Bước đầu xây dựng cơ sở dữ liệu, phần mền phân loại và tra cứu thuốc, phục vụ công tác quản lý dược - Pdf 30

m
BỘ YTẾ
TRUỜNG ĐAI HOC DUOC HÀ NỒI
Trịnh Thuc Anh
BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG cơ sở DỮ LIỆU, PHẦN MỀM PHÂN LOẠI
VÀ TRA cúu THUỐC, PHỤC vụ CONG TÁC QUẢN LÝ Dược
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩ KHÓA 1998-2003)
Người hướng dẫn : TS. LÊ VIẾT HÙNG
ThS. NGUYỄN TUẤN ANH
Nơi thực hiện : BỘ MÔN QUẢN LÝ VÀ KINH TẾ Dược
Thời gian thực hiện: 03 - 05/2003
Hà Nội 5/2003
m
N 2 U ,< Ì
Lời cảm ơn
Sau quá trình tiến hành nghiên cứu và thực hiện, đến này khoá
luận đã được hoàn thành. Tôi xỉn bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
PGS. TS. Lê Viết Hùng, phó chủ nhiệm Bộ môn Quản lỷ và Kinh tế
Dược, Đại học Dược Hà Nội.
ThS. Nguyễn Tuấn Anh, giảng viên bộ môn Quản lỷ và Kinh tế
Dược, Đại học Dược Hà Nội.
là những người thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và chu đảo
cho tỏi trong quả trình thực hiện khoá luận.
Kỹ sư Phan Thái Trung, người bạn đã giúp đỡ và hỗ trợ tôi rất
nhiều để thực hiện đề tài.
Các thầy cô giảo bộ môn Quản lỷ và Kinh tế Dược, trường Đại
học Dược Hà Nội.
Tôi xin gửi tặng khóa luận này tới bộ môn Quản lý và Kinh tế
Dược, các thầy cồ giáo trường Đại học Dược Hà Nội, những người tôi
vô cùng kính trọng.
tới bổ mẹ, chị Chỉ và anh Trung, những người đã dành cho tôi

2.3. Công tác quản lý thuốc độc, gây nghiện, hướng tâm thần trên thế
giới và Việt N am 14
3. Vài nét về chương trình CSDL thuốc 15
PHẦN 2 - PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
1. Phương tiện nghiên cứu và công nghệ ứng dụng 20
1.1. Phương tiện nghiên cứu
20
1.2. Công nghệ ứng dụng 20
2. Phương pháp nghiên cứu 21
PHẦN 3 - THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ
1. Giới thiệu về chương trình 23
2. Các bước xây dựng chương trình 24
2.1. Dịch nội dung hệ thống ATC/DDD 24
2.2. Tra cứu, phân loại thuốc quản lý đặc biệt 25
2.3. Xây dựng cơ sở dữ liệu 26
2.4. Thiết lập thuật toán xây dựng chương trình
30
3. Hướng dẫn sử dụng chương trình 30
3.1. Hướng dẫn cài đặt 30
3.2. Hướng dẫn sử dụng chương trình 32
3.3. Tham chiếu 44
3.4. Kết quả minh hoạ

.
49
PHẦN 4 - KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận
.
52
1.1. Xây dựng hệ thống CSDL 52

vực dược, giảm bớt gánh nặng cho công tác phân loại, quản lý thuốc là rất cần
thiết.
1
Trước tình hình đó, ngành Dược Việt Nam cần phải xây dựng một hệ
thống cơ sở dữ liệu (CSDL) thuốc phục vụ cho công tác quản lý, hệ thống này
phải được tổ chức trên cơ sở của: hệ thống phân loại ATC/DDD và các quy
chế quản lý thuốc đặc biệt. Thực tế đã có một vài nghiên cứu bước đầu xây
dựng hệ thống CSDL theo mục đích trên, và đã đạt được những bước khai phá
rất thành công, tuy nhiên sản phẩm chưa thể đưa vào ứng dụng trong thực tế
bởi thiếu tính đồng bộ. Từ những phân tích trên, khóa luận “Bước đầu xây
dựng cơ sở dữ liệu, phần mềm phân loại và tra cứu thuốc, phục vụ công
tác quản lý dược” được thực hiện với những mục tiêu sau:
Bước đầu xây dựng cơ sở dữ liệu về các thuốc và biệt dược,
dựa trên hệ thống phân loại ATC 2003 của WHO và quy chế quản lỷ các
TGN, THTT, TĐ do Bộ Ytế ban hành.
Bước đầu xây dựng phần mềm phân loại và tra cứu thuốc (viết
tắt là “VNpharmacy”), phục vụ cho công tác quản lý và sử dụng thuốc.
2
Phần 1:
TỔNG QUAN
1/ HỆ THỐNG PHÂN LOẠI ATC/DDD:
1.1 LỊCH SỬ HỆ THÓNG PHÂN LOẠI ATC/DDD:
Ke từ khi ra đời vào những năm 1960, lĩnh vực nghiên cứu sử dụng
thuốc đã thu hút được sự quan tâm của cộng đồng thế giới. Kết quả nghiên
cứu trong thời gian 1966-1967 của Tổ chức Y Tế thế giới tại Châu Âu cho
thấy có sự khác biệt rất lớn trong vấn đề sử dụng thuốc giữa các nhóm dân cư
ở 6 nước Châu Âu. Năm 1969,* hội nghị chuyên đề về “Sự tiêu dùng thuốc” đã
được tổ chức tại Oslo. Hội nghị đã thống nhất cần phải có một hệ thống phân
loại thuốc sử dụng cho các nghiên cứu về tiêu dùng thuốc và để áp dụng trên
toàn thế giới. Cũng tại hội nghị này, nhóm Nghiên cứu sử dụng thuốc

thống phân loại ATC/DDD. Cũng trong năm đó, nhóm công tác quốc tế về
phương pháp thống kê thuốc của WHO đã được thành lập, với nhiệm vụ tư
vấn chuyên môn về hệ thống ATC/DDD cho WCCDSM. [8] Hàng năm,
nhóm công tác quốc tế này tổ chức các khóa đào tạo quốc tế về hệ thống
ATC, và cuộc họp thường niên để xem xét các đề nghị thay đổi và duyệt lại
hệ thống ATC và liều DDD nếu thấy cần thiết. Đầu năm 2003, khóa tập huấn
quốc tế về ATC/DDD đã diễn ra vào ngày 7, 8 tháng 4 tại Ecuado, và 26, 27
tháng 5 tại trụ sở của Nhóm công tác của WHO. Cuộc họp thường niên của
năm 2003 sẽ được tổ chức vào 2 ngày 16,17 tháng 11 tại Olso, Nauy. [13]
4
1.2 MỤC ĐÍCH CỦA HỆ THÓNG ATC/DDD: [1]
Mục đích của hệ thống phân loại ATC/DDD là cung cấp một công cụ
cho các nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc, nhằm cải thiện chất lượng của
việc sử dụng thuốc. Nó được WHO coi là một tiêu chuẩn quốc tế cho các
nghiên cứu về lĩnh vực này. Ngoài ra còn là để trình bày và so sánh các số
liệu thống kê về việc tiêu thụ thuốc ở mức độ quốc tế và các mức độ khác.
DDD là một đon vị đo lường kỹ thuật về sử dụng thuốc, có ý nghĩa để
theo dõi, giám sát đánh giá về tình hình tiêu thụ thuốc và sử dụng hợp lý hay
không, nó không phản ánh liều dùng thực tế.
Sự phân loại một chất trong hệ thống ATC/DDD không phải là một
khuyến cáo sử dụng thuốc, cũng không nhằm đánh giá chất lượng của một
thuốc hay một nhóm thuốc.
1.3 CẤU TRÚC VÀ DANH PHÁP:
Danh pháp:
Tên hoạt chất dùng trong hệ thông phân loại ATC được ghi theo tên
quốc tế (INN). Nếu không có tên quốc tế thì chọn theo tên được chấp nhận ở
Mỹ (United States Approved Name) hoặc tên được chấp nhận ở Anh (British
Approved Name).
Cẩu trúc:
Hệ thống phân loại ATC được xây dựng dựa trên cơ sở ba yếu tố:

Bậc 3: N.06.B chỉ nhóm tác dụng dược lý cụ thể: các thuốc chống loạn
thần và thuốc tăng trí nhớ.
Bậc 4: N.06.B.C chỉ nhóm chức hóa học có liên quan đến tác dụng: các
dẫn chất của Xanthine
Bậc 5: N.06.B.C.01 để chỉ đích danh tên hoạt chất là Caffein.
1.4 NGUYÊN TẮC PHÂN LOẠI:
1.4.1 Nguyên tắc chung:
■ xếp theo tác dụng điều trị chủ yếu để mỗi thuốc có ít nhất một mã
số xếp loại. Nhưng thuốc cũng có thể có nhiều mã phân loại nếu có
các tác dụng điều trị khác hẳn nhau một cách rõ rệt.
6
■ Thuốc có nhiều chỉ định điều trị chủ yếu hoặc được dùng để điều trị
các bệnh khác nhau ở một số nước, thì cũng xếp một mã và chú
thích thêm ở mục tra cứu.
■ Mã đề nghị cho một thuốc mới phải do hội đồng của WHO thông
qua và ban hành. Thay đổi mã thuốc cũng phải theo trình tự như
vậy.
■ Tên thuốc trong phân loại ATC phải theo danh pháp INN
1.4.2 Phân loại chế phẩm: [1]
Chế phẩm đơn thành phần là c hế phẩm chỉ chứa một loại hoạt chất
chính (kể cả hỗn họp đồng phân lập thể), có thể có thêm thành phần khác có
tác dụng phụ trợ.
Ví dụ:
■ Kháng sinh + chất gây tê nơi tiêm.
■ Aspirin + NaHCƠ3 Giảm kính ứng niêm mạc đường tiêu hoá.
■ Hoạt chất chính + tác nhân làm bền vững chế phẩm.
Các chế phẩm hỗn hợp là chế phẩm có chứa 2 hay nhiều hoạt chất
chính được xếp loại theo nguyên tắc sau:
■ Hai hay nhiều thành phần hoạt chất thuộc cùng nhóm tác dụng điều
trị hỗn hợp thì được xếp thứ 20 hoặc 30 ở bậc phân loại thứ 5. Ví

thuốc đã được xếp loại theo mã ATC.
Một số thuốc không thể dùng DDD để theo dõi như: Dịch truyền,
vaccin, thuốc gây mê, thuốc ngoài da, thuốc cản quang
Đơn vị: Với chế phẩm đơn: g, mg, mcg, mmol E (đon vị), TE (nghìn
đơn vị), ME (triệu đơn vị) Với chế phẩm hỗn hợp: tính theo đơn vị liều ED
( viện đạn, gói bột uống )
8
1.6 VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG HỆ THÓNG
ATC/DDD TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM:

Phát huy đúng chức năng của hệ thống phân loại ATC, hiện nay trên
thế giới đã có nhiều nước tiên tiến sử dụng hệ thống này trong lĩnh vực quản
lý và nghiên cứu sử dụng thuốc.
Theo đánh giá, tại các nước Bắc Ầu và nhiều nước khác thuộc Đông
Ầu, hệ thống ATC/DDD đã được coi như một chuẩn quốc gia, được sử dụng
rộng rãi bởi các nhà sản xuất, nhà phân phối sản phẩm, nhà thuốc, và là một
chuẩn để nhận biết mỗi một hoạt chất.
Hệ thống ATC/DDD cũng được Hiệp hội nghiên cứu thị trường Dược
châu Ầu EPhMRA sử dụng trong các tài liệu chuyên môn chi tiết. Tại Thuỵ
Điển, Netherlands, các cơ quan của WHO đang sử dụng và hỗ trợ hệ thống
này. [11]
Tại Pháp, một trong những nước có ngành Dược phát triển hàng đầu
thế giới, Trung tâm thông tin quốc gia về thuốc (CNHIM) đưa hệ thống phân
loại ATC/DDD như một phương pháp chính thức để tìm kiếm, phân loại
thuốc. Cơ quan nghiên cứu kinh tế Y học, Trung tâm bảo vệ các sản phẩm y
tế Pháp cũng sử dụng hệ thống ATC để phân tích đánh giá tình hình tiêu thụ
thuốc tại các bệnh viện và hiệu thuốc. [12] Cụ thể: để khảo sát đánh giá tình
hình tiêu thụ thuốc từ năm 1998 đến năm 2000, người ta đã tiến hành đánh giá
những loại thuốc nào có xu hướng bán chạy, loại thuốc nào có sức bán giảm,
phân tích tìm hiểu nguyên nhân nó để từ đó có phương án tác động quản lý

ATC/DDD vào hệ thống bài giảng cho sinh viên của bộ môn Quản lý và Kinh
tế dược, trường ĐH Dược HN (2002), đề tài khoa học của nhóm dược sĩ
Phạm Vũ Khiêm (3/2002) Với cùng một mong muốn trên, hy vọng sau khi
được hoàn thiện hon nữa, sản phẩm của khóa luận này cũng sẽ góp một phần
nhỏ bé làm thành cầu nối giúp ngành Dược Việt Nam hội nhập nhanh hơn với
Thế giới.
2/ CÁC THUÓC CÓ YÊU CAU QUÀN LÝ ĐẶC BIỆT:
2.1 CÁC THUẬT NGỮ, KHÁI NIỆM:
• 7 •
■ Thuốc độc: là những thuốc có nguồn gốc tự nhiên, tổng hợp, hay bán
tổng hợp được sử dụng với mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, có độc
tính cao có thể gây nguy hiểm tới sức khoẻ và tính mạng người bệnh.
[2]
■ Thuốc gây nghiện: là những thuốc có nguồn gốc tự nhiên, tổng hợp,
hay bán tổng hợp được sử dụng với mục đích phòng bệnh, chữa bệnh.
Thuốc gây nghiện, nếu bị lạm dụng có thể dẫn tới nghiện - một tình
trạng phụ thuộc về thể chất hay tâm thần. [3]
■ Thuốc hướng tâm thần: là những thuốc có nguồn gốc tự nhiên, tổng
hợp hay bán tổng hợp có tác dụng trên thần kinh trung ương gây nên
11
tình trạng kích thích hoặc ức chế được sử dụng với mục đích phòng
bệnh, chữa bệnh. Thuốc hướng tâm thần, nếu sử dụng không hợp lý có
thể gây nên rối loạn chức năng vận động tư duy, hành vi, nhận thức
hoặc gây ảo giác hoặc có khả năng lệ thuộc thuốc. [4]
■ Tiền chất dùng làm thuốc: là chất được sử dụng làm thuốc, có thể
được dùng để tổng hợp, bán tổng hợp ra các chất hướng tâm thần, chất
gây nghiện. [4]
2.2 CÁC QUY CHẾ QUẢN LÝ THUỐC ĐỘC, GÂY NGHIỆN,
HƯỚNG TÂM THẦN:
2.2.1 Quy chế quản lý thuốc độc: [2]

định trong Danh mục thuốc gây nghiện ở dạng phối hợp, được miễn
quản lý theo quy chế này, trừ trường hợp xuất nhập khẩu.
2.2.3 Quy chế quản lý thuốc hướng tâm thần: [4]
Do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3047/2001/QĐ-BYT
ngày 12 tháng 7 năm 2001. Song song với việc ban hành Quy chế, Bộ Y tế
cũng ban hành Danh mục thuốc hướng tâm thần, tiền chất dùng làm thuốc và
Danh mục thuốc hưởng tâm thần, tiền chất ở dạng phổi hợp.
Đối tượng áp dụng của quy chế: thuốc hướng tâm thần quy định tại
Danh mục thuốc hướng tâm thần, và tiền chất dùng làm thuốc quy định tại
Danh mục tiền chất.
Các thuốc được miễn quản lý gồm:
• Thuốc thành phẩm nhỏ mũi có chứa tiền chất dùng làm thuốc.
• Thuốc thành phẩm mà công thức gồm nhiều hoạt chất trong đó
thuốc hướng tâm thần, tiền chất dùng làm thuốc tham gia với hàm
lượng nhỏ hơn hoặc bằng hàm lượng quy định tại Danh mục thuốc
13
hướng tâm thần ở dạng phối hợp và Danh mục tiền chất ở dạng
phổi hợp, trừ trường hợp xuất nhập khẩu.
2.3 CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUÓC ĐỘC, GÂY NGHIỆN, HƯỚNG
TÂM THẦN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM.
Hiện nay, trên thế giới và trong nước, việc lạm dụng chất gây nghiện,
chất hướng tâm thần ngày c àng n ghiêm ứọng. Nhằm quản lý sử dụng các
TGN, THTT có hiệu quả, hợp lý và an toàn, năm 1971 Liên Hiệp Quốc đã
thông qua Công ước quốc tế về chất hướng tâm thần, được thực thi từ
16/8/1976 trong đó có quy định các vấn đề sử dụng các THTT và gây nghiện.
Kèm theo Công ước, LHQ ban hành danh mục các chất thuộc vào tầm kiểm
soát của Công ước, được xếp vào 4 bảng tùy theo mức độ nguy hiểm của sự
lạm dụng và thường xuyên được xem xét, bổ sung, sửa chữa qua các năm. [6]
Ở khu vực Đông Nam Á, Thái Lan là một trong số các nước trên thế giới
đã tham gia rất sớm vào công ước này (năm 1974). Năm 1975 nước này đã

này, và gần đây nhất là đề tài khoá luận tốt nghiệp của dược sĩ Phạm Vũ Khiêm
(3/2002): “Thiết kế và xây dựng CSDL quản lý các thuốc gây nghiện, thuốc
độc, thuốc hướng tâm thần”, chương trình được đặt tên là “Cơ sở dữ liệu
thuốc”. Là những người đi trước và “khai phá” trong việc xây dựng chương
trình phân loại thuốc trên máy tính, nhóm xây dựng chương trình đã mở ra một
ý tưởng mới rất sáng tạo và thực tế về lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin
vào ngành Dược, mở ra những hướng đi khả quan và là tài liệu rất đáng tham
khảo cho những người tiếp tục thực hiện, về thành quả thực nghiệm, tác giả đã
rất thành công trong việc xây dựng và chứng minh thuật toán, đem lại những
kết quả khả quan là:
15
• Xây dựng cấu trúc danh mục thuốc có yêu cầu quản lý đặc biệt, cấu
trúc phân loại ATC và các Hoạt chất.
• Thiết lập mô hình dữ liệu Biệt dược phục vụ cho quản lý đặc biệt.
Tuy nhiên, vì thời gian thực hiện chưa cho phép, chương trình chưa thể
đưa vào thực tiễn phục vụ người dùng, vì như chính tác giả đã viết “chương
trình nhằm mục đích chứng minh thuật toán nhiều hơn là quan tâm đến người
dùng” [7], do vậy còn thiếu tính đồng bộ. Căn cứ vào những bàn luận và đề
xuất của tác giả, cùng với sự tham khảo trong quá trình tiến hành thực nghiệm,
nhóm thực hiện khoá luận này xin được đưa ra những nguyên nhân đó là:
• Chương trình “Cơ sở dữ liệu thuốc” chưa có CSDL biệt dược đầy đủ để
sử dụng.
Để có thể xem xét một thuốc thành phẩm có nằm trong diện thuốc có yêu
cầu quản lý đặc biệt hay không, hoặc tra mã ATC của nó, trước tiên người
thực hiện sẽ phải tra cứu xem trong thuốc đó chứa những hoạt chất nào, rồi
mới tiến hành phân loại diện quản lý trong các quy chế quản lý. Khi các thông
tin về thuốc được lưu trữ rải rác ở nhiều tài liệu như hiện nay, công việc này
(ưa cứu hoạt chất trong biệt dược) làm mất nhiều thời gian và công sức cho
người làm công tác nghiên cứu, nhất là khi phải tra cứu một số lượng lớn
thuốc. Do vậy việc xây dựng CSDL các biệt dược đã và đang được lưu hành

hoạt chất và tên thuốc theo nguyên bản (tiếng Anh) và các thứ tiếng khác
(tiếng Pháp )
Trong số thuốc đang lưu hành trên thị trường cả nước hiện nay, các thuốc
nhập khẩu chiếm tỷ lệ khá lớn, 41% tính đến hết ngày 31/12/2003. Do vậy
đây sẽ là hạn chế không nhỏ, hơn nữa nếu có tính năng tra cứu đa ngôn ngữ
trên, chương trĩnh cònm ở rộng được đối tượng sử dụng, cho phép những
người có khả năng chuyên môn và ngoại ngữ hoặc người nước ngoài hoạt
động trong lĩnh vực dược tại Việt Nam có thể dùng trực tiếp nội dung
ATC/DDD nguyên gốc, kiểm chứng lại thông tin Việt hóa do chương trình
cung cấp, qua đó góp phần hoàn thiện CSDL tiếng Việt.
Từ những phân tích trên, khoá luận xin đưa ra những giải pháp sau:
Giải pháp chuyên môn:
• Xây dựng CSDL biệt dược đang lưu hành trên thị trường dựa trên tài liệu
do Cục Quản lý Dược Việt Nam cung cấp.
• Xây dựng CSDL các biệt dược cần quản lý đặc biệt dựa trên các quy chế
về TĐ, TGN, THTT của Bộ Y tế.
• Dịch sang tiếng Việt 188 bậc và mã ATC mới hoặc thay đổi so với
phiên bản 2000, đường dùng và liều DDD cho tất cả các hoạt chất từ sự tổng
hợp dữ liệu tiếng Anh và tiếng Pháp.
• Đe đảm bảo tính chính xác và cập nhật cho kết quả tra cứu ATC: Xây
dựng CSDL hệ thống ATC/DDD năm 2003, bản tiếng Việt được dịch từ tài
liệu “ATC/DDD index 2003” của Tổ chức Y tế Thế Giới ( www.who.int và
www.whocc.no ), tham khảo thêm bản dữ liệu tiếng Pháp của Trung tâm
thông tin Quốc gia về Dược Cộng hoà Pháp (CNHIM) www.cnhim.ors, đồng
thời vẫn sử dụng nguyên bản bằng 2 thứ tiếng trên. Những phần dữ liệu ATC
đã được dịch trong kết quả của khoá luận trước sẽ được kiểm tra lại và sử
dụng nhằm tạo được một CSDL thuật ngữ tiếng Việt của chương trình mới
có độ chính xác cao nhất.
18
Giải pháp kỹ thuât công nghệ thông tin:

Visual Basic phiên bản 6.0.
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status