lý. Có những doanh nghiệp mà loại
TSCĐ cha dùng và không dùng chờ thanh lý vẫn còn có tiềm lực tận dụng phục
vụ sản xuất nhng cha đợc sử dụng hợp lý. Không ít doanh nghiệp chỉ quan tâm
đầu t TSCĐ có tính chất phục vụ sản xuất, phục vụ quản lý và làm việc mà
không chú ý đầu t tăng TSCĐ trực tiếp sản xuất ra sản phẩm. Việc trang bị thiết
bị máy móc thiếu đồng bộ, trình độ tổ chức quản lý của các doanh nghiệp còn
thấp, công tác quản lý và sử dụng TSCĐ còn nhiều tồn tại. Cụ thể là:
+ Trong các doanh nghiệp Nhà nớc cơ cấu TSCĐ thờng không hợp lý. Tỷ
trọng giá trị máy móc thiết bị sản xuất trong tổng giá trị TSCĐ còn thấp. Phần
lớn các TSCĐ thuộc thế hệ cũ, năng lực sản xuất hạn chế, mức huy động vào
sản xuất cha cao. Máy móc thiết bị dây chuyền công nghệ trong các doanh
nghiệp Nhà nớc còn lạc hậu, năng suất thấp, tiêu hao năng lợng nhiên liệu
nhiều, mức huy động vào sản xuất mới chỉ đạt 25 - 30% công suất máy móc
thiết bị. Trong công tác đầu t doanh nghiệp cha chú trọng quan tâm đến yếu tố
tiến bộ khoa học kỹ thuật. Vì vậy mà phần lớn máy móc thiết bị đợc trang bị
cha đạt đợc trình độ công nghệ hiện đại, công suất thấp... nên việc sử dụng
TSCĐ còn kém hiệu quả.
+ Trong doanh nghiệp cha thực hiện tốt việc phân loại cũng nh phân cấp
quản lý TSCĐ. Việc giao TSCĐ cho từng bộ phận, từng cá nhân cha chặt chẽ rõ
khó khăn, dẫn đến nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh làm ăn thua lỗ có nguy cơ bị
phá sản.
Qua những nội dung phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng việc nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn nói chung và VCĐ nói riêng có ý nghĩa hết sức quan
trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp, quyết định đến sự tăng tr-
ởng và phát triển của mỗi doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng. Chính sự cần
Trung tâm QTKDTH
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thiết và cấp bách của vấn đề này đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp
để nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ.
3. Các nhân tố ảnh hởng và các biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn cố định.
3.1. Các nhân tố ảnh hởng tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ.
Để có đợc các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ, trớc hết chúng
ta cần phải xem xét hiệu quả sử dụng VCĐ chịu ảnh hởng của những nhân tố
nào. Từ đó có những biện pháp tác động tích cực để nâng cao hiệu quả sử dụng
VCĐ.
Các nhân tố ảnh hởng tới hiệu quả sử dụng VCĐ đó là:
* Công tác đầu t, mua sắm máy móc thiết bị của doanh nghiệp. Nếu việc
đầu t mua sắm máy móc thiết bị đợc tổ chức tốt trên cơ sở nghiên cứu kỹ lỡng
nhu cầu của thị trờng về khả năng tiêu thụ sản phẩm, khả năng tận dụng thời
gian làm việc và công suất của TSCĐ từ đó lựa chọn, mua sắm những máy móc
thiết bị phù hợp với yêu cầu về quy mô và chất lợng sản phẩm tiêu thụ của
doanh nghiệp. Sản phẩm có chất lợng cao với số lợng hợp lý để đáp ứng nhu cầu
thị trờng sẽ làm tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời doanh nghiệp có
khả năng để tận dụng thời gian và công suất máy móc thiết bị. Nh vậy hiệu quả
sử dụng VCĐ sẽ đợc nâng cao.
Công tác đầu t, mua sắm TSCĐ đợc tổ chức tốt, còn đợc thể hiện ở việc
nghiên cứu, lựa chọn ngời bán, phơng thức thanh toán và nguồn vốn đầu t phù
không tận dụng đợc khả năng của máy, sản lợng sản phẩm làm ra bị hạn chế
dẫn đến kết quả thấp.
* Trách nhiệm và ý thức của ngời lao động cũng là một nhân tố ảnh hởng
không nhỏ tới hiệu quả sử dụng VCĐ. Nếu ngời lao động có ý thức tự giác, có
trách nhiệm cao đối với công việc và TSCĐ mà mình sử dụng cũng nh những tài
sản của doanh nghiệp mình, chú ý bảo quản TSCĐ sẽ hạn chế đợc h hỏng, mất
mát TSCĐ, nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ.
* Công tác quản lý TSCĐ là một nhân tố quan trọng ảnh hởng tới hiệu
quả sử dụng VCĐ. Việc quản lý TSCĐ một cách chặt chẽ rõ ràng sẽ là cơ sở
cho việc thực hiện kế hoạch đầu t, kế hoạch tổ chức sản xuất, công tác sửa chữa,
Trung tâm QTKDTH
25