Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
LỜI NÓI ĐẦU
Bảo hiểm xã hội(BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời
khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. So với các
loại hình bảo hiểm khác, chức năng và tính chất của BHXH có những điểm khác
biệt do bản chất của nó chi phối.
Ở nước ta, BHXH là một chính sách lớn trong hệ thống an sinh xã hội.
BHXH vừa mang tính kinh tế nhưng cũng mang tính nhân đạo của Nhà nước ta
nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động trước những biến cố làm giảm
hoặc mất thu nhập. Mục tiêu của Nhà nước là mở rộng đối tượng tham gia
BHXH cho mọi người dân nhưng hiện nay mục tiêu đó chưa được thực hiện vì
nhiều nguyên nhân. Trong công tác BHXH nói riêng còn có nhiều tồn tại cần
được giải quyết.
BHXH cấp huyện là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quản lý
BHXH Việt Nam, là cơ sở đầu tiên để thực hiện công tác BHXH. Thực hiện tốt
hoạt động ở BHXH cấp huyện thì mới đảm bảo cho việc thực hiện của cả hệ
thống. BHXH thành phố Vinh lă cơ quan BHXH cấp huyện trực thuộc sự quản
lý dọc của BHXH tỉnh Nghệ An. Trong thời gian 4 tháng thực tập tại BHXH
thành phố Vinh, em đã thu nhận được được một số kiến thức thực tế về công tác
BHXH và em đã tiến hành thực hiện chuyên đề thực tập về đề tài: “Thực trạng và
một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hoạt động của BHXH thành phố Vinh” nhằm xem xét
và nghiên cứu thực trạng hoạt động của BHXH TP Vinh trong giai đoạn
(1995-2002) để đóng góp một số giải pháp cho BHXH TP Vinh.
Bài viết được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về BHXH
- Chương 2: Thực trạng thực hiện BHXH trên địa bàn thành phố Vinh
- Chương 3: Phương hướng hoạt động và những biện pháp chủ yếu
nhằm thực hiện tốt hoạt động của BHXH TP Vinh.
Trong quá trình thực tập, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, hướng
dẫn của các cán bộ công tác tại cơ quan thực tập, các giáo viên trong bộ môn và
sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong một nội bộ cộng đồng; đi vay, đi mượn hoặc dựa vào
sự cứu trợ của Nhà nước v..v... Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ động và
không chắc chắn.
2
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ
biến. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải
cam kết bảo đảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định đẻ họ trang
trải những nhu cầu cần thiết khi ốm đau, tai nạn, thai sản...Trong thực tế, nhiều
khi các trưòng hợp trên không xảy ra và người chủ không phải chi trả một đồng
nào. Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ một lúc phải bỏ ra trong một
lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn.Vì thế mâu thuẫn chủ- thợ phát
sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc chủ phải thực hiện cam kết. Cuộc đấu
tranh này diền ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống
kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu
thuẫn. Sự can thiệp này một mặt làm tăng vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc
các giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng
được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm
thuê .Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung
trên phạm vi quốc gia. Qũy này còn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi
cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi gặp phải những biến
cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của
người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ
ngày càng được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo
vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không
cần thiết. Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và
nhanh chóng. Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo.
Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của
người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục
tiêu này đã được tổ chức quốc tế ILO cụ thể hoá như sau:
+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu
cầu sinh sống thiết yếu của họ.
+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu
đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em.
3. Chức năng của Bảo Hiểm Xã Hội
BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách bảo đảm xã hội của
Đảng và Nhà nước ta, BHXH có những chức năng chủ yếu sau:
4
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia
BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất
việc làm. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho
cùng, mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi
lao động theo các điều kiện quy định của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả
năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập, người lao động cũng sẽ
được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuộc vào các điều kiện cần
thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng phải đúng quy định. Đây là chức năng
cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức
hoạt động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia
BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả người sử dụng lao
động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để
trợ cấp cho một số người lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập.
Số lượng những người này thường chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng số người tham
BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hội
của nó thể hiện rất rõ. Quỹ BHXH là một bộ phận của tổng sản phẩm quốc nội
được xã hội tổ chức quản lí, bảo tồn và phân phối lại cho người lao động. Thực
chất quỹ BHXH là một phần trong tổng sản phẩm quốc nội, trong đó người lao
động chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ nhưng khi gặp rủi ro được cả cộng đồng
trợ giúp để vượt qua khó khăn, hoạn nạn. Kết quả của sự phân phối lại đó tạo ra
được sự bình đẳng hơn về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Chính
từ đó góp phần tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng sức lao động, tạo
thêm được nhiều điều kiện thúc đẩy sản xuất có hiệu quả, tạo thêm được nhiều
công ăn việc làm, tăng thu nhập đồng thời phát triển tốt hơn các dịch vụ xã hội
phục vụ cho con người như y tế, giáo dục, văn hoá... Hoạt động BHXH không vì
mục tiêu lợi nhận mà hoạt động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của
nền kinh tế, góp phần ổn định và tiến bộ xã hội. BHXH mang tính chất nhân
đạo, nhân văn, dùng tiền đóng góp khi còn trẻ khoẻ để dùng vào lúc tuổi già, đau
yếu. Xét về lâu dài, mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia
BHXH. Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiện bảo hiểm cho mọi người lao
động và gia đình họ, kể cả khi họ đang còn trong độ tuổi lao động.
Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền kinh
tế – xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH
cũng ngày càng cao.
II . NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BHXH
1. Khái niệm về BHXH
6
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với
người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao
động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung
nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo
động còn có người sử dụng lao động. Bởi vì, khi người lao động gặp rủi ro thì
người sử dụng lao động phải có trách nhiệm giúp đỡ. Điều này có nghĩa là họ
phải bỏ ra một khoản chi phí cho ngưòi lao động, nhưng thực tế chi phí này
nhanh chóng được cơ quan bảo hiểm hoàn trả lại.
Đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH là ngưòi lao động trong trường
hợp họ gặp rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp,
hưu trí. Nhưng trong trường hợp người lao động bị tử vong hoặc sinh đẻ thì đối
tượng hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội lại là thân nhân của người lao động như:
bố, mẹ, con, vợ ( chồng).
3. Phạm vi bảo hiểm xã hội
Theo công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ của tổ chức lao động
quốc tế ILO phạm vi của BHXH là trợ cấp cho 9 chế độ sau:
- Chăm sóc y tế
- Trợ cấp ốm đau
- Trợ cấp thất nghiệp
- Trợ cấp tuổi già
- Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
- Trợ cấp gia đình
- Trợ cấp thai sản
- Trợ cấp khi tàn phế
- Trợ cấp cho người còn sống( trợ cấp mất người nuôi dưỡng)
Tuỳ điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ
thực hiện kiến nghị đó ở mức độ kác nhau.
8
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
ở nước ta theo điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm
5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất .
mang tính dự trữ vì thông thường, khi người lao động đóng góp vào quỹ BHXH
thì họ không được quỹ này chi trả ngay khi gặp rủi ro mà phải có đủ thời gian dự
bị.
- Hoạt động của quỹ BHXH đặt ra yêu cầu và hình thành tất yếu chế độ tiết
kiệm bắt buộc của xã hội và người lao động dành cho ốm đau, hưu trí. Đó cũng
là quá trình phân phối lại thu nhập của cá nhân và cộng đồng.
4.3. Nguồn hình thành quỹ BHXH
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách
Nhà nước.
Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:
- Người sử dụng lao động góp.
- Người lao động góp.
- Nhà nước góp và hỗ trợ thêm.
- Các nguồn thu khác( như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do
đầu tư phần nhàn rỗi...)
Q
t
BH
= Đ
LĐ
+ Đ
SDLĐ
+ Đ
NN
+ T
ĐT
+ T
TT
+T
K
mà là lợi ích giữa hai bên. Về phía người sử dụng lao động, sự đóng góp một
phần BHXH cho người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ra
một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với người lao độngmà mình thuê
mướn. Đồng thời nó còn góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo được
mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ– thợ. Về phía người lao động, sự đóng góp một
phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của
chính mình,vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ.
Mối quan hệ chủ - thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích. Vì
thế, cũng như nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể
thiếu được sự tham gia đóng góp của Nhà nước. Trước hết các luật lệ của Nhà
nước về BHXH là những chuẩn mực pháp lí mà cả người lao động và người sử
dụng lao động đều phải tuân theo, những tranh chấp chủ thợ trong lĩnh vực
BHXH có cơ sở vững chắc để giải quyết. Ngoài ra, bằng nhiều hình thức khác
nhau, Nhà nước không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH,
mà còn trở thành chỗ dựa để đảm báo cho hoạt động BHXH chắc chắn và ổn
định.
Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các
nguồn nêu trên.
Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia
BHXH có khác nhau.
Về phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sủ dụng lao
động hiện vẫn còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào
mức lương cá nhânvà quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp. Quan điểm thứ hai
lại nêu lên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân
đối chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc để xác định mức đóng góp.
Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động
phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế
và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao
động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Một số nước khác lại quy
định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí Quản lí
- Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó mới xác định mức hưởng.
- Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức hưởng,
rồi từ mức hưởng BHXH này có thể xác định được mức phí phải đóng.
- Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kĩ thuật nhưng xác định phí BHXH lại
khá phức tạp vì nó liên quan cả đến người lao động, người sử dụng lao động và
12
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
nhà nước. Liên quan đến khả năng cân đối thu nhập của người lao động và điều
kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, khi xác định phí BHXH
vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc: cân bằng thu chi, lấy số đông bù số ít và có dự
phòng. Mức phí xác định phải được cân đối với mức hưởng, với nhu cầu BHXH
và điều chỉnh sao cho tối ưu nhất.
Phí BHXH được xác định theo công thức:
P = f1+f2+f3
Trong đó : P : Phí BHXH
f1: phí thuần túy trợ cấp BHXH
f2 :phí dự phòng
f3: phí quản lí
Phí thuần tuý trợ cấp BHXH cho cả chế độ ngắn hạn và dài hạn. Đối với
các chế độ BHXH ngắn hạn việc đóng và hưởng BHXH xảy ra trong thời gian
ngắn ( thường là một năm ) như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động nhẹ... Vì vậy,
số đóng góp BHXH phải đủ cho số phát sinh chi trả trong năm. Đối với chế độ
BHXH dài hạn như : hưu trí, trợ cấp mất người nuôi dưỡng, tai nạn lao động
hoặc bệnh nghề nghiệp nặng v..v...quá trình đóng và quá trình hưởng BHXH
tương đối độc lập với nhau và diễn ra trong khoảng thời gian nhất định. Cho nên
sự cân bằng giữa đóng góp và hưởng BHXH phải được dàn trải trong cả thời kì
dài. Vì thế, ngoài phí thuần tuý phải có phí dự phòng để đảm bảo quỹ BHXH có
dự trữ đủ lớn.
C
DP
: chi lập quỹ dự phòng
C
ĐT
: chi đầu tư
C
K
: chi khác
Khoản chi thứ hai trong BHXH là chi cho việc quản lí nghiệp vụ BHXH.
Đây là nguồn chi không lớn trong cơ cấu chi bảo hiểm xã hội nhưng nó cũng là
một khoản chi ngày càng tăng. Bởi vì các chế độ BHXH ngày càng được mở
rộng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động, do đó đội ngũ cán
bộ phục vụ BHXH ngày càng nhiều dẫn đến chi lương cán bộ ngày càng lớn.
Mặt khác, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về điều kiện làm việc ngày
càng tăng. Vì vậy, chi phí cho việc xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc, trang
thiết bị văn phòng ngày càng tăng lên.
Mục đích thứ ba của quỹ BHXH là chi dự trữ. Thực chất đây là quá trình
tích luỹ trong quá trình sử dụng bảo hiểm xã hội. Định kì hàng tháng (quý,
năm) cơ quan bảo hiểm xã hội tiến hành giữ lại một phần quỹ của mình để thành
lập nên quỹ dự trữ BHXH. Quỹ này chỉ được sử dụng trong trường hợp nhu cầu
chi trả lớn dẫn đến thâm hụt quỹ bảo hiểm xã hội hoặc lúc đồng tiền mất giá.
Sơ đồ1: Nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH
Đóng góp từ Đóng góp từ
chủ sử dụng lao động người tham gia BHXH
14
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
b. Người lao động
* Trách nhiệm:
- Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định.
- Thực hiện đúng các quy định về việc lập hồ sơ để hưởng chế độ BHXH.
- Bảo quản, sử dụng sổ BHXH và hồ sơ về BHXH theo đúng quy định.
* Quyền hạn:
- Được nhận sổ bảo hiểm xã hội.
- Được nhận lương hưu hoặc trợ cấp kịp thời, đầy đủ, thuận tiện khi có đủ
điều kiện hưởng BHXH theo quy định tại Điều lệ BHXH.
- Khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao
động hoặc tổ chức BHXH có hành vi vi phạm Điều lệ BHXH.
c. Cơ quan bảo hiểm xã hội
* Trách nhiệm:
- Tổ chức thu, quản lí, sử dụng quỹ BHXH đúng quy định.
- Thực hiện các chế độ BHXH đúng quy định tại Điều lệ BHXH.
- Tổ chức việc trả lương hưu và trợ cấp BHXH kịp thời, đầy đủ, thuận tiện.
- Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về bảo hiểm xã hội.
16
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
- Thông báo định kì hàng năm về tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội đối
với người lao động và sử dụng lao động.
* Quyền hạn:
- Trình Thủ Tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền
các quy định để quản lí việc thu, chi BHXH và để xác nhận đối tượng được
hưởng các chế độ BHXH quy định tại Điều lệ bảo hiểm xã hội.
-Tổ chức phương thức quản lí quỹ BHXH để đảm bảo thực hiện các chế độ
bảo hiểm xã hội có hiệu quả.
- Tuyên truyền, vận động để mọi người tham gia thực hiện BHXH.
Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương( gọi chung là tỉnh) là BHXH
tỉnh trực thuộc BHXH Việt Nam.
Ở các quận, huyện, thị xã thành phố trực thuộc tỉnh( gọi chung là huyện)
là BHXH huyện trực thuộc BHXH tỉnh.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam do Tổng giám đốc quản lí và điều hành thực
hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc thu bảo hiểm xã hội theo quy định của
Bộ luật lao động, Điều lệ BHXH và các quy định của Chính phủ.
- Quản lí quỹ BHXH và tổ chức việc chi trả BHXH cho người tham gia
BHXH được đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn.
- Được quyền từ chối việc chi trả các chế độ BHXH cho các đối tượng
hưởng chế độ BHXH khi có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về
18
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
hành vi man trá, làm giả hồ sơ, tài liệu để được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội,
đồng thời ra văn bản thông báo việc từ chối chi trả đó cho đương sự, cơ quan sử
dụng lao động và cơ quan pháp luật.
- Bồi thường mọi khoản thu chi sai các quy định của Nhà nước về BHXH
cho các đối tượng tham gia BHXH và chịu trách nhiệm trước pháp luật.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện dự án và biện pháp để bảo tồn giá trị và
tăng cường quỹ BHXH theo quy định của Chính phủ.
- Trình thủ tướng Chính phủ quyết định về mức chi phí quản lí, định mức
lệ phí thu, chi quỹ BHXH và các quy định khác có liên quan đến hoạt động
BHXH và tổ chức thực hiện các quy định nói trên.
- Kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan Nhà nước có liên quan việc sửa
đổi, bổ sung các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội phù hợp với tình hình của
đất nước trong từng giai đoạn.
- Lưu giữ hồ sơ, cấp và quản lí sổ BHXH.
Nhiệm vụ, quyền hạn và biên chế của các đơn vị nói trên do Tổng giám đốc
quy định.
Việc bổ nhiệm, miễm nhiệm chức vụ lãnh đạo của các tổ chức nói trên do
Tổng giám đốc quyết định.
Bảo hiểm xã hội tỉnh thực hiện các nhiệm vụ về BHXH trên địa bàn tỉnh
theo quy định của Tổng giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam. Bảo hiểm xã hội
tỉnh do một giám đốc quản lí và điều hành. Giúp việc giám đốc có 1 – 2 phó
giám đốc. Giám đốc, phó giám đốc BHXH tỉnh do Tổng giám đốc BHXH Việt
Nam bổ nhiệm và miễm nhiệm.
Nhiệm vụ, quyền hạn, biên chế các phòng chuyên môn nghiệp vụ nói trên
do Tổng giám đốc BHXH Việt Nam quyết định.
Bảo hiểm xã hội huyện có nhiệm vụ tiếp nhận đăng ký hưởng chế độ bảo
hiểm xã hội do BHXH tỉnh chuyển đến; thực hiện việc đôn đốc, theo dõi nộp
BHXH đối với người sử dụng lao động và người lao động trên địa bàn; tổ chức
mạng lưới hoặc trực tiếp chi trả các chế độ BHXH cho người được hưởng trên
địa bàn huyện.
20
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Bảo hiểm xã hội huyện do một giám đốc quản lí và điều hành. Các huyện
có khối lượng công việc nhiều có thể có phó giám đốc giúp việc do giám đốc
BHXH huyện bổ nhiệm và miễn nhiệm theo phân cấp của Tổng giám đốc
BHXH Việt Nam.
Bảo hiểm xã hội huyện không có cơ cấu tổ chức phòng. Biên chế của
BHXH huyện do giám đốc BHXH tỉnh quyết định trong phạm vi tổng biên chế
của BHXH tỉnh được Tổng giám đốc phân bổ.
Giám đốc BHXH huyện quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng
viên chức thuộc quyền quản lí.
Việc thành lập BHXH huyện do Tổng giám đốc BHXH Việt Nam quy định
- Trợ cấp tuổi già
- Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
- Trợ cấp gia đình
- Trợ cấp thai sản
- Trợ cấp khi tàn phế
- Trợ cấp cho người còn sống( trợ cấp mất người nuôi dưỡng)
Nhưng trên thực tế không phải nước nào cũng thực hiện được toàn bộ 9
chế độ trên và không phải nước nào cũng có phạm vi, đối tượng, nguồn hình
thành quỹ giống nhau. Có nghĩa là việc thực hiện BHXH ở những nước khác
nhau thì khác nhau, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nước và và hoàn cảnh cụ
thể của mỗi giai đoạn phát triển mà mỗi nước có hình thức áp dụng khác nhau
cho phù hợp.
Trên thế giới có 35 nước thực hiện được 9 chế độ, 37 nước chưa thực hiện
được chế độ thứ 3 ( trợ cấp thất nghiệp), 67 nước chưa thực hiện được chế độ
thứ 3 và thứ 6 ( trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp gia đình).
2. Tại Việt Nam
Bảo hiểm xã hội có mầm mống dưới thời phong kiến Pháp thuộc. Sau cách
mạng tháng 8/1945 Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà -nay là nước
Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đã ban hành sắc lệnh 29/SL ngày
12/3/1947 thực hiện bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động và hưu trí. Các chế độ
này được thực hiện đối với những người làm việc trong các cơ quan từ cơ sở đến
Trung ương.
22
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Tuy nhiên, do chiến tranh và khả năng kinh tế có hạn nên chỉ một bộ phận
lao động xã hội được hưởng quyền lợi BHXH.
Sau khi hoà bình lập lại, ngày 27/12/ 1961 Nhà nước ban hành Nghị định
128/CP của Chính phủ về “Điều lệ tạm thời thực hiện các chế độ BHXH đối với
- Thời kì 1962- 1993: trong giai đoạn này, quỹ BHXH được hính thành từ
nguồn thu tiền đóng BHXH với quy định chỉ có người sử dụng lao động đóng và
tỉ lệ đóng là 4,7% quỹ lương, trong đó :1% do ngành lao động Thương binh xã
hội và Bộ tài chính quản lí để chi trả các chế độ hưu trí, tử tuất; 3,7% do Tổng
Liên Đoàn Lao động quản lí để chi trả các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động. Đén năm 1987 được nâng lên 15%, trong đó 8% do nghành lao
động TBXH quản lí, 2% để lại đơn vị để trợ cấp khó khăn đột xuất, 5% do Tổng
Liên đoàn lao động Việt Nam quản lí.
Đặc điểm nổi bật là trước năm 1987 tỷ lệ đóng góp thấp, số người hưởng
chế độ BHXH ít song tỷ trọng ngân sách Nhà nước hỗ trợ cho mục tiêu này lớn.
Sau năm 1987 tỷ lệ này được nâng lên song số người hưởng tăng lên, đặc biệt từ
năm 1990 với việc thực hiện các Quyết định 176/ HĐBT và 111/CP của Chính
phủ về giảm biên chế khu vực nhà nước nên số người hưởng BHXH tăng đòi hỏi
ngân sách Nhà nước phải chi bù rất lớn.
Thời kì 1993 đến nay được đánh dấu bằng việc ban hành Nghị định 43/CP
ngày 1/4/1993 của Chính phủ. Theo Nghị định này mức thu quỹ BHXH được
nâng lên 20% trong đó một sự thay đổi căn bản đó là: người lao động phải đóng
5%, 15% còn lại do người sử dụng lao động đóng. Quỹ BHXH trở thành nguồn
tài chính tập trung tương đối độc lập với ngân sách Nhà nước. Ngoài ra quỹ
BHXH còn được bổ sung từ việc sử dụng tiền nhàn rỗi đầu tư vào hoạt động sản
xuất kinh doanh sinh lời. Khoản đầu tư này đang thấp và sẽ được tăng dần trong
các năm tiếp theo.
Tổng các nguồn thu BHXH tăng nhanh do cả hai nguồn ngân sách Nhà
nước hỗ trợ và tiền đóng BHXH của đơn vị sử dụng lao động và người lao động.
Đó là kết quả hoạt động của việc thực hiện điều lệ BHXH ban hành theo Nghị
định 12/CP theo tổ chức mới. Việc hình thành một hệ thống BHXH tập trung
đảm bảo thu phí BHXH kịp thời và đầy đủ hơn làm tăng khá nhanh quỹ BHXH.
Nguồn từ ngân sách Nhà nước để chi trả cho những người hưởng BHXH trước
tháng 1 năm 1995.
Nhìn chung sự hình thành quỹ BHXH đã dần dần đi vào ổn định, mang tính
BHXH và các chính sách xã hội khác có mối quan hệ biện chứng với nhau, các
chính sách này hỗ trợ lẫn nhau để giải quyết các vấn đề xã hội. Thực hiện tốt các
chính sách xã hội sẽ góp phần thực hiện tốt chính sách BHXH và ngược lại thực
hiện tốt chính sách BHXH sẽ góp phần thực hiện tốt các chính sách xã hội khác.
25