biện pháp thực hiện tốt hoạt động của BHXH thành phố Vinh - Pdf 30


Lời nói đầu
Bảo hiểm xã hội(BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá
sớm và đến nay đã đợc thực hiện ở tất cả các nớc trên thế giới. So với các loại hình
bảo hiểm khác, chức năng và tính chất của BHXH có những điểm khác biệt do bản
chất của nó chi phối.
ở nớc ta, BHXH là một chính sách lớn trong hệ thống an sinh xã hội.
BHXH vừa mang tính kinh tế nhng cũng mang tính nhân đạo của Nhà nớc ta nhằm
đảm bảo cuộc sống cho ngời lao động trớc những biến cố làm giảm hoặc mất thu
nhập. Mục tiêu của Nhà nớc là mở rộng đối tợng tham gia BHXH cho mọi ngời
dân nhng hiện nay mục tiêu đó cha đợc thực hiện vì nhiều nguyên nhân. Trong
công tác BHXH nói riêng còn có nhiều tồn tại cần đợc giải quyết.
BHXH cấp huyện là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quản lý BHXH
Việt Nam, là cơ sở đầu tiên để thực hiện công tác BHXH. Thực hiện tốt hoạt động
ở BHXH cấp huyện thì mới đảm bảo cho việc thực hiện của cả hệ thống. BHXH
thành phố Vinh lă cơ quan BHXH cấp huyện trực thuộc sự quản lý dọc của BHXH
tỉnh Nghệ An. Trong thời gian 4 tháng thực tập tại BHXH thành phố Vinh, em đã
thu nhận đợc đợc một số kiến thức thực tế về công tác BHXH và em đã tiến hành
thực hiện chuyên đề thực tập về đề tài: Thực trạng và một số giải pháp nhằm
thực hiện tốt hoạt động của BHXH thành phố Vinh nhằm xem xét và nghiên
cứu thực trạng hoạt động của BHXH TP Vinh trong giai đoạn (1995-2002) để
đóng góp một số giải pháp cho BHXH TP Vinh.
Bài viết đợc chia làm 3 chơng:
- Chơng 1: Lý luận chung về BHXH
- Chơng 2: Thực trạng thực hiện BHXH trên địa bàn thành phố Vinh
- Chơng 3: Phơng hớng hoạt động và những biện pháp chủ yếu nhằm
thực hiện tốt hoạt động của BHXH TP Vinh.
Trong quá trình thực tập, em đã nhận đợc rất nhiều sự giúp đỡ, hớng dẫn
của các cán bộ công tác tại cơ quan thực tập, các giáo viên trong bộ môn và đặc
biệt là sự hớng dẫn của thầy giáo Mạc Văn tiến trong việc chọn đề tài và hoàn
thành bài viết. Nhng do trình độ nhận thức và thời gian có hạn nên bài viết không

nhu cầu cần thiết khi ốm đau, tai nạn, thai sản...Trong thực tế, nhiều khi các tr-
òng hợp trên không xảy ra và ngời chủ không phải chi trả một đồng nào. Nhng
cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ một lúc phải bỏ ra trong một lúc nhiều khoản
tiền lớn mà họ không muốn.Vì thế mâu thuẫn chủ- thợ phát sinh, giới thợ liên kết
đấu tranh buộc chủ phải thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh này diền ra ngày càng
rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà nớc
đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt làm
tăng vai trò của Nhà nớc, mặt khác buộc các giới chủ và giới thợ phải đóng góp
một khoản tiền nhất định hàng tháng đợc tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất
rủi ro xảy ra đối với ngời làm thuê .Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành
một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Qũy này còn đợc bổ sung từ ngân
sách Nhà nớc khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao động khi gặp phải
những biến cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất
lợi của ngời lao động đợc dàn trải, cuộc sống của ngời lao động và gia đình họ
ngày càng đợc đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi và đợc bảo vệ,
2

sản xuất kinh doanh diễn ra bình thờng, tránh đợc những xáo trộn không cần thiết.
Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung đợc thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng.
Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo.
Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên đợc
thế giới quan niệm là BHXH đối với ngời lao động. Nh vậy, BHXH là sự đảm bảo
thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với ngời lao động khi họ gặp phải
những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở
hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho ngời
lao động và gia đình họ góp phần đảm an toàn xã hội .
2. Bản chất
- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là
trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trờng, mối quan hệ
thuê mớn lao động phát triển đến một mức độ nào đó . Kinh tế càng phát triển thì

- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngời lao động tham gia BHXH
khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm.
Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất
khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi ngời lao động khi hết tuổi lao động theo
các điều kiện quy định của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả năng lao động
tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập, ngời lao động cũng sẽ đợc hởng trợ cấp
BHXH với mức hởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn
đợc hởng phải đúng quy định. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết
định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những ngời tham gia
BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có ngời lao động mà cả ngời sử dụng lao
động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ
cấp cho một số ngời lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lợng
những ngời này thờng chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng số ngời tham gia đóng góp.
Nh vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập
theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân phối lại giữa những ngời có thu nhập cao
và thấp, giữa ngời khỏe mạnh đang lao động với những ngời ốm yếu phải nghỉ việc
v..v...Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng
xã hội.
- Góp phần kích thích ngời lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao
năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Khi khoẻ mạnh tham gia
lao động sản xuất, ngời lao động đợc chủ sủ dụng lao động trả lơng hoặc tiền
công. Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp
thay thế nguồn thu nhập bị mất. Vì thế cuộc sống của họ và gia đình họ luôn đợc
đảm bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó, ngời lao động luôn yên tâm, gắn bó tận
tình với công việc, với nơi làm việc. Từ đó, họ rất tích cực lao động sản xuất, nâng
cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Chức năng này biểu hiện nh một đòn
bẩy kinh tế kích thích ngời lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo
theo năng suất lao động xã hội.
- Gắn bó lợi ích giữa ngời lao động với ngời sử dụng lao động, giữa ngời lao

xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH cũng
ngày càng cao.
II . Những nội dung cơ bản của BHXH
1. Khái niệm về BHXH
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với ngời
lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động,
mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm
bảo đời sống cho ngời lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
2. Đối tợng của bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và
đến nay đã đợc thực hiện ở tất cả các nớc trên thế giới. Tuy BHXH ra đời sớm nh
vậy nhng một số khái niệm cơ bản của chúng nh: đối tợng tham gia, đối tợng đợc
bảo hiểm, đối tợng thụ hởng quyền lợi bảo hiểm đôi khi còn có sự nhầm lẫn và có
nhiều quan điểm cha thống nhất. Có nhiều lúc còn lẫn lộn giữa đối tợng BHXH
với đối tợng tham gia BHXH.
5

Nh chúng ta đã biết, BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm
hoặc bị mất đi do ngời lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc
làm vì các nguyên nhân nh: ốm đau, tai nạn, già yếu...Chính vì vậy, đối tợng bảo
hiểm xã hội chính là thu nhập của ngời lao động bị biến động giảm hoặc mất đi
do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm .
Ngời lao động trong quan hệ BHXH vừa là đối tợng tham gia, vừa là đối tợng
đợc bảo hiểm và họ cũng là đối tợng đợc hởng quyền lợi BHXH (chiếm phần
lớn trong các trờng hợp phát sinh trách nhiệm BHXH).
Đối tợng tham gia BHXH không chỉ có ngời lao động mà còn có ngời sử
dụng lao động và Nhà nớc. Sở dĩ ngời sử dụng lao động tham gia vào BHXH là vì
phần họ thấy đợc lợi ích thiết thực khi tham gia BHXH, một phần là do sự ép buộc
của Nhà nớc thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Đối với Nhà nớc thì
khác, họ tham gia BHXH với t cách là: chủ sở hữu lao động đối với tất cả công

bệnh nghề nghiệp, chế độ hu trí và chế độ tử tuất .
4. Quỹ bảo hiểm xã hội
4.1. Khái niệm quỹ BHXH
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà n-
ớc.
Quỹ BHXH là tập hợp đóng góp bằng tiền của các bên tham gia bảo hiểm:
ngời lao động, ngời sử dụng lao động, Nhà nớc nhằm mục đích chi trả cho các chế
độ BHXH và đảm bảo hoạt động của hệ thống BHXH.
4.2. Đặc điểm
- Là một quỹ tiền tệ tập trung, giữ vị trí là khâu tài chính trung gian trong hệ
thống tài chính quốc gia. Là tổ chức tái chính nằm giao thoa giữa ngân sách nhà n-
ớcvới các tổ chức tài chính Nhà nớc, tài chính doanh nghiệp và sau đó là tài chính
dân c.
- Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả, vừa mang tính không hoàn
trả. Tính không hoàn trả của quỹ BHXH đợc áp dụng đối với ngời đã tham gia
BHXH trong suốt quá trình lao động nhng không ốm đau, tai nạn lao động, sinh
con.
- Sự ra đời, tồn tại và phát triển của BHXH gắn liền với chức năng vốn có của
nhà nớc là vì quyền lợi của ngời lao động chứ không vì mục đích kiếm lời, đồng
thời nó cũng phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và điều kiện lịch sử
trong từng thời kì của từng quốc gia. Khi nền kinh tế càng phát triển thì càng có
nhiều chế độBHXHđợc thực hiện, và bản thân từng chế độ cùng đợc áp dụng rộng
rãi hơn, nhu cầu thoả mãn về BHXH đối với ngời lao động càng đợc nâg caovà họ
càng có khả năng tham gia vào nhiều chế độ bảo hiểm xã hội.
- Một mặt, quỹ BHXH mang tính tiêu dùng đợc thể hiện thông qua mục tiêu,
mục đích của nó là chi trả cho các chế độ BHXH. Nhng mặt khác nó lại mang tính
dự trữ vì thông thờng, khi ngời lao động đóng góp vào quỹ BHXH thì họ không
đợc quỹ này chi trả ngay khi gặp rủi ro mà phải có đủ thời gian dự bị.
- Hoạt động của quỹ BHXH đặt ra yêu cầu và hình thành tất yếu chế độ tiết
kiệm bắt buộc của xã hội và ngời lao động dành cho ốm đau, hu trí. Đó cũng là

BH
: Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm.
Đ

: Đóng góp của ngời lao động
Đ
SDLĐ
: Đóng góp của chủ sở hữu lao động
Đ
NN
: Đóng góp và hỗ trợ của nhà nớc
T
ĐT
: Thu từ hoạt động đầu t
T
TT
: Thu từ viện trợ
T
K
: Thu khác
Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho ng-
ời lao động đợc phân chia cho cả ngời sử dụng lao động và ngời lao động trên cơ
sở quan hệ lao động. Điều này không phải là sự phân chia rủi ro, mà là lợi ích giữa
hai bên. Về phía ngời sử dụng lao động, sự đóng góp một phần BHXH cho ngời
lao động sẽ tránh đợc thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi
ro xảy ra đối với ngời lao độngmà mình thuê mớn. Đồng thời nó còn góp phần
giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo đợc mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ thợ.
Về phía ngời lao động, sự đóng góp một phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện
sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình,vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ
và quyền lợi một cách chặt chẽ.

BHXH Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định 12 /CP ngày 26/ 01/1995, trong
các văn bản này đều quy định quỹ BHXH đợc hình thành từ các nguồn sau đây:
- Ngời sử dụng lao động đóng góp 15% so với tổng quỹ tiền lơng của những
ngời tham gia BHXH trong đơn vị. Trong đó 10% để chi trả các chế độ hu trí, tử
tuất và 5% để chi các chế độ ồm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp .
- Ngời lao động đóng bằng 5% tiền lơng tháng để chi các chế độ hu trí và tử
tuất.
- Nhà nớc đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đối
với ngời lao động.
- Các nguồn khác.
Mức đóng góp BHXH thực chất là phí BHXH. Phí BHXH là yếu tố quyết
định sự cân đối thu chi quỹ BHXH. Vì vậy, quỹ này phải đợc tính toán một cách
khoa học. Trong thực tế, việc tính phí BHXH là một nghiệp vụ chuyên sâu của
BHXH và ngời ta thờng sử dụng các phơng pháp toán học khác nhau để xác định.
Khi tính phí BHXH, có thể có những căn cứ tính toán khác nhau:
- Dựa vào tiền lơng và thang lơng để xác định mức trợ cấp BHXH, từ đó có
cơ sở xác định mức phí đóng.
9

- Quy định mức phí BHXH trớc rồi từ đó mới xác định mức hởng.
- Dựa vào nhu cầu khách quan của ngời lao động để xác định mức hởng, rồi
từ mức hởng BHXH này có thể xác định đợc mức phí phải đóng.
- Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kĩ thuật nhng xác định phí BHXH lại khá
phức tạp vì nó liên quan cả đến ngời lao động, ngời sử dụng lao động và nhà nớc.
Liên quan đến khả năng cân đối thu nhập của ngời lao động và điều kiện phát triển
kinh tế xã hội của đất nớc. Tuy nhiên, khi xác định phí BHXH vẫn phải đảm bảo
các nguyên tắc: cân bằng thu chi, lấy số đông bù số ít và có dự phòng. Mức phí
xác định phải đợc cân đối với mức hởng, với nhu cầu BHXH và điều chỉnh sao cho
tối u nhất.

ĐT
+ C
K
Trong đó:
Q
C
BH
: tổng chi BHXH
C
TC
: chi cho bộ máy quản lí
C
DP
: chi lập quỹ dự phòng
10

C
ĐT
: chi đầu t
C
K
: chi khác
Khoản chi thứ hai trong BHXH là chi cho việc quản lí nghiệp vụ BHXH. Đây
là nguồn chi không lớn trong cơ cấu chi bảo hiểm xã hội nhng nó cũng là một
khoản chi ngày càng tăng. Bởi vì các chế độ BHXH ngày càng đợc mở rộng để
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngời lao động, do đó đội ngũ cán bộ phục vụ
BHXH ngày càng nhiều dẫn đến chi lơng cán bộ ngày càng lớn. Mặt khác, xã hội
ngày càng phát triển thì nhu cầu về điều kiện làm việc ngày càng tăng. Vì vậy, chi
phí cho việc xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc, trang thiết bị văn phòng ngày
càng tăng lên.

- Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng với quy định của Điều lệ của
BHXH .
- Khiếu nại với cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền khi cơ quan BHXH có hành
vi vi phạm Điều lệ bảo hiểm xã hội.
b. Ngời lao động
* Trách nhiệm:
- Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định.
- Thực hiện đúng các quy định về việc lập hồ sơ để hởng chế độ BHXH.
- Bảo quản, sử dụng sổ BHXH và hồ sơ về BHXH theo đúng quy định.
* Quyền hạn:
- Đợc nhận sổ bảo hiểm xã hội.
- Đợc nhận lơng hu hoặc trợ cấp kịp thời, đầy đủ, thuận tiện khi có đủ điều
kiện hởng BHXH theo quy định tại Điều lệ BHXH.
- Khiếu nại với cơ quan nhà nớc có thẩm quyền khi ngời sử dụng lao động
hoặc tổ chức BHXH có hành vi vi phạm Điều lệ BHXH.
12

c. Cơ quan bảo hiểm xã hội
* Trách nhiệm:
- Tổ chức thu, quản lí, sử dụng quỹ BHXH đúng quy định.
- Thực hiện các chế độ BHXH đúng quy định tại Điều lệ BHXH.
- Tổ chức việc trả lơng hu và trợ cấp BHXH kịp thời, đầy đủ, thuận tiện.
- Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về bảo hiểm xã hội.
- Thông báo định kì hàng năm về tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội đối với
ngời lao động và sử dụng lao động.
* Quyền hạn:
- Trình Thủ Tớng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các
quy định để quản lí việc thu, chi BHXH và để xác nhận đối tợng đợc hởng các chế
độ BHXH quy định tại Điều lệ bảo hiểm xã hội.
-Tổ chức phơng thức quản lí quỹ BHXH để đảm bảo thực hiện các chế độ bảo

ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng( gọi chung là tỉnh) là BHXH tỉnh
trực thuộc BHXH Việt Nam.
ở các quận, huyện, thị xã thành phố trực thuộc tỉnh( gọi chung là huyện) là
BHXH huyện trực thuộc BHXH tỉnh.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam do Tổng giám đốc quản lí và điều hành thực hiện
các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc thu bảo hiểm xã hội theo quy định của Bộ
luật lao động, Điều lệ BHXH và các quy định của Chính phủ.
- Quản lí quỹ BHXH và tổ chức việc chi trả BHXH cho ngời tham gia BHXH
đợc đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn.
- Đợc quyền từ chối việc chi trả các chế độ BHXH cho các đối tợng hởng chế
độ BHXH khi có kết luận của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền về hành vi man trá,
làm giả hồ sơ, tài liệu để đợc hởng chế độ bảo hiểm xã hội, đồng thời ra văn bản
thông báo việc từ chối chi trả đó cho đơng sự, cơ quan sử dụng lao động và cơ
quan pháp luật.
- Bồi thờng mọi khoản thu chi sai các quy định của Nhà nớc về BHXH cho
các đối tợng tham gia BHXH và chịu trách nhiệm trớc pháp luật.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện dự án và biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng
cờng quỹ BHXH theo quy định của Chính phủ.
14

- Trình thủ tớng Chính phủ quyết định về mức chi phí quản lí, định mức lệ
phí thu, chi quỹ BHXH và các quy định khác có liên quan đến hoạt động BHXH
và tổ chức thực hiện các quy định nói trên.
- Kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan Nhà nớc có liên quan việc sửa đổi,
bổ sung các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội phù hợp với tình hình của đất nớc
trong từng giai đoạn.
- Lu giữ hồ sơ, cấp và quản lí sổ BHXH.
- Tổ chức thực hiện công tác thống kê, hạch toán, kế toán; hớng dẫn nghiệp
vụ, thu, chi bảo hiểm xã hội và kiểm tra việc thực hiện; tổ chức công tác thông

Bảo hiểm xã hội tỉnh thực hiện các nhiệm vụ về BHXH trên địa bàn tỉnh theo
quy định của Tổng giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam. Bảo hiểm xã hội tỉnh do
một giám đốc quản lí và điều hành. Giúp việc giám đốc có 1 2 phó giám đốc.
Giám đốc, phó giám đốc BHXH tỉnh do Tổng giám đốc BHXH Việt Nam bổ
nhiệm và miễm nhiệm.
Nhiệm vụ, quyền hạn, biên chế các phòng chuyên môn nghiệp vụ nói trên do
Tổng giám đốc BHXH Việt Nam quyết định.
Bảo hiểm xã hội huyện có nhiệm vụ tiếp nhận đăng ký hởng chế độ bảo hiểm
xã hội do BHXH tỉnh chuyển đến; thực hiện việc đôn đốc, theo dõi nộp BHXH
đối với ngời sử dụng lao động và ngời lao động trên địa bàn; tổ chức mạng lới
hoặc trực tiếp chi trả các chế độ BHXH cho ngời đợc hởng trên địa bàn huyện.
Bảo hiểm xã hội huyện do một giám đốc quản lí và điều hành. Các huyện có
khối lợng công việc nhiều có thể có phó giám đốc giúp việc do giám đốc BHXH
huyện bổ nhiệm và miễn nhiệm theo phân cấp của Tổng giám đốc BHXH Việt
Nam.
Bảo hiểm xã hội huyện không có cơ cấu tổ chức phòng. Biên chế của BHXH
huyện do giám đốc BHXH tỉnh quyết định trong phạm vi tổng biên chế của BHXH
tỉnh đợc Tổng giám đốc phân bổ.
Giám đốc BHXH huyện quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng viên
chức thuộc quyền quản lí.
Việc thành lập BHXH huyện do Tổng giám đốc BHXH Việt Nam quy định
căn cứ vào khối lợng công việc, số lợng ngời và đơn vị tham gia BHXH trên địa
bàn. Tại những nơi cha có đủ điều kiện thành lập BHXH huyện thì giám đốc
BHXH Tỉnh cử ngời đại diện tại huyện để thực hiện việc chi trả và đôn đốc theo
dõi việc thu chi, nộp BHXH trên địa bàn.
III. quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm xã hội.
1. Trên thế giới
Bảo hiểm xã hội đã xuất hiện từ rất lâu mà mầm mống của nó từ thế kỉ XIII ở
Nam Âu khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển. Tuy nhiên
ban đầu BHXH chỉ mang tính chất sơ khai, với phạm vi nhỏ hẹp . Từ thế kỉ XVI

độ thứ 3 ( trợ cấp thất nghiệp), 67 nớc cha thực hiện đợc chế độ thứ 3 và thứ 6 ( trợ
cấp thất nghiệp, trợ cấp gia đình).
2. Tại Việt Nam
Bảo hiểm xã hội có mầm mống dới thời phong kiến Pháp thuộc. Sau cách
mạng tháng 8/1945 Chính phủ nớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà -nay là nớc
Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đã ban hành sắc lệnh 29/SL ngày
12/3/1947 thực hiện bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động và hu trí. Các chế độ này
đợc thực hiện đối với những ngời làm việc trong các cơ quan từ cơ sở đến Trung -
ơng.
Tuy nhiên, do chiến tranh và khả năng kinh tế có hạn nên chỉ một bộ phận
lao động xã hội đợc hởng quyền lợi BHXH.
Sau khi hoà bình lập lại, ngày 27/12/ 1961 Nhà nớc ban hành Nghị định
128/CP của Chính phủ về Điều lệ tạm thời thực hiện các chế độ BHXH đối với
công nhân viên chức và đợc thực hiện từ ngày 1/1/1962. Sau hơn 20 năm thực
17

hiện BHXH đối với công nhân viên chức, các chế độ bảo hiểm xã hội đã bộc lộ
nhiều hạn chế. Do đó ngày 18/9/1985 Chính phủ (lúc đó là Hội Đồng Bộ Trởng)
đã ban hành Nghị định 236/HĐBT về việc sửa đổi, bổ sung chính sách và chế độ
BHXH đối với ngời lao động. Nội dung chủ yếu của Nghị định này là điều chỉnh
mức đóng và hởng BHXH.
Tuy nhiên chính sách BHXH ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế không phù
hợp với cơ chế mới. Vì vậy, ngày 22/6/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị định
43/CP quy định tạm thời về các chế độ BHXH áp dụng cho các thành phần kinh
tế , đánh dấu một bớc đổi mới của BHXH Việt Nam.
Tuy vậy, chỉ khi Bộ luật lao động đợc Quốc Hội nớc cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15/6/1994, điều lệ tạm thời về BHXH theo Nghị
định 12/CP của Chính phủ ban hành ngày 26/1/1995 và Nghị định 45/CP ban
hành ngày 15/7/1995 cho các đối tợng hởng BHXH là công nhân viên chức và lực
lợng vũ trang, bảo hiểm xã hội Việt Nam thực sự đổi mới nội dung, phơng thức

còn lại do ngời sử dụng lao động đóng. Quỹ BHXH trở thành nguồn tài chính tập
trung tơng đối độc lập với ngân sách Nhà nớc. Ngoài ra quỹ BHXH còn đợc bổ
sung từ việc sử dụng tiền nhàn rỗi đầu t vào hoạt động sản xuất kinh doanh sinh
lời. Khoản đầu t này đang thấp và sẽ đợc tăng dần trong các năm tiếp theo.
Tổng các nguồn thu BHXH tăng nhanh do cả hai nguồn ngân sách Nhà n-
ớc hỗ trợ và tiền đóng BHXH của đơn vị sử dụng lao động và ngời lao động. Đó là
kết quả hoạt động của việc thực hiện điều lệ BHXH ban hành theo Nghị định
12/CP theo tổ chức mới. Việc hình thành một hệ thống BHXH tập trung đảm bảo
thu phí BHXH kịp thời và đầy đủ hơn làm tăng khá nhanh quỹ BHXH. Nguồn từ
ngân sách Nhà nớc để chi trả cho những ngời hởng BHXH trớc tháng 1 năm 1995.
Nhìn chung sự hình thành quỹ BHXH đã dần dần đi vào ổn định, mang tính
quy luật chung. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân ngân sách nhà nớc phải hỗ trợ
kéo dài nhiều năm, nhng xu hớng giảm dần, còn chi BHXH từ quỹ (chi cho những
ngời về nghỉ hu sau 1/1/1995) sẽ tăng lên do vậy cần phải có các giải pháp để tăng
nhanh nguồn thu BHXH.
Hiện nay các hoạt động đầu t đợc Chính phủ cho phép:
- Mua trái phiếu tín phiếu của kho bạc Nhà nớc và các ngân hàng thơng mại
Nhà nớc.
- Cho vay( Ngân sách Nhà nớc vay), quỹ hỗ trợ đầu t Quốc gia vay, các ngân
hàng thơng mại Nhà nớc vay.
- Đầu t vào một số dự án và Doanh nghiệp lớn của Nhà nớc đợc Chính phủ
cho phép.
Tiền sinh lời đợc sử dụng nh sau:
- Trích 50% trong 5 năm để bổ sung vốn đầu t từ xây dựng cơ sở vật chất
toàn hệ thống.
- Trích 2 quỹ khen thởng và phúc lợi bằng 3 tháng lơng thực tế toàn ngành.
-Phần còn lại bổ sung vào quỹ BHXH.
IV. Mối quan hệ giữa BHXH với chính sách xã hội và chính sách kinh tế.
1. Mối quan hệ giữa BHXH với chính sách xã hội
Chính sách xã hội là một vấn đề rộng lớn, đợc cụ thể hoá và thể chế hoá

chính sách xã hội trong đó có chính sách BHXH sẽ làm mất ổn định xã hội. Bởi
vậy thực hiện tốt chính sách BHXH sẽ tạo điều kiện để giải phóng năng lực sản
xuất, tạo năng suất lao động cao, sản xuất ổn định. Mối quan hệ giữa chính sách
BHXH với chính sách kinh tế còn thể hiện thông qua mối quan hệ giữa tăng trởng
kinh tế và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội. Tăng trởng kinh tế tự thân nó không
dẫn tới tiến bộ xã hội và càng không dẫn tới công bằng xã hội một cách trực tiếp,
mặc dù tăng trởng kinh tế ở một mức độ nào đó có thể thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Tăng trởng kinh tế phải qua khâu phân phối mới đa các chính sách BHXH nói
riêng và phúc lợi xã hội nói chung tới các tầng lớp dân c. tăng trởng kinh tế là một
điều kiện quan trọng để thực hiện chính sách BHXH có hiệu quả. Ngợc lại khi
xem xét chính sách BHXH dới góc độ một chính sách kinh tế khi hoạch định
chính sách BHXH không hợp lí, xây dựng mức đóng BHXH không phù hợp sẽ làm
nâng giá thành sản phẩm lên cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh giảm, hạn chế tăng
trởng kinh tế. Tuy nhiên giữa tăng trởng kinh tế và chính sách BHXH cũng có sự
20

mâu thuẫn. Qúa trình nâng cao hiệu quả kinh tế thờng xuất hiện các hiện tợng cố
tình không thực hiện chính sách BHXH cho ngời lao động nh đóng BHXH không
đứng mức thu nhập, kí hợp đồng lao động ngắn hạn, trang bị bảo hộ lao động
không đảm bảo gây ra tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp. Việc giải quyết hài hoà
mối quan hệ này phụ thuộc vào bản chất chế độ chính trị xã hội và năng lực quản
lí của Nhà nớc trong việc tạo điều kiện tối u sự kết hợp sự phát triển kinh tế với
việc thoả mãn ngày càng cao nhu cầu của xã hội gắn liền tiến bộ xã hội với sự phát
triển toàn diện con ngời.
21

ch ơngII thực trạng thực hiện BHXH trên địa bàn
thành phố Vinh ( từ 1995 đến 2002)
I. đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hởng đến thực hiện công tác
bhxh trên địa bàn thành phố vinh.

22

kinh tế. Đối với vùng nội thành khuyến khích các hộ mở rộng cơ sở sản xuất thủ
công nghiệp củng cố cơ sở dạy nghề nhằm tạo ra nhiều cơ sở làm việc mới.
Thành phố Vinh có dân số 224.536 ngời, là thành phố có số dân cha đông so
với loại đô thị. Nguồn bổ sung lao động hàng năm rất lớn, khoảng 2.000 ngời.
Thành phố Vinh nói riêng, Nghệ An nói chung là quê hơng có truyền thống
hiếu học, đã đóng góp cho đất nớc nhiều nhân tài, nhiều trờng hợp giữ những vị trí
quan trọng trong hệ thống chính trị kinh tế ở trong nớc. Tuy vậy trong chiến tranh,
Vinh là thành phố bị tàn phá nặng nề, các cơ sở sản xuất đều bị phá huỷ, sức ngời
sức của đợc huy động một cách tối đa. Hiện nay với nguồn bổ sung lao động hàng
năm lớn chủ yếu là học sinh hết học phổ thông và diện hoàn thành nghĩa vụ quân
sự về. Trình độ học vấn tay nghề còn thấp. Vấn đề tạo công ăn việc làm để số lao
động này có thu nhập nuôi sống bản thân và thực hiện các nghĩa vụ với nhà nớc
đang là gánh nặng đối với cấp uỷ và chính quyền thành phố Vinh.
II. Hệ thống quản lý và bộ máy hoạt động của bhxh tP vinh.
1. Hệ thống quản lý.
BHXH Thành phố Vinh là cơ quan bảo hiểm cấp huyện do đó, theo quy định
chung của Chính phủ và BHXH Việt Nam nó chịu sự quản lý trực tiếp của BHXH
cấp tỉnh tơng ứng là BHXH tỉnh Nghệ An, theo ngành dọc và của phòng
LĐ&TBXH thành phố vinh theo ngành ngang.
Hàng năm, BHXH thành phố Vinh chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ BHXH Nghệ
An về kế hoạch thu, chi BHXH cho các đối tợng tham gia. Ngợc lại, thông qua
BHXH thành phố Vinh mà BHXH tỉnh Nghệ An nắm đợc số đối tợng tham gia và
đợc hởng từ đó đề ra các chỉ tiêu cho những năm tới chính xác hơn.
23

Sơ đồ3: vị trí của BHXH TP Vinh trong hệ thống tổ chức quản lý BHXH
- Lập báo cáo quyết toán quý, năm về thu, chi BHXH, chi quản lý bộ máy gửi
BHXH tỉnh, thành phố.
2.2 Bộ máy hoạt động.
Là cơ quan BHXH cấp huyện, BHXH thành phố Vinh là đơn vị có t cách
pháp nhân không có tổ chức phòng ban mà nó đợc chia thành 3 bộ phận:
a. Bộ phận kế hoạch tài chính (Do ông Nguyễn Đình Chân phụ trách)
Bộ phận này có chức năng:
- Tiếp nhận hồ sơ danh sách chi trả và nguồn kinh phí do BHXH tỉnh lập
chuyển về, tổ chức chi trả cho ngời đợc hởng, kiểm tra giám sát việc chi trả và
thanh quyết toán với cấp trên.
- Phối hợp với bộ phận thu và bộ phận chế độ để tiếp nhận hồ sơ chi 3 chế
độ(ốm đau, thai sản và nghỉ dỡng sức). Thông qua đơn vị sử dụng lao động để
chi trả cho ngời đợc hởng. Nộp kịp thời tiền thu BHXH vào tài khoản của
BHXH tỉnh.
- Thực hiện chế độ, tiêu chuẩn định mức chi tiêu tàI chính, chế độ kế toán
của đơn vị theo quy định của nhà nớc và cơ quan BHXH cấp trên. Thực hiện
nghiêm túc chế độ giao nhận và quản lý tiền mặt theo quy định của bộ tài chính.
- Theo dõi lu trữ chứng từ sổ sách kế toán theo quy định của bộ tài chính.
quản lý tài sản của cơ quan và thực hiện một số nhiệm vụ khác do giám đốc
giao.
b. Bộ phận quản lý thu(Do ông Ngô Phúc Đờng, phó giám đốc phụ
trách)
Bộ phận này có chức năng:
- Hớng dẫn đơnvị sử dụng lao động lập danh sách lao động, tiền lơng đăng
ký nộp BHXH. Tổ chức phối hợp tốt với các ngành, các cấp địa phơng để thu
đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền BHXH theo điều lệ BHXH và các văn bản hớng dẫn
của các bộ, các ngành và cơ quan BHXH cấp trên.
- Tổ chức xét duyệt hồ sơ theo phân cấp của BHXH tỉnh và đề nghị BHXH
tỉnh xét cấp sổ BHXH cho ngơì lao độngtham gia BHXH. Quản lý danh sách lao
động, tiền lơng, theo dõi sự biến động tăng giảm. Hàng quý tiến hành đối chiếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status