Tài liệu Luận văn Giải pháp mở rộng nguồn vốn tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Phương lâm - Pdf 10

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Luận văn
Giải pháp mở rộng nguồn
vốn tại Chi nhánh Ngân
hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Phương
lâm
1
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Lời mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trước mắt và lâu
dài, Đảng ta đã chỉ rõ: hệ thống tài chính quốc gia phải hướng vào việc tạo vốn
và sử dụng vốn có hiệu quả trong toàn xã hội, tăng nhanh sản phẩm xã hội và
thu nhập quốc dân, điều tiết quan hệ tích luỹ. Thực hiện đường lối đó, Ban lãnh
đạo Ngân hành Nhà nước Việt Nam đã đề ra 4 định hướng lớn, mà một trong
bốn định hướng là tăng cường huy động vốn của toàn dân nhằm đáp ứng vốn
cho đầu tư phát triển đất nước, đặc biệt thu hút vốn trung và dài hạn; Tranh thủ
các nguồn vốn vay của các tổ chức và Ngân hàng quốc tế; Triển khai nhanh và
có hiệu quả các dự án do Ngân hàng thế giới tài trợ, thực hiện phương châm
“Nguồn vốn trong nước là quyết định, nguồn vốn nước ngoài là quan trọng”.
Trong bối cảnh đó, hoạt động huy động và sử dụng vốn của các Ngân
hàng Thương mại quốc doanh đã đóng vai trò chủ đạo và đạt đuợc nhiều thành
công. Vốn do các NHTM cung cấp cho nhu cầu phát triển kinh tế đã được cải
thiện cả về quy mô, cơ cấu, hình thức và biện pháp huy động. Song đứng trước
nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu phát triển kinh tế theo hướng CNH-
HĐH có thể nói công tác huy động vốn của các NHTM vẫn còn nhiều bất cập,
chưa thực sự đáp ứng nhu cầu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và cải thiện
đời sống xã hội.
Chi nhánh NHNo&PTNT Phương Lâm là một chi nhánh cấp 2 trực
thuộc của NHNo&PTNT Tỉnh Hòa Bình. Hoạt động tại một tỉnh miền núi

triển kinh tế điạ phương
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu : Những nội dung chủ yếu của nghiệp vụ huy
động vốn của NHTM.
3
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Khoá luận tập trung nghiên cứu nghiệp
vụ huy động vốn tại chi nhánh NHNo&PTNT Phương Lâm, thời điểm từ năm
2003 đến năm 2006.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở bài viết em sử dụng kết hợp các phương pháp thích hợp
như: phương pháp duy vật biện chứng lịch sử, phân tích tổng hợp, phân
tích tác nghiệp, so sánh, đối chiếu, kết hợp với thực tiễn qua đó rót ra
những tồn tại thiếu sót cần khắc phục và hoàn thiện hơn nữa công tác huy
động vốn tại chi nhánh NHNo&PTNT Phương Lâm.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về vốn và công tác mở rộng nguồn
vốn của NHTM trong nền kinh tế thị trường.
Chương 2: Thực trạng về công tác huy động nguồn vốn tại chi
nhánh NHNo&PTNT Phương Lâm.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng khả năng huy
động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Phương Lâm.
Kết quả nghiên cứu còn nhiều hạn chế do thời gian và khả năng kiến
thức của bản thân em còn có hạn. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của các thầy, cô giáo và các đồng nghiệp quan tâm đến vấn đề này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo tại Học viện Ngân hàng,
các bạn bè đồng nghiệp, đặc biệt là thầy giáo Thạc sĩ Bùi Anh Tuấn đã giúp
đỡ em hoàn thành bản khoá luận này.

5
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
vốn cho sản xuất kinh doanh. Ngân hàng thương mại đứng ra huy động các
nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời được giải pháp ra từ quá trình sản xuất và lưu
thông, vốn từ nguồn tiết kiệm của các cá nhân trong xã hội. Bằng nguồn
vốn huy động được, các Ngân hàng thương mại cung cấp vốn cho mọi hoạt
động kinh tế đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản
xuất. Như vậy nhờ có hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại, các
doanh nghiệp mới có điều kiện mở rộng phạm vi sản xuất, công nghệ, tăng
năng suất lao động và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh
nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế như quy luật giá
trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh Để đáp ứng tốt nhất các yêu
cầu của thị trường, các doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lượng lao
động, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp. Thông qua hoạt động
tín dụng, Ngân hàng đáp ứng vốn cho doanh nghiệp trong việc nâng cao
chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, tạo cho doanh
nghiệp có chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.
Ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian thanh toán cho
các tổ chức kinh tế, cá nhân trong xã hội.
Tổ chức công tác thanh toán trong nền kinh tế quốc dân, sử dụng các
phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt góp phần tăng nhanh tốc độ
chu chuyển vốn trong nền kinh tế.
Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền
kinh tế.
Ngân hàng thương mại hoạt động hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh
doanh của mình sưc thực sự là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán, các Ngân hàng thương mại đã góp phần
mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông, thông qua việc cấp các khoản

(luận văn sẽ đi sâu phân tích nghiệp vụ này).
b) Nghiệp vụ sử dụng vốn:
Bao gồm các nghiệp vụ chủ yếu:
- Nghiệp vụ dự trữ tiền mặt: Nhằm duy trì khả năng thanh khoản của ngân
hàng, đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán thường xuyên của khách hàng. Mức
7
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
dự trữ cao hoặc thấp phụ thuộc vào quy mô hoạt động, vào cơ cấu và tính chất
nguồn vốn của NHTM. Các khoản dự trữ của NHTM không sinh lời.
- Nghiệp vụ đầu tư: Đầu tư chứng khoán; Đầu tư vốn thành lập công ty
con, tham gia liên doanh
- Nghiệp vụ cho vay: Cho vay là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của các
NHTM Việt Nam. NHTM sử dụng phần lớn số tiền huy động được để cho vay
đối với nền kinh tế. Đây là hoạt động kinh doanh tạo ra thu nhập để bù đắp các
loại chi phí trong hoạt động ngân hàng và thu lợi nhuận.
c) Cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác (dịch vụ thanh toán, đại lý,
tư vấn…): quan điểm truyền thống cho rằng thu nhập của ngân hàng đều
bắt nguồn từ hoạt động cho vay và đầu tư, nhưng thực tế hiện nay thu nhập
từ hoạt động quản lý các khoản mục nguồn vốn cũng đóng một vai trò quan
trọng như thu nhập từ các khoản mục tài sản trong việc đạt được mục tiêu
lợi nhuận của ngân hàng.
Các mặt hoạt động nghiệp vụ của NHTM có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ
và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Chỉ huy động được vốn thì mới có nguồn vốn
để cho vay và đầu tư. Ngược lại, việc sử dụng vốn cho vay có hiệu quả sẽ giúp
cho nền kinh tế phát triển, là cơ sở tạo ra nguồn vốn dồi dào để huy động vào
ngân hàng. Mặt khác muốn cho vay và huy động vốn tốt thì ngân hàng phải làm
tốt các dịch vụ trung gian của mình.
NHTM nhận tiền gửi hoặc phát hành các công cụ nợ dể huy động
vốn, sử dụng vốn này để cho vay với một lãi suất và kỳ hạn Ên định. Sau
một thời gian nhất định, người vay phải trả cho ngân hàng vốn và một số

mà người chủ sở hữu để thực hiện các mục đích khác nhau gửi vào ngân
hàng. Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại
vốn dưới hình thức tiền tệ, tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ
kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Đồng thời chính các hoạt động đó
lại quyết định đến sự tồn tại và phát triển kinh doanh của Ngân hàng. Nhìn
chung, vốn chi phối toàn bộ các hoạt động và quyết định đối với việc thực hiện
các chứa năng của NHTM.
Sự lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế giống như mạch máu tuần hoàn
trong cơ thể con người. Hệ thống Ngân hàng được ví như là kênh thu hút và
9
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
cung ứng tiền cho hoạt động kinh tế. Nguồn tiền của Ngân hàng cũng được hình
thành dưới nhiều hình thức khác nhau. Mỗi loại vốn đều có tính chất và vai trò
riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng thương mại.
1.1.3.2. Phân loại nguồn vốn và đặc điểm nguồn vốn của NHTM
Tuỳ thuộc vào nguồn hình thành và yêu cầu quản lý, người ta phân chia
nguồn vốn của ngân hàng thành các loại khác nhau. Về cơ bản nguồn vốn của
NHTM gồm : Vốn chủ sở hữu, các khoản tiền gửi, vốn đi vay, vốn uỷ thác đầu
tư và vốn khác.
a) Nguồn vốn chủ sở hữu của NHTM:
Nguồn vốn chủ sở hữu có một ý nghĩa đặc biệt với ngân hàng. Đó là vốn
của chủ sở hữu ngân hàng. Thông thường nguồn vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ
trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi
thành lập một Ngân hàng. Với nguồn vốn này Ngân hàng có thể chủ động sử
dụng vào các mục đích khác nhau như: Trang bị cơ sở vật chất, tạo tài sản cố
định (văn phòng, kho tàng, trang thiết bị ) phục vụ cho bản thân Ngân hàng, cho
vay và đặc biệt là tham gia đầu tư, góp vốn liên doanh. Mặt khác khi ngân hàng
có vốn sở hữu lớn sẽ có ý nghĩa đảm bảo lòng tin đối với khách hàng, vì đó là
nguồn thanh toán trong trường hợp Ngân hàng gặp thua lỗ. Nó còn là một trong
những căn cứ quyết định đến khả năng và vốn huy động của Ngân hàng.

sử dụng và phải hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi khi đến kỳ hạn (tiền gửi có kỳ
hạn) hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn (tiền gửi không kỳ hạn) cho chủ sở hữu.
Như vậy trong quá trình hoạt động kinh doanh Ngân hàng luôn phải dự trữ
để đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả cho khách hàng.
Về mặt kinh tế nguồn vốn huy động là cũng những giá trị tiền tệ mà Ngân
hàng thu hút được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua
các hình thức huy động vốn khác nhau, thông qua quá trình thực hiện các nghiệp
vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác. Nguồn vốn huy động
đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM.
Thông thường, nguồn vốn huy động của các NHTM bao gồm các loại chính:
- Một là, tiền gửi của các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế.
Ở đây, người gửi tiền là khách hàng của Ngân hàng và họ là những tổ
chức kinh tế, những doanh nghiệp có quan hệ tiền gửi với Ngân hàng.
11
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Phần chủ yếu trong đó là các khoản tiền gửi không kỳ hạn (Tiền gửi thanh
toán) hay còn gọi là tiền gửi giao dịch. Đây là khoản tiền gửi do khách hàng gửi
vào ngân hàng nhằm mục đích giao dịch thanh toán, chi trả cho các hoạt động
mua bán hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi phí phát sinh trong kinh doanh một
cách an toàn và thuận tiện. Tiền gửi thanh toán thường được bảo quản tại Ngân
hàng trên hai loại tài khoản: Tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai.
Đối với tiền gửi thanh toán, việc rút tiền hoặc chi trả cho bên thứ 3 thường được
thực hiện bằng séc hay chuyển khoản. Doanh nghiệp mở tài khoản này nhằm
mục đích đảm bảo và sử dụng dễ dàng thuận tiện đồng vốn khi cần. Tài khoản
vãng lai là tài khoản có lúc dư Nợ, có lúc dư Có. Với tài khoản này, khách hàng
còn có thể được Ngân hàng đáp ứng nhu cầu tín dụng trong một khoảng thời
gian nhất định. Đứng trên góc độ Ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn là một khoản
nợ mà Ngân hàng luôn phải chủ động trả cho khách hàng vào bất cứ lúc nào.
Tuy nhiên, trong mỗi Ngân hàng do có sự không khớp giữa xuất và nhập trên
mỗi tài khoản thanh toán của doanh nghiệp hay giữa các tài khoản của các doanh

Bên cạnh phương thức nhận tiền gửi, các NHTM còn phát hành chứng chỉ
tiền gửi, kỳ phiếu và trái phiếu. Thực chất các nghiệp vụ này là Ngân hàng huy
động vốn tiền tệ bằng việc phát hành chứng từ có giá. Trong đó, chứng chỉ tiền
gửi và kỳ phiếu là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá quy đinh; Trái phiếu là loại
phiếu nợ trung và dài hạn. Hai loại phiếu nợ trên được Ngân hàng phát hành từng
đợt, tuỳ theo mục đích với sự chấp thuận của Ngân hành Trung ương.
Trong huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ
phiếu, trái phiếu Ngân hàng, các Ngân hàng phải trả lãi suất cao hơn so với
lãi suất tiền gửi huy động. Nghiệp vụ này chỉ được tiến hành khi Ngân
hàng thiếu vốn mà vốn tự có và vốn huy động tiền gửi không đủ. Như vậy
khi thực hiện huy động vốn dưới các hình thức này, các Ngân hàng phải
căn cứ đầu ra để quyết định về khối lượng huy động, mức lãi suất và thời
hạn, phương thức huy động. Vốn này chỉ được huy động trong một thời
gian nhất định, khi đã huy động đủ số lượng vốn theo dự kiến các Ngân
hàng sẽ ngừng việc huy động (bán) kỳ phiếu, trái phiếu.
c) Nguồn vốn đi vay:
13
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đây là loại nguồn vốn hình thành gắn với quan hệ hoạt động giữa
NHTM và Ngân hàng Trung ương hoặc giữa các NHTM với nhau hay giũa
các NHTM và các tổ chức tín dụng khác.
Các NHTM sẽ đi vay vốn để bổ sung vào vốn hoạt động của mình khi
Ngân hàng đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ vốn hoạt động hay
nói cách khác tạm thiếu vốn khả dụng. Các khoản vay ngày càng chiếm vị trí
quan trọng trong hoạt động của các NHTM, không chỉ về mặt quy mô đơn thuần
mà chủ yếu mang ý nghĩa như là một biện pháp quản lý các mục tài sản Nợ. Các
Ngân hàng có thể đi vay từ nhiều nguồn khác nhau:
- Một là, vay của các NHTM và tổ chức tín dụng khác:
Đây là các khoản vay thông thường mà các NHTM vay lẫn nhau trên thị
trường tiền tệ liên Ngân hàng. Khi NHTM mất khả năng cân đối giữa nguồn vốn

+ Vay có đảm bảo: Là hình thức các NHTM đem các chứng từ có giá đến
NHTW để làm đảm bảo xin vay vốn. Căn cứ trên tổng mệnh giá các chứng từ có
giá làm đảm bảo, NHTW sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định.
Vốn vay NHTW là quan hệ trực tiếp giữa các NHTM với NHTW nằm
trong khuôn khổ nhu cầu thực hiện chính sách tiền tệ. Trong quan hệ với
NHTW các NHTM đóng vai trò là khách hàng và NHTW là Ngân hàng chủ
nợ và là người cho vay. NHTW luôn cho các NHTM vay với những mức lãi
suất phân biệt theo hình thức mà các NHTM vay. Loại lãi suất quan trọng
nhất trong đó gọi là lãi suất tái chiết khấu. Lãi suất tái chiết khấu được NHTW
sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô, tuỳ vào yêu cầu điều tiết của nền
kinh tế mà lãi xuất này có thể được nâng cao hoặc hạ thấp. Các NHTM có thể
vay NHTW khi có nhu cầu nhưng ở hầu hết các nước, NHTW đều không cho
phép các NHTM lạm dụng khả năng đó bằng các công cụ như hạn mức tái
chiết khấu hay lãi suất tái chiết khấu. Song dù sao đây cũng là điểm tựa quan
trọng đối với hoạt động huy động vốn của các NHTM.
d) Nguồn vốn khác:
Bao gồm một số loại cơ bản như:
- Nguồn vốn hình thành từ hoạt động ủy thác đầu tư : Là nguồn vốn
tài trợ, uỷ thác đầu tư của Nhà nước, của các tổ chức tài chính trong nước
15
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
và quốc tế đầu tư vốn một cách gián tiếp vào nền kinh tế dươí dạng vốn
bằng tiền hoặc dây chuyền sản xuất theo các chương trình, dự án có mục
tiêu riêng. Thông qua nghiệp vụ đại lý NHTM còng thu hút được một
lượng vốn đáng kể trong quá trình thu hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý
cho tổ chức tín dụng khác nhận và chuyển vốn cho khách hàng hay một dự
án đầu tư. Do việc phát tiền được thực hiện theo tiến độ công việc nên
Ngân hàng có thể sử dụng tạm thời tồn khoản đó vào kinh doanh.
Chủ sở hữu của các nguồn vốn nước ngoài thường là Chính phủ nước
ngoài hoặc các tổ chức tài chính quốc tế như : Ngân hàng thế giới WB ( World

mở rộng cho vay, mở rộng đầu tư sinh lời và mở rộng các hoạt động nghiệp vụ
khác của ngân hàng thương mại. Một khi việc mở rộng nguồn vốn không tương
thích với khả năng đầu tưu, cho vay… sẽ dẫn đến ứ đọng vốn, dẫn đến làm tăng
chi phí và rủi ro cho ngân hàng…
1.2.2. Tầm quan trọng của mở rộng nguồn vốn trong hoạt động kinh
doanh Ngân hàng
1.2.2.1. Mở rộng nguồn vốn là cơ sở để Ngân hàng mở rộng quy mô tổ chức
các hoạt động kinh doanh nói chung.
Nhìn chung, đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh
doanh được thì phải có vốn, bởi vì vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định
khả năng kinh doanh. Riêng đối với Ngân hàng vốn là cơ sở để NHTM tổ chức
mọi hoạt động kinh doanh của mình. Nói cách khác, Ngân hàng không có vốn
thì không thể thực hiện được các nghiệp vụ kinh doanh. Bởi vì với đặc trưng của
hoạt động Ngân hàng, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là
đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại
hàng hoá đặc biệt đó là tiền tệ. Những Ngân hàng trường vốn là Ngân hàng có
nhiều thế mạnh trong kinh doanh. Chính vì thế, có thể nói: Vốn là điểm đầu tiên
trong chu kỳ kinh doanh của Ngân hàng. Do đó, ngoài vốn ban đầu cần thiết, tức
là đủ vốn điều lệ theo luật định thì Ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới
việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình.
1.2.2.2. Mở rộng nguồn vốn quyết định mở rộng quy mô hoạt động tín dụng
và các hoạt động đầu tư sinh lời khác của NHTM:
17
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Vốn Ngân hàng quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng
tín dụng. Thông thường nếu so với các Ngân hàng lớn thì các Ngân hàng
nhỏ có khoản mục đầu tư và cho vay kém đa dạng hơn. Trong khi các Ngân
hàng lớn cho vay được tại thị trường trong vùng, thậm chí trong nước và cả
quốc tế thì các Ngân hàng nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi hẹp mà chủ yếu
trong phạm vi nhỏ. Thêm vào đó, do khả năng vốn hạn hẹp nên các Ngân

doanh. Đây cũng là điều kiện để bổ xung thêm vốn tự có của Ngân hàng, tăng
cường cơ sở vật chất kỹ thuật và quy mô hoạt động của Ngân hàng trên mọi lĩnh
vực.
Đồng thời, vốn của Ngân hàng lớn sẽ giúp cho Ngân hàng có đủ khả năng
tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường không chỉ đơn thuần là cho vay
mà còn mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết, kinh doanh dịch vụ thuê mua,
mua bán nợ. Chính các hình thức kinh doanh đa năng này sẽ góp phần phân tán
rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo thêm vốn cho Ngân hàng đồng thời tăng
sức cạnh tranh của Ngân hàng trên thương trường.
Tóm lại: Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng là
rất quan trọng. Do vậy, đòi hỏi trong quá trình hoạt động của mỗi Ngân hàng
phải làm sao để nguồn vốn ngày càng tăng trưởng vững mạnh, cả về vốn huy
động và vốn tự có.
1.2.3. Các phương thức mở rộng nguồn vốn của NHTM.
Nguồn vốn của NHTM khá đa dạng và gồm nhiều thanh phần, trong số
đó có những thành phần không ổn định, đổi lại khả năng giao dịch của nó lại cao
và tỷ lệ lãi suất thấp, một số khác hạn chế khả năng phát séc, ổn định nhưng lãi
suất cao hơn. Thông thường lãi suất có tương quan tỷ lệ thuận với kỳ hạn của nó.
Đồng thời, những khách hàng có những khoản tiền gửi khác nhau và cũng có
những phản ứng rất khác nhau đối với sự thay đổi của lãi suất và chất lượng dịch
vụ mà ngân hàng cung cấp.
Do đó, việc khai thác các nguồn vốn luôn phải quan tâm tới các yếu tố
này. Nói cách khác những tiêu thức để đánh giá hoạt động huy động vốn của một
ngân hàng chính là khối lượng, cơ cấu, sự ổn định, cấu trúc thời hạn, chi phí huy
động và quản lý nguồn vốn. Hoặc nói cụ thể hơn là việc mở rộng khai thác các
nguồn vốn của các NHTM cần đề cập tới các khía cạnh:
19
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
- Quy mô nguồn vốn huy động đủ lớn để tài trợ cho danh mục tài sản đa
dạng và không ngừng tăng trưởng.

cũng là nguồn tiền gửi giao dịch. Sự tin tưởng của dân chúng và đồng tiền,
vào sụ an toàn của hệ thông ngân hàng, nhu cầu giao dich của khách hàng,
chất lượng dịch vụ thanh toán, sự an toàn tiện lợi và phí giao dịch rẻ là những
yếu tố thiết yéu giúp ngân hàng mở rộng khai thác các nguồn vốn này.
Để thu hút được tiền gửi phi giao dịch của các tổ chức và cá nhân,
ngân hàng sử dụng các tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn các
tổ chức KT-XH hoặc phát hành các loại giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái
phiếu, giấy chứng nhận tiền gửi. Mặc dù với cách huy động vốn này ngân
hàng phải trả lãi cho khách hàng nhưng ngan hàng vẫn có thể tăng cường
khai thác bằng các biện pháp cụ thể, thích ứng với đặc điểm nhu cầu của
từng loại khách hàng chẳng hạn như:
- Ngân hàng phát hành thẻ tiết kiệm không kỳ hạn để thu hút những món
tiền nhỏ lẻ hoặc những khoản tiền có thời gian nhàn rỗi ngắn. Tài khoản này có
thể gửi thêm hoặc rót ra bất cứ lúc nào nhưng không được phát hành séc (đây là
điểm khác biệt với tiền gửi giao dịch).
- Do nhu cầu gửi tiền của khách hàng rất đa dạng tùy theo kế hoạch sử
dụng tiền của họ trong hiện tại cũng như tương lai nên ngân hàng quy định nhiều
loại kỳ hạn gửi tiền cho khách hàng lựa chọn, có thể kỳ hạn 1 tháng, 2 tháng, 3
tháng, 6 tháng hoặc 12 tháng… để thu hút tiền gửi tiét kiệm có kỳ hạn.
- Để huy động khối lượng vốn lớn theo nhu cầu tài sản từng thời kỳ,
NHTM phát hành kỳ phiếu, trái phiếu với lãi suất hấp dẫn hơn vì đối tượng
khách hàng này rất quan tâm đến thu nhập từ tài sản của họ.
- Ngoài ra các NHTM còn cung cấp các tài khoản tiền gửi có kỳ hạn đối
vói các tổ chức KT-XH. Khi việc sử dụng vốn được kế hoạch trong tương lai,
các tổ chức này gửi tiền theo kỳ hạn phù hợp một mặt nhờ ngân hàng bảo quản,
mặt khác họ thu thêm được một khoản tiền lời do ngân hàng trả.
Ngoại trừ một số khoản tiền gửi giao dịch để đảm bảo khả năng
thanh toán như ký quỹ, bảo lãnh dự thầu hoặc bảo lãnh thực hiện hợp
đồng… được quy định mang tính bắt buộc, các hình thức gửi tiền khác
mang tính tự nguyện. Khách hàng có thể lựa chọn ngân hàng để gửi tiền

với các NHTM Nhà nước điều này thực hiện bằng biện pháp Nhà nước cấp thêm
vốn cho ngân hàng thương mại từ nguồn Ngân sách. Đối với các NHTM thuộc
22
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
sở hữu của các Công ty điều đó được thực hiện dưới hình thức công ty mẹ cấp
thêm vốn. Nếu NHTM được tổ chức dưới hình thức Công ty cổ phần, điều đó
được thực hiện bằng biện pháp tăng khối lượng cổ phiếu…Ngoài ra một biện
pháp đặc biệt quan trọng khác cũng thường được áp dụng là các Ngân hàng tăng
tỷ lệ trích từ lợi nhuận ròng đẻ tăng vốn. Tất nhien điều này lệ thuộc chủ yếu vào
việc ngân hàng hoạt động có hiệu quả hay không, lợi nhuận ròng của ngân hàng
có gia tăng qua các kỳ hoạt động không và ở mức độ nào?
1.2.3.5. Mở rộng nguồn vốn qua kênh nhận vốn uỷ thác đầu tư.
Đối với một số NHTM, ngoài nguồn vốn huy động, vay vốn của các tổ
chức tín dụng và vay vốn của NHTW, chúng còn có thể nhận được nguồn vốn
ủy thác đầu tư của Nhà nước và các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế theo
các chương trình, dự án có mục tiêu cụ thể. Để được nhận nguồn vốn này, các
ngân hàng phải lập dự án cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với
đối tượng các khoản vay. Hiện nay, Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam đang nhận
vốn ủy thác của các dự án: Phục hồi và phát triển nông thôn, dự án tín dụng nông
thôn, dự án phát triển cè và cây ăn quả…
1.2.3.6. Mở rộng nguồn vốn qua các kênh huy động vốn khác
Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, các NHTM có thể sử dụng kết
dư trên các tài khoản thanh toán vãng lai như chênh lệch thu hộ lớn hơn chi hộ
các ngân hàng khác trong thanh toán liên hàng. Ngoài ra, còn có thể có số dư trên
các tài khoản ký quỹ hoặc các khoản quản lý, giữ hộ nhưng số vốn này không
nhiều và ngân hàng không chủ động trong việc tập trung nguồn vốn này.
Như vậy, các NHTM tạo lập nguồn vốn chủ yếu bằng phương thức huy
động vốn để khai thác nguồn vốn nhàn rỗi của khách hàng, trường hợp mất cân
đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn có thể vay vốn các tổ chức tín dụng hoặc
dưới hình thức chiết khấu của NHTW và có thể nhận vốn uỷ thác đầu tư cùng

thì thu nhập của Ngân hàng không ngừng phát triển, tạo tiền đề cho việc mở
rộng vốn tự có của Ngân hàng. Mặt khác khi nền kinh tế không tăng trưởng,
sản xuất bị kìm hãm, nền kinh tế bị suy thoái, lạm phát tăng làm cho môi
trường đầu tư của Ngân hàng bị thu hẹp do sản xuất đình trệ, các doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ nên hạn chế vay vốn của Ngân hàng để sản xuất. Do đó
24
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
thu nhập của Ngân hàng bị giảm làm cho quá trình tạo vốn của Ngân hàng
gặp khó khăn. Bên cạnh đó lạm phát làm cho đồng tiền bị mất giá, người dân
sẽ không gửi tiền vào Ngân hàng mà họ dùng tiền để mua hàng cất trữ. Vì
vậy, cũng gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động tạo vốn của Ngân hàng.
- Một nhân tố đặc biệt quan trọng khác phải kể đến là tình hình tiền
tệ và lạm phát: Nói đến lạm phát là nói đến sự biến động sức mua của đồng
tiền, nếu sức mua của đồng tiền không suy giảm có nghĩa là giá trị tiền tệ
ổn định. Một người sẽ không ngần ngại gửi một món tiền vào Ngân hàng
khi họ tin chắc rằng sau một khoảng thời gian nhất định họ sẽ có một món
tiền có giá trị lớn hơn giá trị món tiền mà hôm nay họ gửi vào Ngân hàng
một khoản biết trước có thể chấp nhận được. Điều nay chứng tỏ rằng họ tin
tưởng vào sự ổn định của đồng tiền. Ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát
thấp hơn tốc độ phát triển kinh tế. Điều chỉnh tỷ giá linh hoạt, đảm bảo giá
trị đồng tiền Việt Nam giữ ổn định so với đồng đôla và vàng. Từ đó tạo nên
tâm lý tốt cho dân chúng không phải mua đôla và vàng tích trữ mà đưa tiền
vào đầu tư phát triển kinh tế trực tiếp hoặc qua Ngân hàng.
- Chính sách của Nhà nước và của NHTW: Ngân hàng là doanh nghiệp
kinh doanh đặc biệt chịu tác động bởi nhiều chính sách, các quy định của Chính
phủ và của NHTW. Thay đổi chính sách của Nhà nước, của NHTW về tài chính,
tiền tệ, tín dụng, lãi suất sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như khả
năng thu hút nguồn vốn của NHTM. Sự ổn định về chính trị hay về chính sách
ngoại giao cũng tác động đến quan hệ nguồn vốn của một ngân hàng với các
quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status