GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÀ PHÁT TRIỂN
TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI
NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN TP. HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : KINH TẾ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã số : 60.31.12 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ QUANG TRỊ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực. Tôi sẽ chịu trách nhiệm về nội dung tôi đã trình
bày trong luận văn này.
1.3.3. Đối với nền kinh tế đất nước.................................................................. 16
1.4. Các rủi ro và biện pháp ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động tài trợ XNK ..............16
1.4.1 Đặc thù trong hoạt động ngoại thương................................................... 17
1.4.2 Những rủi ro đặc thù trong hoạt động tài trợ XNK ................................ 17
1.5. Giới thiệu một số hình thức tài trợ ngoại thương của quốc gia khác................... 19
1.5.1. Thái Lan .............................................................................................. 19
1.5.2. Trung Quốc .................................................................................................... 20
1.5.3. Hàn Quốc ......................................................................................................... 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XNK TẠI CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN TP. HỒ CHÍ MINH ............................24
2.1. Giới thiệu về Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh .......24
2.2. Thực trạng hoạt động tài trợ XNK tại Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển
TP. Hồ Chí Minh......................................................................................................25
2.2.1. Hoạt động tài trợ vốn nói chung ..........................................................25
2.2.2. Hoạt động tài trợ xuất khẩu..................................................................29
2.2.3 Hoạt động tài trợ nhập khẩu ..................................................................31
2.2.4 Phân tích về hoạt động tài trợ XNK tại BIDV HCMC ..........................32
2.2.5. Các biện pháp phòng ngừa rủi ro đang áp dụng tại BIDV HCMC ........ 41
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XNK TẠI BIDV HCMC
.................................................................................................................................47
2.3.1. Mặt được.................................................................................................................47
2.3.2 Tồn tại.....................................................................................................................47
2.3.3.Những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động tài trợ XNK của
BIDV HCMC........................................................................................50
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT
ĐỘNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN TP HỒ CHÍ MINH ..................................................................... 57
3.1. Định hướng hoạt động tài trợ XNK của BIDV...................................................57
3.2. Giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển tài trợ XNK của BIDV HCMC trong giai
đoạn hiện nay ...........................................................................................................57
2007- 2009
28
6 Bảng 2.6: Dư nợ tài trợ XNK so với dư nợ vay của BIDV HCMC 32
7 Bảng 2.7: Dư nợ tài trợ XNK so với dư nợ vay doanh nghiệp 32
8 Bảng 2.8: Dư nợ tài trợ XNK phân theo loại hình tài trợ 33
9 Bảng 2.9: Dư nợ tài trợ xuất khẩu phân theo mặt hàng tài trợ 35
10 Bảng 2.10: Dư nợ tài trợ nhập khẩu phân theo mặt hàng tài trợ 38
11 Bảng 2.11: Tình hình nợ quá hạn tài trợ xuất nhập khẩu 40
12 Bảng 2.12: Tình hình nợ xấu tài trợ xuất nhập khẩu 40
13 Bảng 2.13:Kết quả giao dịch phái sinh trong hoạt động tài trợ XNK 45
DANH MỤC HÌNH
14 Hình 2.1 : Dư nợ tài trợ XNK phân theo loại hình tài trợ 34
15 Hình 2.2: Dư nợ tài trợ xuất khẩu phân theo mặt hàng tài trợ 36
16 Hình 2.3 : Dư nợ tài trợ nhập khẩu phân theo mặt hàng tài trợ 38 LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động thương mại quốc tế là xu hướng chung của các quốc gia, mang tính
tất yếu khách quan. Trong thời gian qua hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta
ngày càng phát triển.
Tài trợ xuất nhập khẩu cho doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng thương mại, không những đem lại hiệu quả kinh
doanh từ lãi vay mà còn thu được các phí dịch vụ từ hoạt động thanh toán quốc
tế, mua bán ngoại tệ.
Thời gian qua Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh đã
quan tâm đến việc phát triển hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu và bước đầu thu
được những thành quả nhất định. Tuy nhiên bên cạnh những thành quả đã
được, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh cũng gặp
phải không ít khó khăn hạn chế cần phải khắc phục. Đây cũng là lý do tác giả
nhập khẩu tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh mà
còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động này tại các
ngân hàng thương mại cũng như có giá trị tham khảo tốt cho các nhà hoạch
định chính sách, các nhà quản lý nhằm nâng cao nâng cao chất lượng trong
hoạt động của hệ thống các ngân hàng thương mại.
Do hạn chế về thời gian, trình độ và kinh nghiệm, đề tài không thể đi sâu tìm
hiểu, khảo sát và phân tích hết các khía cạnh có liên quan đến quyền chọn.
Mong rằng đề tài này sẽ tiếp tục được nghiên cứu, khảo sát, kiểm chứng đầy đủ
hơn và trên cơ sở đó có thể củng cố hoặc bổ sung thêm các giải pháp, đề xuất
nhằm đạt được hiệu quã thiết thực và bền vững hơn.
6. Kết cấu nội dung luận văn
Ngoài lời nói đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn bao gồm 03 chương:
Chương 1 : Những vần đề cơ bản về tài trợ xuất nhập khẩu
Chương 2 : Thực trạng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Chi nhánh Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển TP.Hồ Chí Minh
Chương 3 : Các giải pháp nhằm mở rộng và phát triển hoạt động tài trợ xuất
nhập khẩu tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh.
1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU
1.1. Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất nhập khẩu trở thành vấn đề quan trọng. Thị
trường thương mại thế giới mở rộng không ngừng, nhu cầu về thị trường tiêu thụ hàng
hóa, thị trường đầu tư đang trở thành nhu cầu cấp bách của các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu. Do khả năng tài chính có hạn mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu không phải
lúc nào cũng có đủ tiền để thanh toán hàng nhập khẩu hoặc có đủ vốn thu mua chế biến
hàng xuất khẩu, từ đó nảy sinh quan hệ vay mượn và sự giúp đỡ tài trợ của ngân hàng.
Quan hệ giao thương quốc tế đặt ra những vấn đề tế nhị, đôi khi phức tạp, nên những
nghiệp vụ thương mại đòi hỏi sự tham gia của ngân hàng. Ngân hàng đem lại cho các
nhà hoạt động ngoại thương sự hiểu biết về kỹ thuật và chỗ dựa tài chính trong lĩnh vực
quan trọng này.
Xu hướng hiện nay là kinh tế quốc gia phải gắn liền với kinh tế thế giới, nên hoạt động
ngoại thương phát triển rất nhanh về số lượng lẫn quy mô, từ đó cần phải có sự tài trợ
giúp đỡ của ngân hàng về vốn, kỹ thuật thanh toán. Thông thường nghiệp vụ tài trợ xuất
nhập khẩu của ngân hàng thương mại gắn liền với nghiệp vụ thanh toán quốc tế, được
thực hiện qua hai loại hình chủ yếu:
- Tài trợ bằng cách cho vay.
- Tài trợ bằng cách bảo lãnh.
Các hình thức tài trợ cho vay được thực hiện cụ thể qua các nghiệp vụ sau:
1.2.1. Căn cứ vào phương thức thanh toán
1.2.1.1. Cho vay trong khuôn khổ phương thức thanh toán bằng L/C
a. Đối với L/C trong thanh toán hàng nhập khẩu:
Một nhà nhập khẩu đã ký hợp đồng ngoại thương với một công ty ở nước ngoài sẽ vấp
phải nhiều vấn đề. Trước khi tiến hành thanh toán nhà nhập khẩu muốn phải biết chắc
chắn là hàng hóa được giao phù hợp với các điều kiện của hợp đồng. Tương tự, nhà
3
xuất khẩu cũng không muốn rời hàng của họ ra thậm chí là tiến hành sản xuất trước khi
biết chắc chắn là sẽ được thanh toán tốt đẹp. Do đó nhà xuất khẩu sẽ muốn phòng ngừa
trước những rủi ro không được thanh toán có thể xảy ra do người mua mất khả năng
thanh toán hoặc từ chối nhận hàng. Trong trường hợp này thư tín dụng (L/C) sẽ đáp ứng
nhu cầu của cả hai bên với tư cách là một phương tiện thanh toán. Với những đảm bảo
mà nó mang lại cho mỗi bên, đảm bảo giao hàng đối với nhà nhập khẩu và đảm bảo
thanh toán đối với nhà xuất khẩu, nên các bên có thể xin vay vốn phục vụ nhu cầu vốn
của mình.
Đối với nhà nhập khẩu, mở L/C được xem là hình thức tài trợ của ngân hàng: mọi thư
tín dụng đều được mở theo đề nghị của nhà nhập khẩu. Khi ngân hàng đồng ý mở L/C
cho nhà nhập khẩu, có nghĩa là ngân hàng cam kết thanh toán cho người thụ hưởng lợi
nếu bộ chứng từ phù hợp với các điều khỏan của L/C. Ngân hàng sẽ gánh chịu rủi ro
nếu như nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán, nhưng để đảm bảo uy tín của
mình ngân hàng mở L/C phải thanh toán cho phía nước ngoài, điều này có nghĩa là
ngân hàng mở L/C cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu. Do đó, trước khi mở L/C, ngân
mặt nhà nhập khẩu ký nhận thanh toán trên hối phiếu trong trường hợp L/C trả chậm.
– Cho vay bắt buộc: Về nội dung cũng là cho vay thanh toán bộ chứng từ giao hàng. Tuy
nhiên, tình trạng vay bắt buộc phát sinh khi người nhập khẩu không thanh toán hoặc
không tập trung đủ tiền để thanh toán bộ chứng từ giao hàng. Ngân hàng khi đó sẽ cho
vay trên giá trị tiền hàng còn thiếu để thanh toán đúng hạn cho ngân hàng nước ngoài.
Nhà nhập khẩu nên tránh tình trạng phát sinh nợ vay bắt buộc do họ sẽ phải chịu lãi
suất vay cho khoản tiền này tương ứng lãi suất vay bắt buộc là nợ quá hạn. Hơn nữa,
thời gian vay bắt buộc thường không quá 30 ngày kể từ ngày ngân hàng trả thay, áp
lực thanh toán nợ vay cho ngân hàng rất lớn.
b. Đối với L/C trong thanh toán hàng xuất khẩu: được thể hiện qua các hình thức:
– Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C đã mở:
Thư tín dụng không những là một công cụ đảm bảo thanh toán mà còn là một công cụ
tín dụng. Khi nhận L/C do ngân hàng mở L/C phát hành theo yêu cầu của nhà nhập
khẩu, thì nhà xuất khẩu được đảm bảo thanh toán sau khi giao hàng nếu xuất trình bộ
chứng từ hợp lý phù hợp với điều kiện đã ghi trong L/C. Nhà xuất khẩu còn có thể dựa
vào đó để nhờ ngân hàng phục vụ mình cấp một khoản tín dụng để thực hiện xuất hàng
5
theo L/C quy định, từ đó có thể khẳng định là L/C phục vụ cho nhiều mối liên quan như
là phương tiện trong lĩnh vực cho vay hàng xuất. Trên cơ sở L/C đã được chấp nhận
ngân hàng có thể cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu để tiếp tực sản xuất, nghĩa là sẵn sàng
chấp nhập chiết khấu các hối chiếu của L/C này.
Đối với L/C trả chậm cũng được sử dụng như một phương tiện đi vay. Nhà xuất khẩu
có thể nhận được tiền dưới dạng tín dụng chuyển nhượng toàn bộ quyền thụ hưởng L/C
cho ngân hàng vay vốn, đặc biệt thuận lợi hơn khi đó là một L/C trả chậm có xác nhận.
– Cho vay chiết khấu hoặc ứng trước chứng từ hàng xuất khẩu:
Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong có thể thương lượng
với ngân hàng, thực hiện chiết khấu bộ chứng từ hoặc ứng trước tiền khi bộ chứng từ
được thanh toán. Như vậy, đối với nhà xuất khẩu, L/C không những là công cụ đảm bảo
thanh toán mà còn là công cụ đảm bảo tín dụng.
Chiết khấu toàn bộ chứng từ xuất khẩu là hình thức ngân hàng tài trợ nhà xuất khẩu
+ Khả năng cạnh tranh của hàng hóa và giá trị của hàng hóa dự kiến;
+ Chính sách kinh tế và chính sách chính trị của nước nhập khẩu đối với ngân hàng
nhà xuất khẩu;
+ Những rủi ro về tỷ giá hối đoái (đối với ngân hàng nhà nhập khẩu);
- Tín dụng ứng trước dưới hình thức mua lại bộ chứng từ thanh toán: Sau khi hoàn tất
nghĩa vụ xuất chuyển hàng hóa cho người mua, người xuất khẩu lập bộ chứng từ
thanh toán (bao gồm các chứng từ liên quan tới hàng hóa và hối phiếu thương mại),
lúc này người xuất khẩu có toàn quyền sở hữu bộ chứng từ thanh toán này. Đồng
thời ở họ lại xuất hiện nhu cầu bù đắp vốn để tiếp tục quá trình kinh doanh trong
khoảng thời gian xuất chuyển hàng hóa đến khi nhà nhập khẩu chấp nhận bộ chứng
từ và đồng ý trả tiền. Trong trường hợp như vậy, nhà xuất khẩu có thể đem bán bộ
chứng từ thanh toán này cho ngân hàng. Việc ngân hàng mua bộ chứng từ thanh
toán này tức là đã chấp nhận cấp một khoản tín dụng cho người xuất khẩu.
Trị giá khoản tín dụng ứng trước này phụ thuộc vào trị giá bộ chứng từ, loại hàng
hóa mua bán thể hiện trên chứng từ, các chi phí theo quy định và khả năng thanh
toán tiền trên bộ chứng từ của người mua. Thông thường các ngân hàng mua với giá
khoảng 70 – 90% trị giá toàn bộ chứng từ.
7
Ngân hàng vẫn có quyền truy đòi đối với người xuất khẩu, khi bộ chứng từ gởi đi
không thu được tiền. Tuy nhiên, sẽ có thể hạn chế rủi ro tốt hơn, trong trường hợp
ngân hàng mua lại bộ chứng tư được lập ra trên cơ sở yêu cầu của một thư tín dụng.
1.2.1.2. Cho vay trong khuôn khổ phương thức nhờ thu kèm chứng từ
So với tín dụng chứng từ, nhờ thu ít được sử dụng trong thanh toán vì đây là phương
thức thanh toán có lợi cho bên mua, thường được áp dụng khi hai bên quen biết tin
tưởng nhau. Từ lúc gởi các chứng từ tới ngân hàng (ngân hàng bên nhà xuất khẩu)
cho tới khi xuất trình với người thanh toán có thể mất một khoảng thời gian nhất
định. Tài trợ của ngân hàng trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ có thể hiện
như sau:
- Nhờ thu đến trong thanh toán hàng nhập khẩu: ngân hàng tiếp nhận chứng từ từ
ngân hàng nước ngoài, xuất trình hối phiếu đòi tiền nhà nhập khẩu. Nếu nhà nhập
thương mại đang trong thời kỳ chưa đến hạn thanh toán.
Thông qua loại hình tài trợ này, ngân hàng cung ứng một khoản vốn cho các nhà xuất
khẩu để họ có điều kiện tiếp tục quá trình tái sản xuất. Đây chính là khoản vốn mà nhà
sản xuất cần bù đắp, vì trước đó họ đã cung ứng khoản tài trợ thương mại (bán chịu
hàng hóa) cho nhà nhập khẩu.
Nét đặc trưng nhất của nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu là ngân hàng sẽ khấu trừ tiền
lãi ngay khi chiết khấu và chỉ chuyển cho khách hàng số tiền còn lại. Các ngân hàng sẽ
xác định khối lượng tín dụng cấp ra (giá trị chiết khấu) căn cứ vào mệnh giá của hối
phiếu được áp dụng làm đối tượng chiết khấu trừ đi lợi tức chiết khấu và lệ phí nhờ thu
mà ngân hàng chiết khấu hưởng. Phương thức tính tiền chiết khấu xác định như sau:
Giá trị thanh toán cho người xin chiết khấu = Trị giá chứng từ – Mức chiết khấu
Trong đó :
• Trị giá chứng từ = Mệnh giá + Lãi hưởng định kỳ.
• Lãi hưởng định kỳ = Mệnh giá x % Lãi suất được hưởng định kỳ.
• Hoa hồng phí = Mệnh giá x % tỷ lệ hoa hồng.
• Lãi chiết khấu = ( Trị giá CK x Lãi CK %/năm x số ngày nhận CK )/ 365.
9
Khi kết thúc thời hạn chiết khấu, ngân hàng sẽ đòi tiền ở người có nhiệm vụ trả tiền
hối phiếu. Thông thường, trong nghiệp vụ chiết khấu, các ngân hàng có thể gặp rủi
ro trong các trường hợp sau:
- Người có nghĩa vụ trả tiền hối phiếu từ chối việc trả tiền hoặc không có khả năng
thanh toán kịp thời khi hối phiếu đến hạn;
- Chiết khấu những hối phiếu không hợp lệ (được thành lập không trên cơ sở hành vi
thương mại).
Vì thế khi thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, ngân hàng phải xem xét một cách thận trọng
để hạn chế rủi ro có thể xảy ra.
1.2.2.2. Chấp nhận hối phiếu
Chấp nhận hối phiếu là một nghiệp vụ thông thường trong quá trình lưu thông hối
phiếu. Trong thời hạn quy định, bên bán phải xuất trình cho bên mua để họ ký chấp
lãnh của người thứ ba đối với khoản cho vay. Những tài sản này là cơ sở đảm bảo cho
ngân hàng có khả năng thu hồi vốn cho vay trong trường hợp doanh nghiệp không trả
được nợ. Có nhiều loại bảo đảm cho một khoản vay ngân hàng, tuy nhiên có 3 yêu cầu
đối với bất cứ loại bảo đảm nào để được ngân hàng chấp nhận: a) dễ được định giá; b)
dễ cho ngân hàng quyền được sử hữu hợp pháp; c) dễ tiêu thụ hay thuận lợi. Khi cho
vay có tài sản bảo đảm, không bao giờ nên coi đó là nguồn trả nợ, mà chỉ là cái gì đó để
dựa vào khi nguồn trả nợ dự kiến không thành.
1.2.4.2.Tài trợ không đảm bảo
Đây là hình thức ngân hàng cho vay mà không cần có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo
lãnh của một người thứ ba. Cơ sở để cho vay chỉ dựa vào uy tín, quy mô, hiệu quả kinh
doanh, hiệu quả của phương án và có quan hệ thường xuyên tốt đẹp với ngân hàng.
1.2.5. Một số hình thức tài trợ xuất nhập khẩu khác
1.2.5.1. Bao thanh toán (Factoring hay affacturage)
11
Đây là hình thức tài trợ đặc biệt dành cho xuất khẩu, ngân hàng hoặc các tổ chức tài
chính sẽ mua lại các chứng từ thanh toán, các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán để trở
thành chủ nợ trực tiếp đứng ra đòi nợ nhà nhập khẩu ở nước ngoài. Hiện nay trên thế
giới, nghiệp vụ bao thanh toán được thực hiện tại các ngân hàng hoặc thành lập ra công
ty riêng gọi là công ty Factoring chuyên mua lại các khoản nợ. Các công ty này phát
triển rất mạnh, doanh số cao.
Bao thanh toán là việc mua các khoản Có phải đòi chưa tới hạn thanh toán phát sinh từ
hoạt động cung ứng hàng hóa và dịch vụ nhưng không được phép truy hoàn những chủ
cũ – của các khoản Có này. Thông thường, ta gọi người bán khoản Có phải đòi này là
người nhượng và người mua là người bao thanh toán.
Trên cơ sở hợp đồng bao toàn bộ thanh toán giữa nhà xuất khẩu và người bao các khoản
Có phải đòi, người xuất khẩu sẽ chuyển giao hối phiếu cho người mua khoản Có phải
đòi này. Hợp đồng bao thanh toán có thể có một ý nghĩa đặc biệt, nó là một cơ sở pháp
lý được phép áp dụng cho khoản Có phải đòi đã được nhượng bán, chỉ như vậy mới có
thể giải quyết được những vướng mắc về luật nước ngoài và những tranh chấp có thể
phát sinh theo luật quốc gia. Hối phiếu tự nhận nợ phù hợp một cách đặc biệt đối với
do không biết rõ hoặc không tin tưởng nhau, nhà nhập khẩu có thể yêu cầu bên xuất
khẩu có ngân hàng đứng ra bảo lãnh giao hàng hoặc bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
Ngân hàng nhận bảo lãnh theo yêu cầu của khách hàng, dùng để vay vốn nước ngoài
dưới hình thức tín dụng thương mại hoặc tín dụng tài chính … Trách nhiệm của ngân
hàng bảo lãnh là đảm bảo thi hành đúng cam kết với nước ngoài trong trường hợp
người xin bảo lãnh không thực hiện đầy đủ một nghiệp vụ nào đó với bên nước ngoài.
Bảo lãnh cũng có nhiều hình thức khác nhau:
- Mở thư tín dụng trả chậm;
- Ký bảo lãnh hay ký chấp nhận trên các hối phiếu;
- Phát hành thu bảo lãnh với nước ngoài;
- Lập giấy cam kết trả nợ với nước ngoài;
Đối với tái bảo lãnh thì phát hành thư bảo lãnh với nước ngoài.
Các lợi thế của các bên liên quan trong nghiệp vụ này:
13
- Đối với nhà nhập khẩu (bên được bảo lãnh): được hưởng một khoản vốn của bên xuất
khẩu mà không phải trả lãi (thực chất có thể giá bán đã tính lãi rồi), chỉ trả một khoản
phí cho người bảo lãnh.
- Đối với nhà xuất khẩu: hoàn toàn yên tâm rằng đến hạn sẽ được thanh toán nợ. Nếu cần
tiền, nhà xuất khẩu cũng có thể đem bộ chứng từ chiết khấu tại một ngân hàng khác để
đáp ứng nhu cầu vốn của mình.
- Đối với ngân hàng bảo lãnh: với bất cứ ngân hàng nào, khi tiến hành bảo lãnh, nghĩa là
đã được sự tín nhiệm, được sự tin tưởng về uy tín của bên xuất khẩu, bên nhập khẩu.
Khi bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng chỉ cho vay trừu tượng, nghĩa là ngân hàng
không bỏ ra một khoản vốn nào cả, mà chỉ lấy uy tín, danh dự của ngân hàng ra cho
vay, làm cơ sở cho vay.
Thủ tục bảo lãnh cho vay ngắn hạn theo phương thức cho vay thông thường, nghĩa là
kho bảo lãnh cho khách hàng thì khách hàng phải có mục đích xin vay, có khả năng
thanh toán và có tài sản thế chấp. Khi đến hạn, nếu nhà nhập khẩu không có khả năng
thanh toán, thì phải làm thủ tục vay lãi tại ngân hàng. Như vậy mục đích bảo lãnh đã
được thực hiện, nghĩa là ngân hàng bảo lãnh muốn khách hàng của mình vay, nhằm thu
tránh được tình trạng sử dụng vốn sai mục đích của bên được tài trợ và góp phần
hạn chế rủi ro tín dụng.
- Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu còn nâng cao tính an toàn cho ngân hàng
thông qua việc quản lý các nguồn thu thanh toán. Đối với người xuất khẩu, khi
ngân hàng chuyển bộ chứng từ giao hàng để đòi tiền, người nhập khẩu nước
ngoài đã chỉ định việc thanh toán tiền hàng phải thông qua tài khoản của người
xuất khẩu mở tại ngân hàng. Đối với người nhập khẩu, trong trường hợp có tài
trợ, ngân hàng sẽ buộc người nhập khẩu tập trung tiền bán hàng vào tài khoản
mở tại ngân hàng do vậy nguồn thu để trả các khoản tài trợ được ngân hàng quản
lý hết sức chặt chẽ, tránh được tình trạng xoay vốn của doanh nghiệp trong thời
gian vốn tạm thời nhàn rỗi, dễ xảy ra rủi ro.
- Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu mang lại hiệu quả cho ngân hàng thông qua
việc thu lãi vay, lãi chiết khấu chứng từ, thu phí dịch vụ… Ngoài ra, thông qua
15
tài trợ xuất nhập khẩu, ngân hàng còn mở rộng được quan hệ với các doanh
nghiệp và ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín ngân hàng trên trường quốc tế.
1.3.2. Đối với doanh nghiệp
- Tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng giúp doanh nghiệp thực hiện được những
thương vụ lớn: có những thương vụ trong ngoại thương đòi hỏi nguồn vốn rất
lớn để thanh toán tiền hàng. Do đặc điểm của vận chuyển hàng hải, các mặt hàng
thiết yếu như phân bón, sắt thép, gạo, bột mì … thường hai bên mua bán với số
lượng nguyên tàu hàng (từ 10.000 đến 20.000 tấn) nhằm tiết kiệm chi phí vận
chuyển, thuận lợi trong công tác giao nhận nên kéo theo giá trị lô hàng cũng rất
lớn. Trong trường hợp này, vốn lưu động của doanh nghiệp không đủ để chuẩn
bị hàng xuất hoặc thanh toán tiền hàng. Tài trợ ngân hàng cho xuất nhập khẩu là
giải pháp giúp doanh nghiệp thực hiện được những hợp đồng dạng này.
- Trong quá trình đàm phán, thương lượng, ký kết hợp đồng ngoại thương, nếu
doanh nghiệp trước đó đã thông qua ngân hàng về việc tài trợ và thanh toán quốc
tế, có nghĩa là doanh nghiệp đã xác định ngân hàng phục vụ mình, thì sẽ tạo
được lợi thế trong quá trình này. Vì hợp đồng ngoại thương được thực hiện
nghiệp xuất nhập khẩu cần vốn và vai trò cầu nối của ngân hàng để mở rộng đầu
tư, phát triển sản xuất kinh doanh. Các ngân hàng thương mại cũng cần có các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu như là những khách hàng tốt, tiềm năng để phát
triển hoạt động kinh doanh của mình, làm cho những đồng vốn nhàn rỗi trong xã
hội có thể sinh lợi. Xét trên tổng thể nền kinh tế thì hoạt động tài trợ xuất nhập
khẩu của các ngân hàng thương mại sẽ góp phần giúp cho nền sản xuất trong
nước phát triển, tạo thêm việc làm cho xã hội, tăng thu ngân sách cho nhà nước,
tăng trưởng GDP, tăng thu ngoại tệ để đầu tư máy móc thiết bị công nghệ hiện
đại tiên tiến,… tạo ra các tiền đề cần thiết để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và phát triển kinh tế đất nước.
1.4. Các rủi ro và biện pháp ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu
Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu là việc ngân hàng cấp tín dụng cho các khách hàng
xuất nhập khẩu. Hoạt động thanh tóan quốc tế là hoạt động cung ứng dịch vụ thanh tóan