1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xã hội tồn tại nhiều hoạt động như hoạt động chính trị, văn hoá, kinh tế,
quân sự Hoạt động kinh tế là hoạt động chủ yếu, nó có vai trò quyết định sự tồn tại và
phát triển của các hoạt động khác. Tiêu thức để phân biệt các hoạt động là căn cứ vào
công dụng sản phẩm dịch vụ tạo ra và theo tính chất, mục đích của hoạt động đó.
Hoạt động kinh doanh là hoạt động kinh tế, khi việc tổ chức thực hiện hoạt động
đó nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Trong hoạt động kinh doanh, con người luôn
hướng tới mục tiêu là đạt được kết quả và hiệu quả cao nhất.
Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế. Từ một
nền kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang một nền kinh tế có tỷ trọng công nghiệp
và dịch vụ cao, dựa trên nền tảng của kinh tế tri thức và xu hướng gắn với nền kinh tế
toàn cầu. Chính sự chuyển dịch này đã tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho nhiều ngành
kinh tế phát triển. Song chính sự chuyển dịch này cũng làm phát sinh nhiều vấn đề phức
tạp đặt ra cho các doanh nghiệp những yêu cầu và thách thức mới, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tự không ngừng vận động, vươn lên để vượt qua những thử thách, tránh nguy
cơ bị đào thải bởi quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường.
Muốn vậy, phải nhận thức đúng đắn, đầy đủ và toàn diện các hiện tượng, các quá
trình và yếu tố xảy ra trong hoạt động kinh doanh. Để làm được những vấn đề đó không
thể không phân tích, đánh giá các hoạt động trong quá trình kinh doanh để từ đó đề ra
những chiến lược, những quyết sách, những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng trên, sau quá trình thực tập tại Công ty TNHH
một Thành viên Cảng Sông Thành phố Hồ Chí Minh, cùng với những kiến thức được các
Thầy, Cô Trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP.HCM truyền dạy, đặc biệt là Thầy TS.
Lưu Thanh Tâm đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ dạy. Em đã mạnh dạn chọn đề tài:
“Hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH một Thành viên Cảng Sông
Trân trọng
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
1.1.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là thước đo chất lượng phản ánh trình độ tổ chức,
quản lý, kinh doanh. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước,
các doanh nghiệp muốn tồn tại trước hết đòi hỏi kinh doanh phải có hiệu quả. Hiệu quả
kinh doanh càng cao, càng có điều kiện mở mang và phát triển sản xuất, đầu tư mua sắm
tài sản cố định, nâng cao đời sống người lao động, thực hiện tốt nghĩa vụ với ngân sách
Nhà nước.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn lực sẵn có để đạt kết quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí ít nhất. Hiệu quả
kinh doanh phải được xem xét một cách toàn diện cả về thời gian và không gian trong
mối quan hệ với hiệu quả chung của nền kinh tế xã hội.
Về thời gian, hiệu quả kinh doanh đạt được trong từng giai đoạn, từng thời kỳ
không được làm giảm sút hiệu quả các giai đoạn, các thời kỳ kinh doanh tiếp theo, không
vì lợi ích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài.Về không gian, hiệu quả kinh doanh chỉ có
thể coi là đạt được một cách toàn diện khi toàn bộ hoạt động của các bộ phận, các đơn vị
mang lại hiệu quả và không ảnh hưởng đến hiệu quả chung.
Về định lượng, hiệu quả kinh doanh phải được thể hiện ở mối tương quan giữa thu
và chi theo hướng tăng thu giảm chi. Có nghĩa là tiết kiệm đến mức tối đa các chi phí
kinh doanh (lao động sống và lao động vật hóa) để tạo ra một đơn vị sản phẩm. Đồng thời
với khả năng sẵn có làm ra nhiều sản phẩm.
Về góc độ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh doanh của các đơn vị, các bộ phận
cũng như toàn bộ các doanh nghiệp đạt được phải gắn chặt hiệu quả toàn xã hội. Đạt
giảm qua từng năm và đưa ra nhưng phương pháp để tăng doanh thu.
5
1.2.3 Chỉ tiêu về lợi nhuận
Chỉ tiêu này nói cho ta biết tổng lợi nhuận với chi phí trong kỳ, một doanh nghiệp
làm ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ,chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn có
hiệu quả và ngược lại, nó giúp doanh nghiệp điều chỉnh được chi phí giá thành ,chi phí
hoạt động cũng như chi phí quản lý để doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hơn .
1.2.4 Chỉ tiêu về sử dụng vốn cố định
Chỉ tiêu này đôi khi còn được gọi là số vòng quay vốn cố định , nhằm đo lường
việc sử dụng vốn cố định đạt được hiệu quả như thế nào một đồng vốn cố định đầu tư tạo
ra bao nhiêu đồng doanh thu.
1.2.5 Chỉ tiêu về hiệu quả tài chính
1.2.5.1 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng doanh thu từ sản xuất kinh doanh thì có bao
nhiêu đồng lợi nhuận, sự thay đổi về lợi nhuận có thể phản ánh sự thay đổi về hiệu quả
cũng như đường lối kinh doanh.
1.2.5.2 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu, các nhà đầu tư
thường quan tâm đến chỉ tiêu này ,bởi vì họ quan tâm đến khả năng thu nhận được của lợi
nhuận so với vốn họ tự bỏ ra đầu tư.
1.2.6 Chỉ tiêu về khả năng thanh toán
1.2.6.1 Chỉ tiêu về khả năng thanh toán nhanh
Là chỉ tiêu thanh toán ngay các khoản nợ đã đến hạn và quá hạn .Khả năng thanh
toán nhanh cho ta thấy những tài sản quay vòng vốn nhanh có thể dùng để trang trải cho
các khoản nợ đã đến hạn đủ hay không.
1.2.6.2 Khả năng thanh toán bằng tiền
Ngoài hệ số khả năng thanh toán nhanh, để đánh giá khả năng thanh toán một cách
khắt khe hơn nữa ta sử dụng hệ số khả năng thanh toán bằng tiền. Hệ số này cho biết
7
- Tiền công chỉ là một biểu hiện, một tên gọi khác của tiền lương. Tiền công gắn
trực tiếp hơn với các quan hệ thỏa thuận mua bán sức lao động và thường được sử dụng
trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các hợp đồng dân sự thuê mướn có thời hạn. Tiền
công có thể hiểu là số tiền trả cho một đơn vị thời gian lao động cung ứng, tiền trả cho
một khối lượng công việc thực hiện. Khái niệm tiền công được sử dụng phổ biến trong
những thỏa thuận thuê nhân công trong thị trường tự do và có thể gọi là giá công lao
động .
Trong nền kinh tế thị trường về cơ bản khái niệm tiền lương, tiền công được xem
đồng nhất về bản chất kinh tế, đó là khoản tiền mà người lao động nhận được khi bán sức
lao động của mình.
1.2.7.2 Phụ cấp lương
Trong các doanh nghiệp tiền lương thường được chia làm hai bộ phận:
- Lương chính hay còn gọi là lương cơ bản: Nó là khoản tiền lương trả cho người
lao động phù hợp với trình độ chuyên môn, tay nghề và trong những điều kiện làm việc
bình thường.
- Lương phụ hay còn gọi là phụ cấp lương: Là khoản tiền lương bổ sung trả thêm
cho người lao động khi làm việc trong những điều kiện khó khăn, độc hại, tính chất quan
trọng hơn so với bình thường. Trong các doanh nghiệp Nhà nước, khoản phụ cấp này
được quy định cụ thể thành nhiều mức và nhiều loại phụ cấp khác nhau. Ngược lại, trong
các doanh nghiệp ngoài thành phần Nhà nước khi thuê mướn người lao động, mức lương
chi trả cho người lao động đã tính gộp luôn các yếu tố khó khăn, độc hại… cho nên
thường không duy trì hệ thống các loại phụ cấp lương.
1.2.7.3 Tiền lương danh nghĩa, tiền lương thực tế
Trong nền kinh tế thị trường, còn tồn tại quan hệ hàng hóa – tiền tệ nên còn phạm
trù tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế.
- Tiền lương danh nghĩa: là tổng số tiền người lao động nhận được sau một thời
kỳ làm việc nhất định.
Trong thực tế, bản thân tiền lương danh nghĩa chưa phản ảnh đầy đủ mức trả công
để trả cho lao động giản đơn nhất trong điều kiện làm việc bình thường để đảm bảo mức
sống tối thiểu cho người lao động và gia đình họ.
- Trong một chế độ tiền lương, mức lương tối thiểu được xem là cơ sở, là nền tảng
để xác định mức lương trả cho các loại lao động khác.
- Mức lương tối thiểu Nhà nước quy định là cơ sở pháp lý đảm bảo cho đời sống
cho người lao động.
+ Mức tăng (theo %) tiền lương bình quân phải thấp hơn mức tăng (theo %) năng
suất lao động bình quân được tính theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh – Xã
hội
+ Phải có lợi nhuận, lợi nhuận kế hoạch không thấp hơn so với lợi nhuận thực hiện
của năm trước liền kề. 9
1.2.8 Các yêu cầu và nguyên tắc cơ bản trong tổ chức tiền lương
1.2.8.1 Các yêu cầu cơ bản tổ chức tiền lương
- Tiền lương tiền công phải trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử
dụng lao động, thể hiện trong hợp đồng lao động.
- Tổ chức tiền lương, tiền công phải tuân thủ những quy định của Luật lao động
hiện hành về tiền lương, tiền công.
- Đảm bảo tai sản xuất sức lao động không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh
thần cho người lao động.
- Nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động kinh doanh cho đơn vị.
- Tạo sự hợp lý giữa các bộ phận l/động, các t/viên trong một tập thể lao động.
- Đảm bảo tính đơn giản, cụ thể rõ ràng và dễ hiểu.
1.2.8.2 Các nguyên tắc tổ chức tiền lương
* Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương.
- Nguyên tắc này bắt nguồn từ mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, yêu cầu của
nguyên tắc này là tiêu không thể vượt quá khả năng làm ra mà cần phải đảm bảo tích lũy.
11
CHƯƠNG 2
GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
CẢNG SÔNG TP.HCM
2.1 Quá trình hình thành và phát triển
Trước giải phóng Công ty TNHH Một Thành viên Cảng sông TP.HCM có tên
gọi là Ty Cầu Tàu trực thuộc Nha thương Cảng Sài Gòn. Hệ thống kênh Đôi, kênh Tẻ và
kênh Tàu Hủ được hình thành cách đây trên ba thế kỷ. Dưới chế độ củ con kênh này nằm
trong hệ thống thương Cảng Sài Gòn, việc quản lý do Nhà thủy văn và Ty cầu tàu đảm
nhận. Vẫn áp dụng hệ thống quản lý Nhà nước về đường thủy trên địa bàn thuộc các
nhánh kênh. Kênh Tẻ – Kênh Đôi bắt đầu từ vàm cầu Tân Thuận đến ngã ba sông Rạch
Cát. Kênh Bến Nghé – Kênh Tàu Hủ bắt đầu từ cầu Bắc Bình Dương đến ngã ba Sông
Rạch Cát.
SÔNG TP.HCM
o Tn tiếng Anh : CANG SONG CO., LTD
o Tn viết tắt : CASOCO
o Trụ sở chính : 223 Trần Văn Kiểu, F.1, Q.6, Tp.HCM
o Điện thoại : (08) 8555.260 Fax: (08) 8559.749
o Email : [email protected]
2.2 Đặc điểm của Công ty
Cảng sông TP.HCM là một đầu mối giao thông đường sông rất thuận lợi cho
các phương tiện đường sông ra vào và neo đậu để xếp dỡ hàng hóa. Tuy chưa có số liệu
chính xác về số lượng hàng thông qua Cảng trong nhiều năm tới, nhưng theo số liệu
thống kê kinh nghiệm trong những năm qua và qua các cuộc hội thảo với một số cơ quan
chủ hàng (chủ yếu về lương thực), lưu lượng hàng hóa về Công ty có thể chiếm từ 50-
60% so với lượng hàng hóa được vận chuyển bằng đường sông về Thành phố Hồ Chí
Minh.
Hệ thống Cảng sông của Công ty bao gồm nhiều bến sông tự nhiên nằm dọc theo
các nhà kho, nhà máy của các chủ hàng và tiếp giáp với đường giao thông công cộng rất
thuận lợi cho việc neo đậu lên xuống hàng hóa của các phương tiện thủy bộ với cự ly xếp
dỡ ngắn.
Địa bàn hoạt động của Công ty nằm gần các khu vực chợ tiện lợi cho việc mua
bán trao đổi hàng hóa phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt của nhân dân, của người
buôn bán.
13
Công ty TNHH 1 Thành viên Cảng Sông TP.HCM do vị trí địa hình không thể
tiến hành bốc xếp cơ giới, chỉ có thể bốc xếp bằng thủ công (sức lao động của con người)
vì: các phương tiện vận tải rất đa dạng có nhiều trọng tải và kết cấu khác nhau, một số
bến đang nằm lẫn vào khu vực có dân cư ven kênh và bị hạn chế bởi mạng lưới điện cao
thế, dân dụng và hệ thống thông tin hữu hiệu.
2.3 Ngành nghề kinh doanh
Kinh doanh kho bãi
Quản lý vùng nước thuộc hệ thống Cảng sông Thành phố (được ủy quyền của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền)
Mua bán vật liệu xây dựng
Xây dựng công trình, cầu tàu, bờ kè, san lắp mặt bằng, xây dựng dân dụng nhóm C,
xây dựng các công trình thủy lợi, đắp đê làm đường, kinh doanh nhà ở, khai thác vật liệu xây
dựng, sản xuất VLXD, mua bán vật tư nông nghiệp, máy móc thiết bị nông nghiệp.
Kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải
Kinh doanh dịch vụ khác phục vụ cho khai thác Cảng, bến bãi.
Ngoài ra Cảng sông còn được giao nhiệm vụ quản lý Bến Tàu Khách Thành phố
phục vụ đưa đón hành khách tuyến Thành phố Hồ Chí Minh – Vũng Tàu và Thành phố Hồ
Chí Minh đi miền Tây.
b. Định hướng phát triển của Công ty:
Thực trạng hệ thống bến bãi thủy nội địa của Thành phố được phản ánh qua vị trí
mặt bằng nhỏ hẹp về quy mô, nghèo nàn về trang bị kỹ thuật. Sự hoạt động của nhiều bến bãi
mang tính tự do, tự phát, nằm ngoài sự quản lý của cơ quan chức năng. Hiện tượng tranh
giành trong hoạt động xếp dỡ, tùy tiện đóng cát cứ mở bến bãi hoạt động, tự do xả rác ở vùng
sông, kênh… là khá phổ biến hiện nay, gây mất trật tự an toàn cũng như làm mất vẻ mỹ quan
của trung tâm Thành phố.
Theo sự đánh giá chung, hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh chưa có một Cảng
Sông nào được xây dựng đúng nghĩa về mặt kiến trúc, trang thiết bị kỹ thuật và công
nghệ tổ chức khai thác.
Bên cạnh sự phát triển mạnh của nền kinh tế khu vực, nhu cầu vận tải hàng hóa
xuất nhập tăng lên một cách đáng kể. Các mặt hàng xuất từ Đồng bằng Sông Cửu Long
và các Tỉnh Miền Đông thông qua cụm Cảng Thành phố Hồ Chí Minh cũng như hàng
hóa xuất tại Thành phố Hồ Chí Minh và hàng nhập khẩu đến Tp.Hồ Chí Minh và sau đó
chuyển về các tỉnh chiếm một khối lượng khá lớn. Trước tình hình đó, việc phát triển hệ
15
có một Cảng sông tương đối lớn, có thể làm đầu mối giao thông thủy bộ đồng thời làm
trung tâm trung chuyển hàng hóa lớn của Thành phố Hồ Chí Minh và cho toàn khu vực.
Vận tải đường sông, một tiềm năng lớn của Thành phố và khu vực, với giá
thành rẻ, khối lượng vận chuyển lớn có nhiều tính ưu việt, song lâu nay chưa được đầu tư
đúng mức kể cả việc cải tạo luồng lạch, đổi mới phương tiện và xây dựng bến bãi. Tuy
rằng trong thời gian tới, có thể sẽ phải chia xẻ bớt khối lượng vận tải cho đường bộ và
đường sắt cũng như cho Cảng Cần Thơ và một số Cảng khác ở ĐBSCL, song không thể
ưu tiên đầu tư cho phương thức vận tải này ở một khu vực mà sông rạch đan chen khắp
vùng. Do đó xu thế tất yếu là phải phát triển vận tải đường sông của Thành phố Hồ Chí
Minh. Việc xây dựng mới Cảng Sông Phú Định và một số bến bốc xếp khác cũng như
quy hoạch cải tạo, sử dụng hay di dời hợp lý các bến cũ là điều cần thiết phải làm.
* Vị trí xây dựng Công ty Sông Phú Định :
Từ năm 1987 Sở Giao thông Công chánh Thành Phố đã có luận chứng xác định
vị trí Cảng sông của Thành phố, trong đó có 2 vị trí được đề xuất để so sánh là Phú Định
và Cây Khô và địa điểm được nhất trí chọn là tại vị trí ngã 3 sông Rạch Cát (Cần Giuộc)
Chợ Đệm Kênh Đôi thuộc phường 16 , Quận 8 với địa danh là Phú Định.
Đây là địa điểm lý tưởng cho việc xây dựng Cảng sông quy mô lớn của Thành
phố Hồ Chí Minh về phương diện vận tải cũng như khai thác Cảng, thể hiện ở các ưu
điểm chủ yếu sau :
- Đây là vị trí xuất phát từ Thành phố đi về ĐBSCL bằng 3 tuyến đường
thủy: tuyến Tp.HCM – Đồng Tháp Mười – Tứ Giác Long Xuyên, tuyến Tp.HCM-Kiên
Lương và tuyến Tp.HCM-Cà Mau (có thể đi thẳng đến Công ty qua rạch Cần Giuộc, mà
không cần đi vòng qua rạch Cây Khô) và cùng là điểm xuất phát thuận lợi đi các Tỉnh
Miền Đông cũng như đến các vùng thuộc địa bàn kinh tế trọng điểm phía nam: Tp.HCM-
Bà Rịa Vũng Tàu-Đồng Nai-Bình Dương.
- Đây là vị trí rất tiện lợi về mặt liên thông thủy – bộ, nối Cảng với các trục
đường bộ chính của Thành phố và khu vực như Quốc lộ 1A đường Bình Thuận, đường
vành đai của Thành phố nối thông với khu công nghiệp Hiệp Phước, Thành phố Nhơn
Trạch, đường cao tốc đi Vũng Tàu và nối thông với các đường trục đi nội thành như
Phòng Khai thác.
18PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
Ban Quản lý dự án.
Bến Tàu khách.
Các Xí nghiệp xếp dỡ.
Xí nghiệp Dịch vụ Cung ứng Vật liệu Xây dựng.
Các Xí nghiệp Xây lắp Công trình.
2.6 Sơ đồ tổ chức hoạt động
CÁC XÍ
NGHIỆP
XẾP DỠ
XÍ
NGHIỆP
CUNG
ỨNG
VlXD
CÁC XÍ
NGHIỆP
XLCT
TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐCHỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ 19
- Các quyền khác theo phân cấp, ủy quyền của Hội đồng quản trị, người quyết
định thành lập công ty.
Tổng Giám đốc :
- Phụ trách chung.
- Chịu trách nhiệm trước Nhà nước toàn bộ các mặt hoạt động sản xuất kinh
doanh của Cảng. Trực tiếp chỉ đạo các phòng ban nghiệp vụ và các công tác sau :
+ Công tác quản lý tài chính, tài sản.
+ Công tác tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, tuyển dụng và bố trí lao động.
Đốc lãnh đạo mọi hoạt động SXKD của đơn vị; ký kết hợp đồng kinh tế, quản lý kho, bến
bãi, các phương tiện ra vào neo đậu trong vùng nước thuộc Công ty quản lý nhằm đảm
bảo an toàn giao thông và phòng ngừa ô nhiễm môi trường. Bộ phận Kỹ thuật tham mưu
cho Giám đốc trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, duy tu sửa chữa, kinh doanh xây dựng
công trình, quản lý kỹ thuật thiết bị, cần trục, kỹ thuật bốc xếp, kỹ thuật an toàn lao động.
4) Ban Quản lý Dự Án : Là một bộ phận chuyên môn nghiệp vụ, có trách nhiệm tổ
chức quản lý, điều hành thực hiện và giám sát tất cả các nội dung, công việc của các dự
án: cảng Sông Phú Định và các dự án khác do Cảng làm chủ đầu tư theo đúng trình tự,
nguyên tắc và thể lệ đã được Nhà nước qui định.
Nghiên cứu nắm chắc các văn bản pháp qui hiện hành về công tác quản lý đầu tư
và xây dựng cơ bản và kịp thời cập nhật các văn bản thay đổi có liên quan, để áp dụng
vào quá trình thực hiện công tác chuyên môn nghiệp vụ một cách chặt chẽ và có hiệu
quả.
Tổ chức thực hiện có chất lượng, đảm bảo tiến độ các nội dung công việc của toàn bộ quá
trình đầu tư. Bao gồm cả nội dung công tác của giai đoạn chuan bị đầu tư.
5) Các Xí nghiệp xếp dỡ :
Hoạt động theo cơ chế khoán của Công ty, là nơi quản lý lao động thực hiện việc
tổ chức xếp dỡ hàng hóa cho khách hàng đảm bảo số lượng, chất lượng, thời gian, tiêu
chuẩn kỹ thuật, an toàn cho người, phương tiện, hàng hóa trong quá trình xếp dỡ. Thống
kê kết quả sản lượng, doanh thu báo cáo về Công ty.
6) Bến tàu khách :(Tàu cánh ngầm đi TP.HCM – Vũng Tàu)
Quản lý tài sản, cơ sở vật chất của Công ty tại Bến Tàu khách Thành phố (Bến
Nguyễn Kiệu).
21
Tổ chức hướng dẫn các phương tiện ra vào bến, đảm bảo trật tự an toàn cầu tàu,
giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường đồng thời hướng dẫn hành khách lên xuống tàu an
toàn cho người và hành lý.
Phát hiện và ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực xảy ra trong khu vực bến.
3.1 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG TÀI SẢN VÀ NGUỒN VỐN
A. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG TÀI SẢN
A.1 Tình hình biến động tài sản qua bảng cân đối tài sản
Bảng 3.1: Cân đối tài sản năm 2008-2009
Đơn vị tính: đồng
TÀI SẢN NĂM 2008 NĂM 2009
CHÊNH
LỆCH
TỶ TRỌNG
(1) (2) (3)=(2)-(1) (4)=(3)/(1)
A. TÀI SẢN NGẮN HẠN 28,680,822,551 35,801,719,292 7,120,896,741 25%
I. Tiền và các khoản tương đương tiền 3,194,300,260 6,487,532,077 3,293,231,817 103%
II. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
III. Các khoản phải thu ngắn hạn 18,647,637,617 26,677,553,801 8,029,916,184 43%
IV. Hàng tồn kho
17,780,632 13,232,704 (4,547,928) -26%
V. Tài sản ngắn hạn khác
6,821,104,042 2,623,400,710 (4,197,703,332) -62%
B. TÀI SẢN DÀI HẠN 245,514,282,199 281,189,226,223 35,674,944,024 15%
Bảng 3.2: Cân đối tài sản năm 2009-2010
Đơn vò tính: Đồng
TÀI SẢN NĂM 2009 NĂM 2010
CHÊNH
LỆCH
TỶ TRỌNG
(1) (2) (3)=(2)-(1) (4)=(3)/(1)
A. TÀI SẢN NGẮN HẠN 35,801,719,292
34,495,608,089
(1,306,111,203) -4%
I. Tiền và các khoản tương đương tiền 6,487,532,077
5,203,681,688
(1,283,850,389) -20%
II. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
III. Các khoản phải thu ngắn hạn 26,677,553,801
27,654,737,126
977,183,325
4%
44,237,637,218
16%
III. Bất động sản đầu tư 587,728,371
(587,728,371) -100%
IV. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 27,100,000
(27,100,000) -100%
V. Tài sản dài hạn khác 1,804,236
415,491,075
413,686,839
22929%
TỔNG CỘNG TÀI SẢN 316,990,945,515
359,721,329,998
42,730,384,483
13%
(Nguồn số liệu: Phụ lục số1 )
Tổng tài sản năm 2010 so với năm 2009 tăng thêm 42.730.384.483 đồng, đạt tốc
mua bán vật liệu, vật tư, máy móc, mua sắm thuyền bè, xây dựng Cảng công, thủy lợi,
nộp thuế…. sang năm 2010 có giảm hơn so với năm 2009 nhưng không đáng kể.
- Các khoản phải thu ngắn hạn: nhìn chung từ năm 2008 đến năm 2010 tăng, trong
đó giai đoạn năm 2008-2009 chênh lệch tăng 8.029.916.184 đồng chiếm tỷ lệ tăng 43%,
và năm 2009 so với năm 2010 chênh lệch tăng 977.183.325 đồng chiếm tỷ lệ tăng 4% .
Vì giai đoạn 2008-2009 do Công ty cho thuê kho, bốc xếp, cung ứng vật liệu xây dựng
chưa thu tiền khách hàng. Năm 2010 khoản phải thu ngắn hạn giảm do khách hàng đã
thanh toán các khoản nợ trước.
- Hàng tồn kho: chủ yếu là một số công cụ bảo hộ lao động cấp phát cho công
nhân, chiếm tỷ trọng không đáng kể trên tổng tài sản qua các năm.
25
- Tài sản ngắn hạn khác: chủ yếu là các khoản tạm ứng nội bộ, từ năm 2008 đến
năm 2010 giảm từ 6.821.104.042 đồng còn 1.625.047.473 đồng, cho thấy Công ty tích
cực thu hồi các khoản tạm ứng bổ sung lượng tiền mặt phục vụ nhu cầu sản xuất kinh
doanh và đầu tư vào dự án Cảng sông Phú Định.
- Tài sản cố định: tăng đều qua các năm đạt tỷ lệ tăng 15%, 16% do có một số
hạng mục xây dựng cơ bản dự án Cảng sông Phú Định đã hoàn thành và đưa vào khai
thác sử dụng cho hoạt động kinh doanh.
- Các khoản đầu tư tài chính dài hạn: chủ yếu là đầu tư vào trái phiếu, năm 2010
đã đến kỳ hạn chuyển đổi thành tiền, khoản này chiếm tỷ trọng không đáng kể trong cơ
cấu tài sản của Công ty.
- Bất động sản đầu tư: từ năm 2008 đến năm 2010 có xu hướng giảm và bằng 0,
cho thấy các bất động sản Công ty đã đầu tư đã được khấu hao hoàn toàn.
- Tài sản dài hạn khác năm 2008 là 27.268.071 đồng so với năm 2009 là
1.804.236 đồng có xu hướng giảm và đột ngột tăng mạnh năm 2010 lên đến 413.686.839
đồng là vì giai đoạn năm 2010 Công ty thực hiện ký quỹ dài hạn tại các tổ chức kinh tế.
B. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG NGUỒN VỐN
B.1 Tình hình biến động nguồn vốn qua bảng cân đối nguồn vốn các năm