ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S VÕ HỒNG THI
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU.
SVTH : TRẦN PHÚ ĐIỀN
1
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S VÕ HỒNG THI
I.1. Lý do hình thành đề tài:
Lên men sinh metan là hình thức biến đổi sinh khối thành năng lượng đã được
biết từ lâu. Về bản chất đó là quá trình lên men kỵ khí các dạng nguyên liệu rất khác
nhau: phế thải nông nghiệp, phế thải các nhà máy thực phẩm, nhà máy đường, nước
thải sinh hoạt của các thành phố cụm dân cư thành năng lượng tái sinh là CH
4
và
CO
2
. Quá trình lên men tạo CH
4
được thực hiện bởi quần thể của nhiều loài vi sinh
vật khác nhau ở điều kiện kỵ khí.
Theo tính toán nếu tận dụng hết các nguồn phế thải trên trái đất thì hang năm
chúng ta có thể tạo được khoảng 200 tỉ m
3
khối khí sinh học, tương đương khoảng
150 - 200 triệu tấn nhiên liệu và khoảng 20 triệu tấn bã là nguồn phân bón hữu cơ
chất lượng cao.
Việt Nam là nước có mật độ dân số cao. Dân số chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.
Trong những năm gần đây công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xem là
chìa khóa để phát triển đất nước. Do đó, hàng loạt các khu công nghiệp, khu chế xuất
và các cơ sở sản xuất đã và đang được hình thành. Từ đó các vấn đề ô nhiểm môi
trường cũng phát sinh và ngày càng nóng bỏng.
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp ngoài những sản phẩm thu được còn tạo ra
một lượng chất thải cũng như nước thải khá lớn. Phần lớn lượng nước thải này chưa
Tổng quan quá trình sinh học trong xử lý nước thải.
Xử lý nước thải bằng vi sinh vật trong điều kiện kỵ khí: hóa sinh học của quá
trình, vi sinh vật học của quá trình phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện kỵ
khí, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình,…
I.2.3. Phương pháp nghiên cứu:
Do đề tài chỉ hình thành trên cở sở lý thuyết mà không tiến hành thí nghiệm
hay tiến hành làm thực nghiệm nên phương pháp nghiên cứu ở đây chủ yếu là
phương phương pháp hồi cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài, tiến hành thu thập, sưu tầm các thông tin, tài
liệu, số liệu, có liên quan đến nội dung nghiên cứu từ các tạp chí, sách báo,
giáo trình, internet,…từ đó các kiến thức sẽ được lựa chọn và tổng hợp lại làm
cơ sở cho quá trình thực hiện đề tài.
I.2.4. Giới hạn của đề tài:
Thời gian nghiên cứu: 12 tuần.
SVTH : TRẦN PHÚ ĐIỀN
3
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S VÕ HỒNG THI
CHƯƠNG II. TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI VÀ
CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI
SVTH : TRẦN PHÚ ĐIỀN
4
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S VÕ HỒNG THI
II.1. Tổng quan về nước thải:
II.1.1. Khái niệm:
Nước thải là nước đã qua sử dụng trong sinh hoạt, sản xuất hoặc nước chảy tràn
qua các vùng ô nhiễm. tùy vào điều kiện hình thành, nước thải được chia thành nước
thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và nước thải là nước mưa chảy tràn.
Như vậy nước bị ô nhiễm các có nguồn gốc từ tự nhiên và do con người gây ra:
Nguồn gốc tự nhiên: do mưa, lũ lụt, gió bão,…các tác nhân trên đưa vào
nguồn nước các chất thải bẫn, các vi sinh vật có hại, kể cả xác chết của chúng.
Tải lượng ô nhiễm
(kg/ngày)
Chất rắn lơ lửng 70 – 145 89 – 184,5
Amoni (N-NH
4
) 2,4 – 4,8 3,1 – 6,2
BOD5 của nước đã lắng 45 – 54 57,2 – 68,7
Nitơ tổng 6 – 12 7,6 – 15,2
Tổng photpho 0,8 – 4,0 1,02 – 5,1
COD 72 – 102 91,6 – 127,7
Dầu mỡ 10 – 30 12,7 – 38,1
Nguồn: Rapid Environmental Assessment WHO – 1992.
Bảng 2.2: Thành phần trung bình của nước thải sinh hoạt.
STT
Các chất có trong nước thải (mg/l)
Mức độ ô nhiễm
Nặng Trung bình Nhẹ
SVTH : TRẦN PHÚ ĐIỀN
6
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S VÕ HỒNG THI
1
2
3
4
5
6
7
8
9
600
12
0
85
35
50
0,1
0,4
175
200
40
-
500
350
150
350
8
0
50
20
30
0,05
0,2
100
100
20
8
200
120
8
Xi mạ Cr
+6
3 – 550
Nhựa dẻo
COD 23.000
TOD 8.800
Hồ thải từ công đoạn dán gỗ
COD 2.000
Phenol 200 – 2.000
P-PO
4
9 – 15
Phân bón BOD
5
4.500
Chất rắn lơ lửng 10.000
Giết mổ gia xúc BOD
5
400 – 2.500
Chất rắn lơ lửng 400 – 1.000
Bột giấy và giấy BOD
5
100 – 350
Chất rắn lơ lửng 75 – 300
Thuộc da BOD
5
700 – 7.000
Chất rắn lơ lửng 4.000 – 20.000
Nguồn: Nguyễn Văn Phước - xử lý nước thải sinh hoạt và công nghiệp bằng phương
pháp sinh học - 2007.
định. Tùy vào kích thước mà ta phân loại song chắn rác thô, trung bình, hay song
chắn rác tinh. Song chắn rác làm bằng sắt tròn hoặc vuông (sắt tròn có đường kính từ
8 – 10mm), hai thanh cách nhau một khoảng bằng 60 – 100mm để chắn vật liệu thô
và 10 – 20mm để chắn vật liệu nhỏ hơn, đặt nghiêng theo dòng chảy một góc
60 – 75
o
.
Vận tốc dòng chảy thường lấy từ 0,8 – 1m/s để tránh lắng cát.
II.2.1.2. Lưới lọc:
Sau chắn rác, để có thể loại bỏ các tạp chất có kích thước nhỏ hơn, mịn hơn ta có
thể đặt thêm lưới lọc. Các vật thải được giữ lại trên mặt lọc, phải cào lấy ra khỏi làm
tắt dòng chảy.
Người ta còn thiết kế lưới lọc hình tang trống cho nước chảy từ ngoài vào hay từ
trong ra.
Trước chắn rác còn có khi lắp thêm máy nghiền để nghiền nhỏ các tạp chất.
II.2.1.3. Thiết bị nghiền rác:
Dùng để cắt và nghiền rác thành các hạt, mảnh nhỏ hơn để trành làm tắc ống
không gây hại cho bơm. Tuy nhiên trong thực tế việc dùng máy nghiền rác thay cho
xong chắn rác gặp nhiều khó khăn cho các công trình xử lý tiếp theo do lượng cặn
tăng lên gây tắc nghẽn hệ thống phân phối khí và các thiết bị làm thoáng khí trong
các bể ( đĩa, lỗ phân phối khí và các tuabin…).
II.2.1.4. Bể lắng cát:
SVTH : TRẦN PHÚ ĐIỀN
9
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S VÕ HỒNG THI
Dựa vào nguyên lý trọng lực, dòng nước thải được cho chảy qua bể lắng. Bể lắng
là các loại bể, hố, giếng,…cho nước thải chảy vào theo nhiều cách khác nhau : theo
tiếp tuyến, theo dòng chảy ngang, theo dòng từ trên xuống và tỏa ra chung quanh,…
Nước qua bể lắng dưới tác dụng của trọng lực cát nặng sẽ lắng xuống đáy và kéo
theo một phần chất đông tụ.
6,6 – 7,6.
Trung hòa bằng cách dung dung dịch axit hoặc kiềm để trung hòa dịch nước thải.
II.2.2.2. Keo tụ:
Trong quá trình lắng cơ học chỉ tách được các hạt chất rắn huyền phù có kích
thước ≥10
-2
mm, còn các hạt nhỏ hơn ở dạng keo không thể lằng được. Bằng phương
pháp keo tụ ta có thể làm tăng kích thước các hạt nhờ tác dụng tương hỗ giữa các hạt
phân tán liên kết lại với nhau để có thể lắng được.
Các hạt lơ lửng trong nước đều mang điện tích âm hoặc dương. Các hạt có nguồn
gốc silic và các hợp chất hữu cơ mang diện tích âm, các hạt hydroxit sắt và hydroxit
nhôm mang điện tích dương. Khi thế điện động của nước bị phá vỡ, các hạt mang
điện tích này sẽ liên kết lại với nhau thành các hạt bông keo, các hạt bông keo này có
tác dụng làm tăng tốc độ lắng và giảm thời gian lắng.
Các chất keo tụ thường dung là muối sắt (Fe
2
(SO
4
)
3
.2H
2
O, FeSO
4
.7H
2
O,…),
muối nhôm (Al
2
(SO
hợp chất chứa asen, phosphor, xianua và chất phóng xạ. Phương pháp này được dùng
phổ biến để làm mềm nước, loại ion Ca
+2
và Mg
+2
ra khởi nước cứng.
Các chất trao đổi ion có thể là các chất vô cơ hoặc hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên
hoặc tổng hợp.
II.2.2.6. Phương pháp trích ly:
Trích ly là phương pháp tách các chất bẩn hoà tan ra khỏi nước thải bằng dung
môi nào đó nhưng với điều kiện dung môi đó không tan trong nước và độ hoà tan
chất bẩn trong dung môi cao hơn trong nước.
II.2.2.7. Xử lý bằng màng:
Màng được định nghĩa là một pha đóng vai trò ngăn cách giữa các pha khác
nhau. Nó có thể là chất rắn, hoặc một gel (chất keo) trương nở do dung môi hoặc
thậm chí cả một chất lỏng. Việc ứng dụng màng để tách các chất, phụ thuộc vào độ
thấm của các hợp chất đó qua màng.
Các kỹ thuật như điện thẩm tích, thẩm thấu ngược, siêu lọc và các quá trình
tương tự khác ngày càng đóng vai trò quan trọng trong xử lý nước thải.
II.2.2.8. Khử khuẩn:
Dùng các hóa chất có tính độc đối với vi sinh vật, tảo , động vật nguyên sinh,
gian, sán,… để làm sạch nước, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh để đổ vào nguồn hoặc tái
sử dụng. Khử khuẩn hay sát khuẩn có thể dùng hóa chất hoặc các tác nhân vật lý
như: ozon, tia tử ngoại,…
Hóa chất sử dụng để khử khuẩn phải đảm bảo có tính độc đối với vi sinh vật
trong một thời gian nhất định, sau đó phải được phân hủy hoặc bay hơi, không còn
dư lượng gây độc cho người sử dụng hoặc vào các mục đích sử dụng khác.
SVTH : TRẦN PHÚ ĐIỀN
12
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S VÕ HỒNG THI
thải bằng cánh đồng lọc được coi như là một biện pháp rẻ tiền.
SVTH : TRẦN PHÚ ĐIỀN
13
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S VÕ HỒNG THI
Xử lý nước thải bằng cánh đồng lọc đồng thời có thể đạt được ba mục tiêu:
Xử lý nước thải.
Tái sử dụng các chất dinh dưỡng có trong nước thải để sản xuất.
Nạp lại nước cho các túi nước ngầm.
So với các hệ thống nhân tạo thì việc xử lý nước thải bằng cánh đồng lọc cần ít
năng lượng hơn. Xử lý nước thải bằng cánh đồng lọc cần năng lượng để vận chuyển
và tưới nước thải lên đất, trong khi xử lý nước thải bằng các biện pháp nhân tạo cần
năng lượng để vận chuyển, khuấy trộn, sục khí, bơm hoàn lưu nước thải và bùn Do
ít sử dụng các thiết bị cơ khí, việc vận hành và bảo quản hệ thống xử lý nước thải
bằng cánh đồng lọc dễ dàng và ít tốn kém hơn. Tuy nhiên, việc xử lý nước thải bằng
cánh đồng lọc cũng có những hạn chế như cần một diện tích đất lớn, phụ thuộc vào
cấu trúc đất và điều kiện khí hậu.
Tùy theo tốc độ di chuyển, đường đi của nước thải trong hệ thống người ta chia
cánh đồng lọc ra làm 3 loại:
Cánh đồng lọc chậm (SR).
Cánh đồng lọc nhanh (RI).
Cánh đồng chảy tràn (OF).
II.2.3.2. Hồ sinh học:
Vi sinh
vật sử dụng
oxy sinh ra từ rêu tảo trong quá trình quang hợp cũng
như
oxy
hóa từ không khí để oxy hóa các chất hữu cơ, rong tảo lại
tiêu
Hồ hiếu khí.
II.2.3.3. Bể lọc sinh học:
Bể lọc sinh học là một thiết bị phản ứng sinh học trong đó các vi sinh vật sinh
trưởng cố định trên lớp vật liệu lọc. Bể lọc hiện đại bao gồm một lớp vật liệu dễ
thấm nước với vi sinh vật dính kết trên đó. Nước thải đi qua lớp vật liệu này sẽ thấm
hoặc nhỏ giọt trên đó. Vật liệu lọc thường là đá dăm hoặc các khối vật liệu dẻo có
hình thù khác nhau. Nếu vật liệu lọc là đá hoặc sỏi thì kích thước hạt dao động trong
khoảng 25 – 100 mm, chiều sâu lớp vật liệu dao động trong khoảng 0,9 – 2,5 m,
trung bình là 1,8m. Bể lọc với vật liệu đá dâm thường có dạng tròn. Nước thải được
phân phối trên lớp vật liệu lọc nhờ bộ phận phân phối. Bể lọc với vật liệu lọc là chất
dẻo có thể có dạng tròn, vuông hoặc nhiều dạng khác nhau với chiều cao biến đổi từ
4 – 12 m.
Các chất hữu cơ có trong nước thải sẽ bị hấp phụ vào màng vi sinh vật dày
0,1 – 0.2 mm và bị phân huỷ bởi vi sinh vật hiếu khí. Khi vi sinh vật sinh trưởng và
phát triển, bề dày lớp màng tăng lên, do đó oxy đã bị tiêu thụ trước khi khuếch tán
hết chiều dày lớp màng sinh vật. Như vậy, môi trường kỵ khí được hình thành ngay
sát bề mặt vật liệu lọc.
Khi chiều dày lớp màng tăng lên, quá trình đồng hoá chất hữu cơ xảy ra trước khi
chúng tiếp xúc với vi sinh vật gần bề mặt vật liệu liệu lọc, và bị rửa trôi.
Bể lọc sinh học có các loại sau:
Bể lọc sinh học có lớp vật liệu không ngập trong nước.
Bể lọc sinh học có lớp vật liệu ngập trong nước.
Bể lọc sinh học có lớp vật liệu là các hạt cố định.
Đĩa quay sinh học RBC.
II.2.3.4. Bể bùn hoạt tính:
SVTH : TRẦN PHÚ ĐIỀN
15
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S VÕ HỒNG THI
Là bể chứa hỗn hợp nước thải và bùn hoạt tính, khí được cấp liên tục vào bể để
trộn đều và giữ cho bùn ở tình trạng lơ lửng trong nước thải và cấp đủ oxi cho vi
Phương pháp hóa lý và hóa học có thể loại bỏ được các hạt nhỏ hơn mà phương
pháp cơ học không thể loại bỏ được, điều chỉnh giá trị pH của nước thải và khử
khuẩn nước sau xử lý để đảm bảo tiêu chuẩn đầu ra.
Nhìn chung, bản chất của quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học và
phương pháp hóa lý là quá trình chuyển chất thải từ dạng này sang dạng khác chứ
không xử lý triệt để. Cho nên nếu xử lý nước thải bằng phương pháp cơ hay phương
pháp hoá lý thì hiệu quả xử lý thấp mà chi phí cao. Do đó, xử lý nước thải bằng
phương pháp sinh học để xử lý các chất hữu cơ là phương pháp mang lại hiệu quả
cao và chi phí thấp.
Cho đến nay người ta đã xác định được rằng các vi sinh vật có thể phân huỷ được
tất cả các chất hữu cơ có trong thiên nhiên và nhiều hợp chất hữu cơ tổng hợp nhân
tạo. Mức độ phân huỷ và thời gian phân huỷ phụ thuộc vào cấu tạo các chất hữu cơ,
độ hoà tan trong nước và hàng loạt các yếu tố ảnh hưởng khác.
Vi sinh vật có trong nước thải sử dụng các hợp chất hữu cơ và một số chất khoáng
làm nguồn dinh dưỡng và tạo ra năng lượng. Quá trình dinh dưỡng làm cho chúng
sản sinh, phát triển, tăng số lượng tế bào, đồng thời làm sạch các chất hữu cơ hoà tan
hoặc các hạt keo phân tán nhỏ. Do vậy, trong xử lý sinh học, người ta phải loại bỏ
các tạp chất phân tán thô ra khỏi nước thải trong giai đoạn xử lý sơ bộ. Đối với các
tạp chất vô cơ có trong nước thải thì phương pháp xử lý sinh học có thể khử các chất
sulfite, muối amon, nitrate…các chất chưa bị oxi hoá hoàn toàn. Sản phẩm của quá
trình phân huỷ này là khí CO
2
, nước, khí N
2
, ion sulfat…
SVTH : TRẦN PHÚ ĐIỀN
17
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S VÕ HỒNG THI
CHƯƠNG III: TỒNG QUAN QUÁ TRÌNH SINH
sinh học hiếu khí.
Nếu nước thải chứa hàm lượng chất hữu cơ quá cao hoặc có chứa các chất
hữu cơ khó phân hủy (cellulose, hemixenlulose, protein, tinh bột chưa tan) thì
xử lý bằng phương pháp sinh học kị khí.
III.2. Các vi sinh vật tham gia vào quá trình xử lý nước thải:
Nước thải mới thường ít vi sinh vật, đặc biệt là nước thải công nghiệp đã qua
công đoạn xử lý nhiệt, có khi lúc đầu hầu như không có vi sinh vật. Nước thải trong
SVTH : TRẦN PHÚ ĐIỀN
19
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S VÕ HỒNG THI
hệ thống thoát nước sau một thời gian, dù rất ngắn cũng đủ điều kiện để vi sinh vật
thích nghi, sinh sản và phát triển tăng sinh khối (trừ những nước thải có chất độc,
chất ức chế hoặc diệt vi sinh vật, như các loại nước thải có hàm lượng các kim loại
nặng, các chất hữu cơ và vô cơ có tính độc,…). Sau một thời gian sinh trưởng, chúng
tạo thành quần thể vi sinh vật có ở trong nước, đồng thời kéo theo sự phát triển của
các giới thủy sinh.
Quần thể vi sinh vật ở các loại nước thải là không giống nhau. Mỗi loại nước thải
có hệ vi sinh vật thích ứng. Song, nói chung vi sinh vật trong nước thải đều là vi sinh
vật hoại sinh và dị dưỡng. Chúng không thể tổng hợp được các chất hữu cơ làm vật
liệu tạo tế bào mới, trong môi trường sống của chúng cần phải có mặt các chất hữu
cơ để chúng phân hủy, chuyển hóa thành vật liệu để xây dựng tế bào, đồng thời
chúng cũng phân hủy các hợp chất nhiễm bẩn nước đến sản phẩm cuối cùng là CO
2
và H
2
O hoặc tạo thành các loại khí khác (CH
4
, H
2
S, indol, mecaptan, scatol, N
phân hủy chất hữu cơ như: vi khuẩn, vi nấm, virus, tảo, nguyên sinh động vật,…
Trong số đó vi khuẩn đóng vai trò chủ yếu của quá trình phân hủy các chất hữu cơ,
cùng với các khoáng chất khác dùng làm vật liệu xây dựng tế bào, đồng thời làm
sạch nước thải.
III.2.1. Vi khuẩn:
Các vi khuẩn được phân thành 3 nhóm chính dựa vào hình dạng tự nhiên hay
trạng thái tồn tại của chúng. Dạng đơn giản nhất là vi khuẩn hình cầu, dạng thứ hai là
các vi khuẩn hình que, dạng cuối cùng là các vi khuẩn hình xoắn hoặc cong. Đại đa
số vi khuẩn đóng vai trò quan trọng trong việc phân hủy chất hữu cơ, biến chất hữu
cơ thành chất ổn định tạo thành bong cặn dễ lắng.
Vi khuẩn ký sinh là vi khuẩn sống bám vào vật chủ, thức ăn của nó là thức ăn đã
được vật chủ đồng hóa, chúng thường sống trong ruột của người và động vật, đi vào
nước thải theo phân và nước tiểu.
Vi khuẩn hoại sinh dung chất hữu cơ không hoạt động làm thức ăn, nó phân hủy
cặn chất hữu cơ làm chất dinh dưỡng để sống và sinh sản, và thải ra các chất gồm
cặn hữu cơ có cấu tạo đơn giản và cặn vô cơ. Bằng quá trình hoạt động như vậy, vi
khuẩn hoại sinh đống vai trò cực kỳ quan trọng trong việc làm sạch nước thải. Nếu
không cò hoạt động sống và sinh sản của vi khuẩn, quá trình phân hủy sẽ không xảy
ra. Có rất nhiều loài vi khuẩn hoại sinh, mỗi loài đóng một vai trò đặc biệt trong mỗi
công đoạn của quá trình phân hủy hoàn toàn cặn hữu cơ có trong nước thải và mỗi
loài sẽ tự chết khi hoàn thành quy trình sống và sinh sản ở giai đoạn đó.
Tất cả các vi khuẩn ký sinh và hoại sinh cần có thức ăn và oxy để đồng hóa. Một
số loài trong số vi khuẩn này chỉ có thể hô hấp bằng oxy hòa tan trong nước gọi là vi
khuẩn hiếu khí, còn quá trình phân hủy chất hữu cơ của chúng gọi là quá trình hiếu
SVTH : TRẦN PHÚ ĐIỀN
21
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S VÕ HỒNG THI
khí hay quá trình oxy hóa. Một số loài khác trong số các vi khuẩn này không thể tồn
tại được khi có oxy hòa tan trong nước. Những vi khuẩn này gọi là vi khuẩn kỵ khí
và quá trình phân hủy gọi là quá trình kỵ khí, quá trình này tạo ra các chất có mùi
tranh với các chất nhường điện tử, kết quả là tạo ra sản phẩm sunfat. Điều này không
SVTH : TRẦN PHÚ ĐIỀN
22
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S VÕ HỒNG THI
những ảnh hưởng đến sản lượng khí metan tạo thành, mà còn tạo các sản phẩm
không có lợi cho quá trình vận hành hệ thống.
III.2.2. Vi nấm:
Có cấu tạo cơ thể đa bào, sống hiếu khí, không quang hợp và là loài hóa dị dưỡng.
Chúng lấy dưỡng chất từ các chất hữu cơ trong nước thải. Cùng với vi khuẩn, nấm
chịu trách nhiệm phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải. Về mặt sinh thái học
nấm có hai ưu điểm so với vi khuẩn: nấm có thể phát triển trong điều kiện ẩm độ
thấp và pH thấp. Không có sự hiện diện của nấm, chu trình carbon sẽ chậm lại và các
chất thải hữu cơ sẽ tích tụ trong môi trường.
• Nấm men:
Nấm men thuộc cơ thể đơn bào, có hình dạng khác nhau và hầu như không ổn
định. Thường chúng có hình cầu, hình elip, hình bầu dục và cả hình dài. Tế bào nấm
men thường có kích thước lớn gấp từ 5 – 10 lần tế bào vi khuẩn. Kích thước trung
bình của nấm men có chiều dài 9 – 10µm, chiều rộng 2 - 7µm. Chúng có thể lên men
một số đường thành rượu, axit hữu cơ, glycerin và phát triển tăng sinh khối trong
điều kiện kỵ khí.
• Nấm mốc (nấm sợi).
Nấm mốc có khả năng phân hủy các chất hữu cơ khó phân hủy như xenlulozo,
hemixnlulozo và lignin. Chúng phân bố rộng rãi trong tự nhiên, không phải là loài
thuộc thực vật, cũng không phải là động vật và hoàn toàn khác vi khuẩn và nấm men.
Mặc dù nấm có thể sử dụng các vật chất hữu cơ tan trong mối quan hệ cạnh tranh
với các vi khuẩn, nhưng chúng dường như không cạnh tranh tốt trong quá trình sinh
trưởng lơ lửng hay ở điều kiện bám dính, trong môi trường bình thường, vì vậy
không tạo thành sự cân đối trong hệ thống vi trùng học. Nói cách khác, khi cung cấp
không đủ oxy và nitơ, hoặc khi pH quá thấp, nấm có thể sinh sản nhanh, gây ra các
vấn đề ảnh hưởng tương tự như vi khuẩn dạng sợi.
sản hữu tính.
Mặc dù tảo không phải là sinh vật gây hại, nhưng chúng có thể gây ra một số vấn
đề trong quá trình xử lý nước thải. Tảo phát triển làm cho nước có màu sắc, thực chất
là những màu sắc của tảo.
Tảo xanh Aphanizomenon blosaquae, Alabaena microcistic,…làm cho nước
có màu xanh lam.
Tảo Oscilatoria rubecent làm cho nước có màu hồng.
SVTH : TRẦN PHÚ ĐIỀN
24
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S VÕ HỒNG THI
Khuê tảo (Melosira, Navicula) làm cho nước có màu vàng nâu, Chrisophit làm
cho nước có màu vàng nhạt.
Tảo phát triển làm cho nước có nhiều mùi có chịu như mùi cỏ, mùi thối,…
III.2.5. Nguyên sinh động vật (Protozoa):
Động vật nguyên sinh cũng góp phần quan trọng trong quá trình xử lý nước thải,
là một tổ chức lớn nằm trong nhóm eukaryotic với hơn 50.000 loài đã được biết đến.
Thật ra, động vật nguyên sinh là các sinh vật đơn bào nhưng cấu trúc tế bào phức tạp
hơn, lớn hơn các vi khuẩn. Kích thước các động vật nguyên sinh thay đổi trong
khoảng từ 4 – 500mm, chúng sống trôi nổi trên mặt nước, hầu hết sống hiếu khí hoặc
yếm khí không bắt buộc chỉ có một số loài sống yếm khí. Các nguyên sinh động vật
quan trọng trong xử lý nước thải bao gồm các chi Amoeba, Flagellate, và Viliate.
Các nhóm chính được phân chia dựa vào phương thức vận động của chúng. Dạng thứ
nhất là mastigophora, là các động vật nguyên sinh có nhiều roi – flagella. Dạng thứ
hai là ciliophora, có rôi ngắn hơn hay còn gọi là long mao – cilia. Dạng thứ ba là
Sarcodina, có kiểu chuyển động như amip.
Các động vật nguyên sinh ăn chất hữu cơ để sống và thức ăn ưa thích của chúng
là các vi khuẩn do đó nó đóng vai trò rất quan trọng trong việc cân bằng hệ vi sinh
vật trong các công trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học. Các yếu tố như:
chất độc, pH, nhiệt độ đều ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của chúng.
Các động vật nguyên sinh có thể coi là chất chỉ thị của nước thải, vì sự xuất hiện