Lời giới thiệu
Quá trình quốc tế hoá và toàn cầu hoá kinh tế diễn ra sôi động với quy mô,
phạm vi và tốc độ ngày càng lớn. Tính liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các
nền kinh tế trên toàn cầu ngày càng chặt chẽ. Do đó cân bằng ngoại tệ của nền
kinh tế, trạng thái cán cân thanh toán, mức tỷ giá là một trong những mục tiêu u
tiên của các chính sách kinh tế vĩ mô của một quốc gia. Tỷ giá hối đoái là một
trong những yếu tố quan trọng , đóng vai trò quyết định trong chính sách kinh tế
đối ngoại của mỗi quốc gia. Nó là công cụ để các nhà kinh tế và các doanh nhân
phân tích và xác định cho mình đối sách thích hợp trong buôn bán quốc tế.
Việt Nam là nớc có nền kinh tế mới chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung
chuyển sang kinh tế hàng hoá phát triển theo cơ chế thị trờng không lâu nên cần
mở rộng kinh tế đối ngoại tăng thu hút đầu t từ nớc ngoài, tăng nguồn thu ngoại
tệ. Từ đó tạo nên khả năng dự trữ ngoại tệ cũng nh mở rộng mua bán ngoại tệ,
hình thành giá cả của các đồng tiền.
Tuỳ điều kiện xuất phát và đặc điểm phát triển kinh tế của mỗi nớc mà
xác định cho mình một chính sách tiền tệ khác nhau nhằm ổn định và nâng cao
sức mua của đồng tiền. Mỗi nớc muốn ổn định đồng tiền thì không thể cùng một
lúc lu hành nhiều đồng tiền của nớc ngoài . Muốn vậy , phải hình thành một thị
trờng có tổ chức , đợc kiểm soát và sử dụng nh một công cụ của chính sách tiền
tệ. Đó là thị trờng ngoại hối với công cụ tỷ giá hối đoái hình thành nên giá cả
của các đồng tiền so với nhau. Thông qua hoạt động của thị trờng hối đoái, Ngân
hàng Trung ơng thực hiện chính sách tiền tệ để đạt đợc mục tiêu cuối cùng đó là
ổn định giá trị đồng tiền, tăng trởng kinh tê và tạo công ăn viêc làm.
Bài viêt này em đa ra chủ yếu nhằm hiểu rõ hơn vai trò tỷ giá hối đoái, tầm
quan trọng của nó trong việc thực hiện chính sách tiền tệ và phát triển kinh tế
của một quốc gia. Qua đó thấy đợc thực trạng kinh tế Việt Nam để có những ph-
ơng hớng, biện pháp khắc phục.
Vì khả năng còn hạn chế nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu
sót, khiếm khuyết. Mong cô cho ý kiến để em rút kinh nghiệm cho những bài
so với USD , tức là phải bỏ ra nhiều VND mới mua đợc một USD thì hàng hoá
nhập khẩu vào Việt Nam sẽ đắt hơn và hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang
Mỹ rẻ hơn. Ngợc lại, nếu VND lên giá, hàng hoá nớc ngoài nhập vào Việt Nam
sẽ rẻ hơn và hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam ra nớc ngoài sẽ đắt hơn.
2. Tỷ giá hối đoái tác động lớn tới kinh tế trong nớc và trực tiếp nhất là tới
tỷ lệ lạm phát. Ví dụ khi USD lên giá, hàng hoá nhập khẩu từ bên ngoài vào Mỹ
trở nên rẻ hơn làm lạm phát trong nớc giảm bớt vì những hàng hoá đó đều đợc
tính vào chỉ số giá cả trong nớc, hay có thể nói là đồng tiền trong nớc đợc lu
thông ít hơn, mức cung tiền giảm. Ngợc lại, đồng tiền một nớc càng mất giá so
với USD bao nhiêu thì giá cả hàng hoá nhập khẩu bằng đồng tiền nớc đó càng
lên cao, giá thành sản phẩm trong nớc cũng tăng lên, gây sức ép lạm phát mạnh
mẽ hơn.
3. Tỷ giá hối đoái là một công cụ quản lý vĩ mô hết sức lợi hại. Vì vậy nên
Chính phủ các nớc luôn quan tâm tìm cách điều chỉnh việc xác định tỷ giá trên
thị trờng hối đoái với ý đồ sử dụng nó làm công cụ để quản lý và điều tiết những
mất cân đối lớn trong hoạt động kinh tế trong nớc cũng nh những mất cân đối
trong kinh tế đối ngoại.
1.3. Các cơ chế tỷ giá hối đoái :
Cơ chế hoặc hệ thống tỷ giá hối đoái là một tổng hoà những điều kiện
trong đó chính phủ các quốc gia cho phép ấn định các tỷ giá hối đoái. Lịch sử
tiền tệ thế giới đã trải qua các chế độ tỷ giá sau :
Chế độ tỷ giá cố định lấy vàng làm bản vị : là chế độ tiền tệ trong đó
vàng đóng vai trò là vật ngang giá chung để xác định tỷ giá giữa các đồng tiền .
Trong chế độ này , tỷ giá đợc hình thành trên cơ sở so sánh hàm lợng vàng giữa
hai đồng tiền . Do vậy , nó mang tính chất cố định, chỉ dao động trong một biên
độ nhỏ . Chế độ này bị sụp đổ trong và sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-
1933.
Chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods :
Sau chiến tranh thế giới thứ II , chế độ tỷ giá này ra đời với quan diểm cho
rằng muốn phục hồi và phát triển kinh tế, trớc hết phải phục hồi và phát triển th-
các nớc ngoài khối, nhng giữa các nớc trong khối các đồng tiền đợc giữ ổn định
trong mối quan hệ với nhau.
Nhiều nớc, đặc biệt là các nớc nhỏ, gắn đồng tiền của mình vào một rổ các
đồng tiền chính, mỗi khi các đồng tiền trong rổ thay đổi thì đồng tiền của họ
cũng thay đổi theo. Tuy nhiên mức độ thay đổi cũng tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố
trong nớc và quốc tế và tỷ trọng quy định giữa các đồng tiền trong rổ. Việt Nam
hiện nay cũng theo chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý với xu hớng ngày càng tự do
hoá để cho tỷ giá phù hợp với quan hệ cung cầu . Tỷ giá chính thức đợc xác định
căn cứ vào kết quả giao dịch hối đoái trên thị trờng tiền tệ liên ngân hàng.
1.4 Các nhân tố ảnh h ởng đến tỷ giá:
Lạm phát : Theo thuyết ngang sức mua thì tỷ giá hối đoái giũa hai đồng
tiền sẽ đợc điều chỉnh phù hợp với mức giá cả hai nớc. Chẳng hạn, khi mức lạm
phát trong nớc cao hơn mức lạm phát ở nớc ngoài thì nhu cầu về hàng nội địa
giảm khiến đồng nội tệ có xu hớng giảm giá để cho hàng nội địa có thể bán đợc
trên thị trờng.
Lãi suất : tác động đến tỷ giá theo thuyết ngang bằng lãi suất. Thuyết này
nói lên rằng lãi suất thực giữa các nớc là bằng nhau, sự khác nhau tạm thời của
lãi suất thực giữa các nớc đợc bù đắp bởi sự thay đổi trong tỷ giá. Khi lãi suất
trong nớc tăng so với lãi suất nớc ngoài sẽ dẫn đến nhu cầu đầu t bằng đồng bản
tệ tăng, ngoại tệ giảm, đồng bản tệ có xu hớng tăng giá và ngợc lại.
Năng suất lao động : Nếu năng suất lao động của một nớc cao hơn các n-
ớc khác sẽ làm cho giá cả hàng nội địa rẻ hơn so với hàng ngoại. Do vậy, nhu
cầu hàng nội địa tăng, đồng nội tệ có xu hớng tăng giá.
Tình trạng cán cân thanh toán quốc tế của một nớc ảnh hởng trực tiếp
đến tỷ giá thông qua quan hệ cung cầu. Khi cán cân thanh toán quốc tế thặng d
làm cho dự trữ ngoại tệ tăng, cung ngoại tệ tăng. Do đó đồng ngoại tệ có xu hớng
giảm giá. Ngợc lại, cán cân thanh toán quốc tế bị thâm hụt , nhu cầu ngoại tệ
tăng làm cho ngoại tệ có xu hớng tăng giá.
Thay đổi mức cung tiền tệ: Nếu lợng cung tiền tăng, về mặt dài hạn giá
cả trong nớc sẽ tăng, do đó tỷ giá có xu hớng tăng lên, đồng bản tệ mất giá và
+ Chính sách tiền tệ thắt chặt : Trong trờng hợp nền kinh tế có những dấu
hiệu lạm phát gia tăng thì việc hoạch định chính sách tiền tệ của Ngân hàng
Trung ơng theo hớng áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm hạn chế đầu t
kìm hãm sự tăng trởng quá mức của nền kinh tế.
3. Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái với chính sách tiền tệ :
Trong quan hệ thơng mại xuất hiện tỷ giá. Để thực hiện đợc quan hệ này và
tỷ giá đợc ấn định phải thông qua thị trờng ngoại hối và phù hợp với chính sách
phát triển kinh tế của đất nớc mà đặc biệt Nhà nớc thông qua chính sách tiền tệ
để quản lý.
Giữa chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái có quan hệ biện chứng với nhau.
Tỷ giá vừa phản ánh sức mua nội tệ , vừa biểu thị quan hệ cung cầu ngoại
tệ. Không những thế, tỷ giá còn là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động
mạnh mẽ đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nớc. Tỷ
giá có ảnh hởng trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Tỷ giá thể hiện
sức mua của đồng nội tệ, qua đó tác động đến sự ổn định của giá trị đồng tiền
bản tệ. Tỷ giá hối đoái tác động trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu, đến cán
cân thanh toán quốc tế. Nếu tỷ giá cao sẽ bất lợi cho nhập khẩu, nhng lại khuyến
khích xuất khẩu vì làm cho hàng nhập khẩu đắt hơn, hàng xuất khẩu rẻ hơn, dễ
cạnh tranh trên thị trờng quốc tế, dễ tìm thị trờng tiêu thụ, kích thích chuyển dịch
ngoại tệ vào trong nớc, làm thặng d cán cân thanh toán quốc tế, thúc đẩy phát
triển tăng trởng kinh tế. Hơn nữa tạo công ăn việc làm cho ngời lao động nhiều
hơn. Ngợc lại, nếu tỷ giá thấp sẽ thuận lợi cho nhập khẩu, khó khăn trong xuất
khẩu vì hàng xuất khẩu tơng đối đắt, khó bán ra nớc ngoài, gây trở ngại cho
ngành sản xuất hàng xuất khẩu, qua đó thất nghiệp tăng, thâm hụt cán cân thơng
mại, dự trữ ngoại tệ bị xói mòn.
Đến lợt chính sách tiền tệ tác động trở lại với chế độ tỷ giá, điều tiết tỷ giá
bằng cách Ngân hàng Trung ơng tác động lên thị trờng ngoại hối làm thay đổi l-
ợng tiền cung ứng trên thị trờng. Khi Ngân hàng Trung ơng mua ngoại tệ trên thị
trờng ngoại hối sẽ làm tăng lợng tiền cung ứng dẫn đến tỷ giá tăng. Ngợc lại, khi
hội đầu t ở nớc ngoài. Một luồng vốn sẽ chạy ra nớc ngoài, Ngân hàng Trung -
ơng phải bán dự trữ ngoại tệ để giữ tỷ giá hối đoái không đổi.
Quá trình này
kéo dài cho đến khi mức cung i LM
tiền và lãi suất trở lại ban đầu . LM
Nh vậy, chính sách tiền tệ tỏ
ra kém hiệu quả hơn trong nền E E
kinh tế đóng; ở đây sự tác động i = i
của sự mở rộng tiền tệ đã bị triệt E
tiêu bởi luồng vận động của t IS
bản ra nớc ngoài do lãi suất giảm
đi, mặc dù đầu t cá nhân có tăng lên. Y + + +
Đối với hệ thống tỷ giá thả nổi i: Lãi suất trong nớc
hoàn toàn với sự vận động của tu bản là tự do : i: Lãi suất thế giới
Trờng hợp này tỷ giá linh hoạt đợc E, E, E: Tỷ giá cân bằng
xác định trên thị trờng ngoại hối và thay trong từng thời điểm
đổi theo cung cầu trên thị trờng. Khi 1 LM : Cân bằng thị trờng
luồng vốn từ nớc ngoài đổ vào trong tiền tệ
nớc , cầu về ngoại tệ tăng , đồng nội tệ IS: Cân bằng thị trờng
tăng giá, tỷ giá giảm . Sự tăng giá của hàng hoá
đồng nội tệ ảnh hởng trực tiếp đến cán
cân thơng mại : xuất khẩu giảm, nhập
khẩu tăng, cán cân thơng mại bị thâm hụt. Nếu chính sách tiền tệ
làm tăng cung tiền , đờng LM dịch chuyển đến LM , lãi suất giảm làm
đồng tiền mất giá . Tỷ giá giảm làm tăng khả năng cạnh tranh , xuất khẩu
ròng tăng lên, đờng IS dịch chuyển đến IS; lãi suất trở về mức cân bằng
với thế giới. Chính sách tiền tệ mở rộng
làm tăng sản lợng. Tuy nhiên, về mặt i LM
dài hạn, sản lợng tăng làm giá cả tăng.
Cân bằng tiền tệ thực tế giảm. LM dịch LM
điều chỉnh cơ chế tỷ giá1. Nhìn nhận về cơ chế điều hành tỷ giá tại Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới :
Phải thừa nhận rằng trong thời gian qua Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam đã
đa ra những bớc đi thích hợp trong việc điều hành tỷ giá và đã gặt hái đợc những
thành công nhất định, đặc biệt là trong lĩnh vực ổn định thị trờng ngoại tệ, góp
phần tích cực vào những thành tựu chung của nền kinh tế.
Kể từ sau lần lạm phát phi mã ở Việt Nam năm 1986, cùng với việc thay
đổi quan điểm nhìn nhận nền kinh tế nớc ta. Đảng và Nhà nớc đã đa nền kinh
tế đi đúng hớng phù hợp với thực tế khách quan, đa ra những chính sách kinh tế
vĩ mô thích hợp qua từng thời kỳ. Trong đó phải kể đến chính sách tiền tệ về
quản lý ngoại hối và điều hành tỷ giá.
Đầu tiên phải nói đến chính sách điều hành tỷ giá của Ngân hàng Trung -
ơng luôn theo sát và phù hợp với thực tế biến đoọng của tỷ giá. Thực thi theo cơ
chế mới, tỷ giá đợc hình thành trên quan hệ cung cầu, rõ ràng là mềm dẻo hơn,
linh hoạt hơn, vì thế nó phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần tăng cờng sự hoà
nhập của nền kinh tế nớc ta vào cộng đồng kinh tế thế giới. Cơ chế này khác hẳn
với cơ chế tỷ giá trớc kia, khi mà tỷ giá không xuất phát từ quan hệ cung cầu thì
mỗi lần Nhà nớc điều chỉnh tỷ giá đều tạo sức ép tâm lý nặng nề, nhất là khi tỷ
giá không đợc điều chỉnh thờng xuyên, đến khi điều chỉnh sẽ tạo ra một bớc
nhảy đột ngột; lòng tin vào đồng tiền có thể vì thế mà dao động, tình trạng đầu
cơ, găm giữ ngoại tệ sẽ có cơ hội phát triển.
Điều hành theo cơ chế mới, những năm đầu của thời kỳ đổi mới Ngân
hàng Trung ơng vẫn kiểm soát, điều hành tỷ giá theo tỷ giá chính thức nên vẫn
không sát với tỷ giá thị trờng. Chính vì vậy, qua quyết định số 64-65/1999/QĐ-
NHNN7 đã bỏ việc công bố tỷ giá chính thức, thay bằng tỷ giá giao dịch bình
quân trên thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng của VND so với USD và đợc công bố
trên các phơng tiện thông tin đại chúng thay cho việc công bố trực tiếp trên thị
giá trong nhiều năm ; cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và làm tăng dự trữ
ngoại tệ. Có thể nói, qua các năm tỷ lệ xuất khẩu hàng năm ngày càng tăng :
1995 tăng 5,4% , 1996 tăng 7,2% ; 1997 tăng 9,1% ; 1998 tăng 19,3% ; 1999
tăng 11,5% ; 2000 tăng 14,3%. Tỷ lệ hàng nhập khẩu ngày càng giảm ,do đó tỷ
lệ nhập siêu cũng giảm qua các năm : 1995 là 49,7% ; 1996 = 53,6% ; 1997 =
26,2% ; 1998 = 23,1% ; 1999 = 0,7% ; 2000 = 6,3%.
Nhìn qua số liệu các năm, ta thấy tỷ lệ xuất khẩu vẫn tăng lên những vẫn
xảy ra nhập siêu(cao nhất từ trớc tới nay vào năm 1995, 1996). Điều này thực tế
thấy đợc, vì nớc ta đang trong thời kỳ CNH, HĐH nền kinh tế cần phải có cơ sở
hạ tầng hiện đại. Vì thế chúng ta đã nhập chủ yếu là nguyên liệu và công nghệ
(90%), nên xảy ra nhập siêu lớn hơn. Song tỷ lệ này đang ngày càng giảm dần.
Một yếu tố nữa cũng góp phần quan trọng vào việc ổn định tỷ giá hối đoái
là sự mở cửa hội nhập quốc tế về ngân hàng, nó làm nâng cao uy tín, danh tiếng
cho hệ thống ngân hàng trên trờng quốc tế.
Sau nữa, phải nói rằng chiến lợc trong chinh sách kinh tế mô của Việt
Nam hiện nay đối với cơ chế tỷ giá. Nhà nớc liên tục tăng giá qua các phiên giao
dịch trong năm 2000( tính trung bình mỗi phiên tăng 7 VNĐ. Tuy không gây ảnh
hởng lớn lắm nhng phần nào đã kích thích đợc xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh
toán quốc tế, tăng nguồn dự trữ ngoại tệ và đã làm cho đầu t nớc ngoài tăng lên
so với mấy năm trớc. Đặc biệt là sự tăng giá liên tục này không gây khủng
hoảng tiền tệ, lạm phát, thậm chí còn đang ở tình trạng thiểu phát.
Cơ chế tỷ giá linh hoạt có sự quản lý của Nhà nớc, chính sách này phù hợp
với Việt Nam, nó đã bắt đầu dựa trên cung cầu thông qua thị trờng liên ngân
hàng. Đây là một trong những yếu tố thuận lợi để đồng tiền Việt Nam có thể trở
thành đồng tiền chuyển đổi.
Sau cùng là việc tăng tỷ giá khá cao trong năm 2000 làm cho đồng tiền Việt
Nam bị mất giá đã chuyển dịch đợc một lợng lớn ngoại tệ vào Việt Nam, ngoại
tệ vào bằng con đờng kiều hối cũng khá nhiều.
Gắn liền với công cuộc đổi mới và mở cửa ở nớc ta, có nhiều yêu cầu phải
giải quyết cùng một lúc: vừa ổn định, vừa phát triển kinh tểtong nớc, vừa mở
không có biện pháp đẩu nhu cầu ngoại tệ lên thì đồng tiền trong nớc dễ dàng trở
nên bị đánh giá quá cao và kết quả sẽ là hạn chế xuất khẩu, khuyến khích nhập
khẩu. Khi đó, Nhà nớc sẽ phải áp dụng chính sách kìm chế nhập khẩu, thực hiện
nhiều biện pháp bảo hộ hơn nữa, gây méo mó trong việc phân bổ nguồn lực của
xã hội nh mở rộng mặt hàng nhập khẩu theo hạn ngạch, tăng thuế nhập
khẩu Nếu tình trạng đánh giá cao đồng tiền trong nớc keo dài mà vốn nớc ngoài
tiếp tục đổ vào, đến một lúc nào đó Chính phủ phải phá giá danh nghĩa đồng tiền
trong nớc, làm cho những ngời vay nợ nớc ngoài bị thiệt hại rất lớn, đồng thời
gây tác động mạnh đến lạm phát; lúc đó việc ổn định kinh tế càng trở nên khó
khăn hơn.
Phù hợp với lý thuyết, thực tế Việt Nam cho thấy, từ sau năm 1990 luồng
vốn FDI tăng liên tục đã ảnh hởng đến tỷ giá giữa VNĐ và ngoại tệ giao dịch
chủ yếu là USD: từ 6650đ/USD năm 1990 tăng lên 12720đ/USD năm 1991, sau
đó giảm xuống 10720đ/USD năm 1992 và trở nên ổn định liên tục đến 1996.
Đặc biệt trong 3 năm 1994-1996 khi luồng vốn FDI vào Việt Nam tăng khá
nhanh thì tỷ giá danh nghĩa giữa USD/VND hầu nh không tăng trên thị trờng, tức
là VNĐ bị đánh giá cao một cách giả tạo so với USD, trong khi USD cùng thời
gian đã lên giá khoảng 20% trên thị trờng tiền tệ thế giới . Kết quả ngoài nh đã
phân tích còn đa đến giảm ý nghĩa mọi sự khuyền khích xuất khẩu, tăng tỷ lệ
nhập siêu, gây thâm hụt cán cân vãng lai (khoảng 13-14% GDP năm 1995,1996)
nợ nớc ngoài gia tăng, dự trữ ngoại tệ tăng chậm so với tốc độ tăng trởng xuất
khẩu, sự đổ vỡ cán cân thanh toán luôn rình rập.
Trớc xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá thị trờng tài chính , tiền tệ thế giới dấy lên
hết sức mạnh mẽ từ đầu thập niên 90 đến nay, ngày càng cho thấy những mặt trái
không thể xem thờng của nó. Thực trạng nền kinh tế Việt Nam cũng bắt đầu bộc
lộ những yếu kém từ cuối năm 1996, rõ rệt hơn là từ năm 1997 đến nay (nợ quá
hạn chung ngân hàng gia tăng, đầu t nớc ngoài bắt đầu giảm tốc độ tăng tởng
GDP tụt dần cùng thời gian ). Tất cả cho thấy chính sách tỷ giá lúc đó hết
sức bất lợi cho nền kinh tế, cần phải có sự thay đổi căn bản, hoàn thiện không
ngừng để thích ứng tình hình và yêu cầu mới của nền kinh tế.
tệ chính là USD, lâu nay các chính giới kinh tế -tài chính nớc ta có đề cập tới,
nhng vẫn gặp bế tắc về cứ liệu kinh tế , giá cả và cả phơng pháp luận tính
toán Nớc ta tình trạng mất cân bằng tỷ giá hối đoái là thờng xuyên xảy ra. Việc
thiết lập một tỷ giá hối đoái sai lệch so với mức cân bằng vốn có của nó đã phải
trả bằng một chi phí xã hội khá lớn nh sự mất ổn định kinh tế, thất nghiệp gia
tăng
Để hiểu rõ về sự cân bằng tỷ giá hối đoái thực trớc hết ta phải hiểu tỷ giá hối
đoái thực đợc gọi là cân bằng khi tại đó mức giá tơng đối của hàng hoá mậu dịch
và các hàng hoáphi mậu dịch mang lại sự cân bằng đồng thời ở cả khu vực kinh
tế đối ngoại và kinh tế trong nớc của một nền khin tế. Tỷ giá hối đoái thực cân
bằng không phải là bất di bất dịch. Khi có bất kỳ biến số nào ảnh hởng tới mức
cân bằng đối nội và mức cân bằng đối ngoại thì tỷ giá này cũng thay đổi theo. Tỷ
giá hối đoái cân bằng biến động khi những yếu tố cơ bản chi phối thay đổi. Thực
tế này gây ra nhiều hậu quả đối với việc hoạch định chính sách. Tại bất kỳ thời
điểm nào tỷ giá hối đoái thực đều phụ thuộc vào giá trị của những yếu tố
chi phối cơ bản và chịu ảnh hởng từ toàn bộ các sức ép kinh tế vĩ mô nh cung
tiền tệ quá mức cầu, thâm hụt tài chính
Làm thế nào để các nhà hoạch định chính sách, điều hành tỷ giá có thể đối phó
với tình trạng mất cân bằng tỷ giá hối đoái? Với tình trạng mất cân bằng do các
chính sách kinh tế vĩ mô, một bớc đi có thể phải loại trừ sự mâu thuẫn giữa chính
sách vĩ mô và tỷ giá hối đoái. Ngay cả khi những chính sách gây mất cân bằng
đợc kiểm soát, tỷ giá hối đoái thực vẫn khác biệt với tỷ giá cân bằng. Vấn đề là
làm thế nào để tỷ giá hối đoái thực quay trở lại giá trị cân bằng. Trong nhiều tr-
ờng hợp mất cân bằng tỷ giá hối đoái thực sẽ có dạng đồng tiền bị định giá cao
quá mức và mất khả năng cạnh tranh quốc tế. Nếu tỷ giá hối đoái danh nghĩa cố
định , việc quay trở lại với mức cân bằng chỉ có thể thực hiện bằng cách giảm
mức giá trong nớc của hangf hoá phi mậu dịch. Điều này rất khó thực hiện trong
thời gian ngắn, chính vì vậy mà tình trạng mất cân bằng sẽ kéo dài cùng với
những tác hại của nó. Những tác hại này nhanh chóng gia tăng khi chính sách
giá cả và tiền lơng không linh hoạt. Kết quả là tình trạng thất nghiệp tăng lên
biên độ tỷ giá, thay cho việc điều chỉnh hợp lý tỷ giá chính thức sẽ khiến việc
điều hành của NHNN cứng nhắc về kỹ thuật và ít có tác dụng khi tình hình tiền
tệ bất ổn, buộc NHNN thờng xuyên phải điều chỉnh biên độ này. Điều này vô
hình chung tạo kẽ hở lợi dụng cho các lực lợng thị trờng. Các ngân hàng đua
nhau giao dịch theo tỷ giá sát trần mà NHNN khó kiểm soát trạng thái ngoại hối
của họ. Hơn nữa các nguồn ngoại tệ trong và ngoài luồng chính thức thờng
xuyên hoà trộn nhau, đầu cơ chênh lệch tỷ giá kiếm lời nảy sinh. Đành rằng mở
rộng biên độ giao dịch là để tìm ra một tỷ giá phù hợp phản ánh đúng hơn thị tr-
ờng và quy luật cung cầu song sự điều chỉnh bằng việc mở rộng biên độ quá lớn
sẽ tạo cú sốc tâm lý khoong tích cực của ngời dân đối với chính sách tỷ giá của
Nhà nớc. Chẳng hạn, vào quí IV/1997, tỷ giá công bố của NHNN suốt hơn 1
năm là 11170-11175 VNĐ/USD, với biên độ đợc phép là 10% thì tỷ giá giao dịch
thờng xuyên của thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng là 11175 VNĐ * 1,1 =12292-
12293 VNĐ. Chênh lệch thấp tới khoảng 7-8% so với tỷ giá thực tế thị trờng (đã
vọt lên mức trên 13000 VNĐ/USD từ tháng 11/1997). Các hiện tợng đầu cơ, găm
giữ ngoại tệ, gây căng thẳng giả tạo cung cầu ngoại tệ, làm phức tạp hoá quản lý
ngoại hối của Nhà nớc, phần nào có nguyên nhân từ sự bất cập của cơ chế điều
hành tỷ giá hối đoái cha thích ứng với hiẹen trạng VNĐ ở xu hớng bị đánh giá
cao quá mức. Mặt khác NHNN thông qua tỷ giá chính thức thấp và biên độ
khống chế 10% đã buộc các NH thơng mại phải giao dịch với tỷ giá ở mức tối đa
sát trần mà vẫn thấp hơn 10% so với thực tế. Sự bất hợp lý này chỉ giải quyết
bằng cách điều chỉnh tỷ giá hối đoái danh nghĩa, chứ nới rộng thêm nữa biên độ
giao dịch tỷ giá là hết sức nguy hiểm. Kinh nghiệm Thái Lan sau khi mở biên độ
giao dịch lên 25%( khoảng trớc 1/7/1997) đã nhanh chóng rơi vào hoảng loạn
hối đoái thực khiến NHTƯ nớc này tiêu tốn gần 12 tỷ USD để can thiệp duy trì
biên độ không đem lại kết quả. í thức đợc hiểm hoạ đó NHNN Việt Nam đã thu
hẹp biên độ từ 10% xuống 7% năm 1998.
Một nguyên nhân nữa không nên lạm dụng quá biên độ dao động tỷ giá để điều
chỉnh, kiểm soát thị trờng ngoại tệ vì thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng cha phát
triển hoàn hảo, cha phản ánh đợc toàn bộ quan hệ cung cầu ngoại tệ của đất nớc,
Chính sách tỷ giá đợc xác định là một bộ phận của chính sách tiền tệ (trớc
tháng 2/1999 Việt Nam duy trì một cơ chế tỷ giá ấn định có điều chỉnh nên
chính sách tỷ giá hối đoái đợc coi là một công cụ của chính sách tiền tệ, nhng từ
tháng 2/1999 cơ chế tỷ giá linh hoạt có điều tiết ra đời, và nh vậy tỷ giá hối đoái
không thể coi là một công cụ của chính sách tiền tệ mà là một mục tiêu trung
gian quan trọng của chính sách tiền tệ ). Nó có nhiệm vụ đảm bảo ổn định tiền
tệ, kiềm chế lạm phát, góp phần tăng trởng kinh tế ở mức độ cao, bền vững. Với
t cách là một chính sách nên chính sách tỷ giá phải hớng vào thực hiện những
mục tiêu có tính đặc thù của mình:
- ổn định tỷ giá dựa trên mối tơng quan cung cầu trên thị trờng để khuyến
khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và
tăng dự trữ ngoại tệ.
- Từng bớc nâng cao uy tín đồng tiền Việt Nam; đồng thời tạo ra các điều kiện
cần thiết để đồng tiền Việt Nam trở thành đồng tiền chuyển đổi.
- Phối hợp chặt chẽ với chính sách quản lý ngoại hối để khắc phục tình trạng
đô la hoá trong nền kinh tế.
Từ các mục tiêu trên đòi hỏi chính sách tỷ giá phải đợc xây dựng dựa trên các
quan điểm :
+ Chính sách tỷ giá phải hớng vào xử lý và điều hành tỷ giá theo đúng bản
chất vốn có của nó -là một cơ chế giá thị trờng. Một khi đã xem ngoại tệ là một
hàng hoá đặc biệt cũng phải vận hành theo quy luật của giá cả thị trờng và việc
điều chỉnh tỷ giá phải dựa vào quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trờng và các
nhân tố tác động lên nó. Theo quy luật của giá cả, trong quá trình vận động tỷ
giá cũng có thể hoàn toàn tách rời giá trị của đồng tiền, nhng vì tỷ giá là một
trong những vấn đề trung tâm và nhạy cảm nhất của đời sống kinh tế xã hội, nếu
sự tách rời đó vợt quá biên độ cho phép nào đó thì lập tức tác động đến các loại
giá cả khác trên thị trờng bao gồm thị trờng hàng hoá tiêu dùng, thị trờng tín
dụng, thị trờng ngoại hối. Nói cách khác, một sự bất ổn của tỷ giá chắc chắn gây
ra nhiều tai hại cho nền kinh tế. Chính vì lẽ đó, trong điều hành tỷ giá mục tiêu
ổn định của tỷ giá luôn phải đợc u tiên hàng đầu.
chứng khoán mới đang ở giai đoạn đầu, việc tiếp tục duy trì cơ chế tỷ giá nh hiện
nay là hết sức cần thiết. Tỷ giá chính thức và biên độ giao dịch vẫn là một mục
tiêu trung gian để điều tiết và kiểm soát tỷ giá rất hiệu quả và phù hợp với thực
lực của NHNN .
- Củng cố và phát triển thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng-một cơ sở hạ tầng
rất quan trọng để NHNN can thiệp và điều chỉnh tỷ giá. Là một bộ phận quan
trọng của thi trờng tiền tệ, thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng phải hoạt động thông
suốt, liên tục không bị giới hạn bởi không gian và thời gian để tạo điều kiện cho
các ngân hàng trong hoạt động mua bán ngoại tệ, qua đó giải quyết nhanh chóng
nhu cầu thanh toán ngoại tệ cho các doanh nghiệp. Đồng thời có cơ chế ràng
buộc các tổ chức tài chính, tín dụng tham gia trên thị trờng thấy rõ hết trách
nhiệm cũng nh nghĩa vụ và quyền lợi của mình để xây dựng một mô hình thị tr-
ờng ngoại tệ liên ngân hàng hoàn thiện, điều tiết can thiệp mua, bán ngoại tệ
nhằm cân đối cung cầu và thực hiện chính sách tỷ giá theo đúng định hớng của
Nhà nớc.
- Củng cố và phát triển thị trờng nội tệ liên ngân hàng với đầy đủ các nghiệp
vụ hoạt động của nó để tạo điều kiện cho NHNN phối hợp, điều hoà giữa hai khu
vực thị trờng ngoại tệ và thị trờng nội tệ một cách thông suốt.
- Nâng cao dự trữ ngoại tệ của Nhà nớc tơng xứng nhịp độ tăng kim ngạch
xuất nhập khẩu và khối loựng ngoại tệ đang có trên thị trờng ở nớc ta. Tập trung
quản lý dự trữ ngoại tệ vào một đầu mối trung tâm là NHNN. Ngoại tệ của kho
bạc Nhà nớc có đợc cũng phải bán ngay cho NHNN và khi cần sử dụng thì mua
lại ở NHNN.
- Xác định đợc một cơ cấu dự trữ ngoại tệ hợp lý trên cơ sở đa dạng hoá rổ
ngoại tệ mạnh để làm căn cứ cho việc ấn định tỷ giá đồng Việt Nam chứ không
nên neo giữ đồng Việt Nam vào đồng USD. Với cơ cấu ngoại tệ đa dạng, Nhà n-
ớc vừa chủ động linh hoạt trong việc bố trí có lợi nhất các phơng tiện thanh toán
quốc tế, cân đối cơ cấu các khoản nợ có liên quan tới các luồng dịch chuyển
ngoại tệ từ thơng mại và đầu t trực tiếp, vừa phân tán đợc rủi ro về tỷ giá, giảm
thiểu sự phụ thuộc vào USD.
từng bớc đảm bảo cho đồng Việt Nam thực hiện tốt các chức năng của mình.
Muốn vậy phải tạo thêm nhiều phơng tiện chuyển tải giá trị làm phơng tiện lu
thông, thanh toán để giảm bớt áp lực nhu cầu tiền mặt trong lu thông.
Cải cách hệ thống thanh toán ,khuyến khích ngời dân mở tài khoản séc cá nhân
và thanh toán trong hệ thống ngân hàng, tùng bớc tăng mệnh giá của đồng Việt
Nam.
- Tiếp tục khép dần chênh lệch giữa lãi suất cho vay đồng ngoại tệ với lãi
suất cho vay đồng nội tệ. Về lãi suất đồng ngoại tệ do tính đặc thù của nó là liên
quan đến ngoại tệ, thị trờng quốc tế, nên việc xử lý nó một mặt phải theo sát thị
trờng quốc tế, nhng mặt khác lãi suất ngoại tệ phải có sức hấp dẫn để thực hiệt
tốt chính sách thu hút vốn của nớc ta hiện nay. Việc giảm chênh lệch lãi suất
đồng nội tệ và lãi suất đồng ngoại tệ không có nghĩa là làm cho chênh lệch này
bằng 0, mà là giảm đến mức mà chênh lệch lãi suất là sự phản ánh rủi ro tín
dụng và dự tính tăng của tỷ giá. Theo đó một khi tỷ giá biến động có chiều hớng
tăng lên, thì NHNN có thể tăng lãi suất để phản ánh đầy đủ các rủi ro, và ngăn
chặn đợc xu hớng tăng tỷ giá. Với cách làm này trong chừng mực nào đó giúp
Nhà nớc có thể điều chỉnh tỷ giá mà không cần phải hao tốn lực lợng dự trữ
ngoại tệ của mình.
14
Kết luận
Xu hớng ngày nay là sự hội nhập và phát triển, khu vực hoá, toàn cầu hóa,
nền kinh tế mỗi nớc không còn ở trong phạm vi một quốc gia mà đã mở rộng
quan hệ với các nớc trên thế giới. Sự phát triển của hệ thống thơng mại quốc tế
và các quan hệ nh: tín dụng, đầu t quốc tế, thơng mại quốc tế đòi hỏi phải có sự
trao đổi tiền tệ giữa các nớc. Việc trao đổi này đợc thông qua chế độ tỷ giá. Nh
vậy, tỷ giá hối đoái là một trong nhng nhân tố quan trọng của chính sách phát
triển kinh tế.
Trong kinh doanh, tỷ giá hối đoái đợc sử dụng để mua bán và thu đổi
của Nhà nớc ta.
15
Tài liệu tham khảo
1. Lý thuyết tiền tệ ngân hàng (Học viện ngân hàng, phân viện Hà nội và
Tp.HCM)
2. Kinh tế học vĩ mô (Đại học KTQD)
3. Báo cáo thờng niên NHTW 1996-1999
4. Kinh tế quốc tế (Đại học thơng mại)
5. Cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái và các vấn đề kinh tế đối ngoại
(NXB Hà nội)
6. Lý thuyết Tiền tệ và Ngân hàng (Fedric Miskin).
7. Thời báo kinh tế Việt nam và thế giới 2000-2001, 2001 2002.
16
Mục lục
Phần mở đầu
Nội dung
Phần I: Những vấn đề chung về tỷ giá hối đoái, chính sách tiền tệ và
mối quan hệ giữa chúng
1.Tỷ giá hối đoáí
1.1 Khái niệm
1.2 Vai trò của tỷ giá hối đoái
1.3 Cơ chế của tỷ giá hối đoái
1.4 Các nhân tố ảnh hởng đến tỷ giá