Luận văn tốt nghiệp -1-
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động ngân hàng là một
trong những hoạt động mang tính chất quyết định việc phát triển nền kinh tế đất
nước. Bởi vì đi cùng với sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế thì nhu cầu
vốn là nhu cầu vô cùng cấp thiết cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị
cũng như chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế. Thông qua hoạt động cho vay của
ngân hàng, các doanh nghiệp có điều kiện để mở rộng nguồn vốn của mình và có
thêm cơ hội để đầu tư. Điều này cho thấy vai trò của ngân hàng thương mại đối với
nền kinh tế ngày càng được củng cố và nâng cao
Như chúng ta đã biết ngân hàng là cầu nối trong quá trình chuyển dịch nguồn
vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế. Do đó, hoạt
động tín dụng của ngân hàng là mang tính chất quyết định đến toàn bộ hoạt động
của ngân hàng. Nhưng rủi ro tiềm tàng luôn đồng hành cùng với những hoạt động
kinh doanh của các ngân hàng và câu hỏi làm thế nào để hạn chế rủi ro mà vẫn tăng
trưởng được lợi nhuận?” vẫn luôn thách thức các ngân hàng và cơ quan chính phủ
trong việc điều hành và quản lý, đặc biệt là trong một nền kinh tế được dự báo là sẽ
tăng trưởng chậm lại trong năm 2011.
Vậy nhằm hạn chế tối đa cũng như tránh được những rủi ro trong tín dụng,
thì ngân hàng cần phải có một quy trình thẩm định tín dụng đúng đắn và phù hợp.
Việc thẩm định tín dụng làm cho ngân hàng có thể hạn chế được những rủi ro phát
sinh trong quá trình cấp tín dụng. Nhận thấy được tầm quan trọng của việc thẩm
định tín dụng đối với ngân hàng thương mại, nên em xin chọn đề tài "Quy trình
thẩm định tín dụng đối với các doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần
Á Châu”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thẩm định tín dụng là một nhân tố rất quan trọng trong việc hạn chế rủi ro,
nâng cao chất lượng tín dụng, tuy nhiên trong quá trình thẩm định tín dụng còn gặp
phải nhiều khó khăn. Do đó, đề tài của em tập trung nghiên cứu vào các nội dung
sau đây:
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG
1.1.1 Khái niệm tín dụng
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, “tín dụng” có nghĩa là sự vay mượn. Tín
dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức
hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử dụng sau đó hoàn trả lại với một
lượng giá trị lớn hơn.
Khái niệm tín dụng được thể hiện ba mặt cơ bản sau đây:
• Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang
người khác.
• Sự chuyển giao mang tính chất tạm thời.
• Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm
theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức. Một quan hệ được gọi là tín dụng phải
đầy đủ cả ba mặt
1.1.2 Các loại tín dụng:
Tín dụng có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo những tiêu
thức phân loại khác nhau:
1.1.2.1 Dựa vào mục đích của tín dụng
• Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp: Giúp khách
hàng trang trải các khoản chi phí hoạt động như chi phí mua hàng, trả lương…
• Cho vay tiêu dùng cá nhân: Việc cho vay của ngân hàng nhằm đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng của các gia đình, cá nhân như chi tiêu thường xuyên, chi sửa
chữa nhà cửa, mua sắm tài sản…
• Cho vay xây dựng ngắn hạn: Tạm ứng vốn cho bên thi công trong giai
đoạn thi công các công trình xây dựng.
• Cho vay mua bán bất động sản
SVTH: Hồ Thị Mai Trinh GVHD: Ths Đỗ Việt Hùng
Luận văn tốt nghiệp -4-
• Cho vay sản xuất nông nghiệp: Nhằm hỗ trợ nông dân trong giai đoạn
gieo trồng, bảo quản sản phẩm.
• Cho vay kinh doanh xuất nhập khấu…
Luận văn tốt nghiệp -5-
cứ (tư cách của khách hàng, quy mô hoạt động kinh doanh, uy tín trong lĩnh vực
kinh doanh và có lịch sử giao dịch tốt với các TCTD…) và đáp ứng tất cả tiêu chí
cho vay không có TSBĐ của từng ngân hàng.
• Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho
tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba. TSBĐ là biện
pháp nhằm làm giảm thiểu rủi ro mất vốn khi cho vay. Các hình thức của TSBĐ
gồm cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba, đảm bảo bằng tài sản
được hình thành từ vốn vay…
1.1.2.4 Dựa vào phương thức cho vay
Phân
biệt
Cho vay theo hạn mức
tín dụng (cho vay luân
chuyển)
Cho vay từng lần (cho
vay theo món)
Cho vay thấu chi
Khái
niệm
Cho vay theo hạn mức tín
dụng (HMTD) là hình
thức cấp tín dụng của
NHTM mà theo đó, khách
hàng có thể giải ngân và
trả nợ nhiều lần trong
phạm vi số tiền được cấp
và trong 1 khoảng thời
gian nhất định.
Cho vay từng lần (theo
Được thực hiện trên
tài khoản vãng lai
SVTH: Hồ Thị Mai Trinh GVHD: Ths Đỗ Việt Hùng
Luận văn tốt nghiệp -6-
Ưu
điểm
Phù hợp với các đơn vị, cá
nhân có nhu cầu vốn sản
xuất kinh doanh thường
xuyên, bên vay vốn chủ
động sử dụng nguồn vốn
tài trợ từ bên ngoài.
Thủ tuc đơn giản, khách
hàng chủ động được
nguồn vốn vay, lãi vay trả
cho ngân hàng thấp
Ưu điểm của hình thức
này là thủ tục rõ ràng,
ngân hàng chủ động
trong việc cho vay
Phổ biến ở Việt Nam
Khách hàng có thể rút
vượt số tiền hiện đang
có trong tài khoản khi
có nhu cầu tiêu dùng
nảy sinh bất chợt.
Đáp ứng mọi yêu cầu
hợp pháp của các chủ
thể trong nền kinh tế,
nhưng vay phải có
vay từng lần cho dự án
kinh doanh (ngắn hạn)
hoặc cho dự án đầu tư
(vay trung dài hạn).
Ngân hàng có thể tùy
vào uy tín hoặc chính
sách của mình mà cấp
cho hạn mức thấu chi
có tài sản đảm bảo
hoặc không
Cách
giải
ngân
Có thể giải ngân, trả nợ và
vay lại nhiều lần trong hạn
mức cho phép
Giải ngân một lần hay
nhiều lần toàn bộ số tiền
được vay
Giải ngân khi khách
hàng có nhu cầu vay
thấu chi nhưng không
vượt quá hạn mức thấu
chi
1.1.2.5 Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay
• Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần
khi đáo hạn.
• Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp
SVTH: Hồ Thị Mai Trinh GVHD: Ths Đỗ Việt Hùng
Luận văn tốt nghiệp -7-
hữu tài sản đảm bảo.
SVTH: Hồ Thị Mai Trinh GVHD: Ths Đỗ Việt Hùng
Luận văn tốt nghiệp -8-
Bước 2: Phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng là phân tích khả năng hiện tại và tương lai của khách hàng
trong việc sử dụng vốn vay và hoàn trả nợ vay.
Mục tiêu: Đánh giá một cách chính xác và trung thực khả năng trả nợ của khách
hàng để làm căn cứ quyết định cho vay
Nội dung phân tích:
• Phân tích phi tài chính: trả lời câu hỏi của khách hàng có đủ tư cách, uy
tín vay Ngân hàng không - là nội dung rất quan trọng để có quyết định đúng đắn.
• Phân tích tài chính: trả lời khách hàng có thể vay bao nhiêu và trong bao
lâu thì có thể hoàn trả Ngân hàng - để xác định hiện trạng tài chính và dự báo năng
lực tài chính của khách hàng trong tương lai mà đặc biệt là thời điểm đáo hạn để từ
đó có những ứng xử thích hợp.
Xác định thời hạn cho vay:
• Cơ sở để xác định thời hạn vay là tính chất luân chuyển vốn của phương
án sản xuất kinh doanh, phương án tài chính, chu kỳ ngân quỹ của khách hàng.
• Thời hạn cho vay không được quá thời hạn tối đa mà ngân hàng qui định
cho từng loại đối tượng vay và cũng như đối với mỗi ngành nghề.
Xác định kỳ hạn trả nợ:
Phải dựa trên phương án lưu chuyển tiền tệ của khách hàng, yêu cầu là phải có
lưu chuyển tiền tệ dương (xét trong toàn bộ kỳ vay vốn) đủ trả nợ gốc và lãi
Bước 3: Ra quyết định tín dụng
Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay đối
với một hồ sơ vay vốn của khách hàng.
Cơ sở ra quyết định tín dụng:
• Thực trạng kinh tế vĩ mô, quy định hiện hành của Nhà nước và các cơ
quan hữu quan.
• Chính sách tín dụng của ngân hàng.
SVTH: Hồ Thị Mai Trinh GVHD: Ths Đỗ Việt Hùng
Luận văn tốt nghiệp -10-
Bảng 1.1: Quy trình tín dụng tổng quát
SVTH: Hồ Thị Mai Trinh GVHD: Ths Đỗ Việt Hùng
Các giai đoạn Nguồn và nơi cung
cấp thông tin
Công việc của ngân
hàng ở mỗi giai
đoạn
Kết quả sau khi kết
thúc một giai đoạn
1. Lập hồ sơ đề
nghị cấp tín
dụng
- Khách hàng vay
vốn thực hiện
- Tiếp xúc và hướng
dẫn lập hồ sơ cho
khách hàng
- Hoàn thành bộ hồ
sơ để chuyển sang bộ
phận thẩm định
2. Thẩm định
tín dụng
- Hồ sơ đề nghị vay
được chuyển từ giai
đoạn 1 sang
- Các thông tin bổ
sung thu thập thêm
trong quá trình thẩm
các hợp đồng khác.
4. Giải ngân - Quyết định cho vay
và các hồ sơ liên
quan
- Các chứng từ làm
cơ sở để giải ngân.
- Thẩm định các
chứng từ theo các
điều kiện của hợp
đồng tín dụng.
- Chuyển tiền trực
tiếp vào các tài khoản
tiền gửi của khách
hàng hoặc chuyển trả
cho đơn vị cung cấp.
5. Giám sát
và thanh lý
tín dụng
- Các thông tin từ
nội bộ ngân hàng.
- Các báo cáo tài
chính theo định kỳ
- Các thông tin khác
- Phân tích hoạt
động tài khoản, các
báo cáo tài chính,
kiểm tra cơ sở của
khách hàng.
- Tái xét và xếp
hạng
Ước lượng kiểm soát rủi ro
tín dụng
Thẩm định khả
năng tài chính
Thẩm định tài
sản đảm bảo
Thẩm định hồ sơ
pháp lý và uy tín
trong quan hệ
với các tổ chức
tín dụng
Luận văn tốt nghiệp -12-
1.2.3 Nội dung của thẩm định tín dụng
• Thẩm định tín dụng là sự kết hợp của việc đánh giá kết hợp giữa các chỉ
tiêu định tính và các chỉ tiêu định lượng đối với khách hàng.
• Đây là bước rất quan trọng trong quy trình nghiệp vụ, nếu làm tốt bước
thẩm định này sẽ hạn chế được rất nhiều rủi ro cho Ngân hàng. Việc thẩm định
khách hàng và phân tích hồ sơ và phương án vay vốn do chuyên viên phân tích tín
dụng chịu trách nhiệm thực hiện với sự phối hợp của chuyên viên khách hàng có
liên quan.
• Mục đích của việc thẩm định khách hàng và phương án vay vốn là đánh
giá khả năng hoàn vốn vay cho Ngân hàng trên cơ sở tìm hiểu và đánh giá một cách
toàn diện chính xác về khách hàng.
• Việc quyết định cho vay sẽ dẫn đến rủi ro, nếu nội dung thẩm định
không chi tiết, đầy đủ, việc đánh giá phân tích khách hàng không khách quan và
chính xác, từ đó dẫn đến các quyết định sai lệch của cấp lãnh đạo phê duyệt đối với
khách hàng và gây ra rủi ro cho ngân hàng.
• Tuỳ theo khách hàng và phương án vay vốn, khi thẩm định, chuyên viên
phân tích tín dụng có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau: xem xét
trên hồ sơ, gặp gỡ trao đổi trực tiếp với khách hàng, xuống kiểm tra thực tế tình
của công nghệ đó, máy móc thiết bị ra sao có đáp ứng được các yêu cầu của khách
hàng, của thị trường về mẫu mã, chất lượng, số lượng không
1.2.3.2 Thẩm định các chỉ tiêu định lượng
• Phân tích bảng cân đối kế toán:
Mục đích của việc phân tích bảng cân đối kế toán: thông qua bảng
cân đối kế toán, ta có thể biết được toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp, hình
thái vật chất, cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn. Do đó, bảng cân
đối kế toán là một tài liệu quan trọng để nghiên cứu đánh giá một cách tổng quát
tình hình và kết quả kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế,
tài chính của doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán có những đặc điểm sau:
Các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán được phản ánh dưới hình
thái giá trị. Cho nên, ta có thể tổng hợp được toàn bộ tài sản của doanh nghiệp tại
một thời điểm. Từ đó, cho phép ta đánh giá khái quát tình hình tài chính qua các
chỉ tiêu về tài sản và nguồn vốn.
Các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán được phản ánh tại một thời
điểm nhất định, thời điểm đó thường là vào ngày cuối cùng của kỳ hạch toán. Căn
SVTH: Hồ Thị Mai Trinh GVHD: Ths Đỗ Việt Hùng
Luận văn tốt nghiệp -14-
cứ vào hai số liệu ở hai thời điểm đầu năm và cuối kỳ cho phép ta đánh giá những
biến động của tài sản và nguồn vốn giữa các kỳ kế toán.
• Phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là báo cáo tổng hợp cho biết
tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của khách hàng tại những thời
kì nhất định. nó cung cấp các thông tin tổng hợp về tình hình tài chính và kết quả sử
dụng các tiềm năng về sử dụng vốn, lao động, kĩ thuật và trình độ quản lý sản xuất
kinh doanh của khách hàng. đồng thời nó cũng giúp phân tích so sánh được doanh
thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng, dịch vụ với tổng chi phí phát sinh và số
tiền thực xuất quỹ để thực hiện kinh doanh. Ngoài ra theo quy định của Việt Nam,
báo cáo thu nhập còn có thêm phần kê khai tình hình thực hiện nghĩa vụ của khách
đánh giá được khả năng của khách hàng về nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn
chiếm dụng và vốn vay, hàng hoá tồn kho, cơ cấu tài sản lưu động và cố định đến
thời điểm hiện tại là phân tích định lượng, từ đó có kết luận về thực trạng khách
hàng có khả năng hoàn trả nợ vay cho Ngân hàng hay không.
Tình hình tài chính phải được xem xét một cách tỷ mỉ và có hệ thống ít nhất
trong hai năm liên tục (trừ trường hợp khách hàng mới thành lập) để rút ra kết luận
tình hình tài chính có lành mạnh hay không. Khi phân tích tình hình tài chính của
khách hàng thường xét đến các chỉ tiêu sau:
Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán: Đây là chỉ số rất quan trọng
đối với ngân hàng khi xem xét cho khách hàng vay vốn, nó cho ta biết khả năng trả
nợ của khách hàng đối với các khoản nợ đến hạn. Để đánh giá khả năng thanh toán
của khách hàng thường sử dụng các hệ số sau:
Khả năng thanh toán ngắn hạn =
Khả năng thanh toán nhanh =
Vốn lưu động ròng = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu vốn lưu động ròng là số vốn lưu động tự có mà doanh nghiệp thường
xuyên có, đây là nguồn bổ sung của doanh nghiệp để thanh toán các khoản nợ khi
đến hạn. Nếu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp âm chứng tỏ doanh nghiệp đã
dùng vốn ngắn hạn vào đầu tư TSCĐ, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng
SVTH: Hồ Thị Mai Trinh GVHD: Ths Đỗ Việt Hùng
Luận văn tốt nghiệp -16-
thanh toán của khách hàng.
Doanh thu: Cần phân tích tổng doanh thu về mức độ tăng trưởng
và tỷ trọng doanh thu của mỗi loại mặt hàng như: doanh thu trong nội địa; doanh
thu với nước ngoài như hàng xuất khẩu, nhập khẩu doanh thu hàng ủy thác. Qua
phân tích doanh thu kết hợp với những phân tích trong phần thẩm định về tình hình
sản xuất kinh doanh để rút ra kết luận về những thành công, hạn chế của doanh
nghiệp trong việc tiếp cận thị trường và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
nhập doanh nghiệp, nên khi tìm hiểu Chuyên viên khách hàng có thể yêu cầu khách
hàng cung cấp báo cáo thực để có cơ sở phân tích một cách chính xác.
Mức độ độc lập về tài chính:
Mức độ độc lập về tài chính cho chúng ta thấy khả năng tài chính của doanh
nghiệp khi không có nguồn tài trợ từ bên ngoài. Nếu mức độ độc lập tài chính cao
thì doanh nghiệp ít phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài và mức độ rủi ro thấp. Tuy
nhiên nếu doanh nghiệp chỉ hoạt động bằng vốn tự có thì sẽ bị hạn chế rất nhiều đến
khả năng mở rộng kinh doanh và lợi nhuận. Để đánh giá mức độ độc lập về tài
chính của doanh nghiệp ta thường căn cứ vào tỷ suất tự tài trợ. Tỷ suất tự tài trợ cho
ta biết tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.
Tỷ suất tự tài trợ =
Tỷ suất tự tài trợ càng cao thì mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp càng
cao và ngược lại.
Phân tích sự biến động về tài sản và nguồn vốn:
Trong quá trình hoạt động, tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp sẽ liên tục
biến động cả về qui mô và cơ cấu.
Thông thường, khi tổng tài sản tăng chứng tỏ doanh nghiệp đang mở rộng sản
xuất kinh doanh và kết quả là doanh thu, lợi nhuận cũng tăng theo. Trường hợp tổng
tài sản tăng nhưng doanh thu không tăng phải tìm hiểu nguyên nhân có thể do
TSCĐ mới đưa vào hoạt động hoặc doanh thu không tăng nhưng lợi nhuận tăng có
thể do quản lý về tài chính tốt hơn, giảm chi phí Những trường hợp tổng tài sản
tăng mà doanh thu, lợi nhuận không tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp đang bị giảm sút giảm phải tìm hiểu nguyên nhân và xu hướng thay đổi kèm
theo các giải pháp.
Phân tích cơ cấu tài sản cho ta thấy mỗi loại tài sản chiếm tỷ trọng bao nhiêu
trong tổng tài sản, mức độ biến động của mỗi loại tài sản trong kỳ để đánh giá chất
lượng tài sản có của doanh nghiệp.
SVTH: Hồ Thị Mai Trinh GVHD: Ths Đỗ Việt Hùng
Luận văn tốt nghiệp -18-
Khi phân tích tài sản cần quan tâm đến mức độ đầu tư vào tài sản
doanh của khách hàng, nó cho ta thấy mặt hàng nào nhập nhiều, mặt hàng nào nhập
ít, mặt hàng nào dễ bán, mặt hàng nào khó bán, lượng tồn kho là bao nhiêu và đặc
biệt cần tìm hiểu trong số hàng tồn kho có bao nhiêu là hàng ế chậm luân chuyển,
SVTH: Hồ Thị Mai Trinh GVHD: Ths Đỗ Việt Hùng
Luận văn tốt nghiệp -19-
bao nhiêu hàng kém chất lượng.
Chu kỳ kinh doanh:
Việc xác định chu kỳ kinh doanh của công ty giúp cho việc xác định được
thời hạn vay trung bình cho các khoản vay ngắn hạn.
Số vòng quay hàng tồn kho =
Số vòng quay các khoản phải thu =
Chu kì kinh doanh =
(Số bình quân được lấy trung bình của đầu kỳ + cuối kỳ hoặc trung bình theo quý
nếu khách hàng cung cấp báo cáo tài chính theo quý).
Thông qua chỉ tiêu chu kỳ kinh doanh sẽ đánh giá được mức độ quay vòng vốn,
thời gian dự trữ hàng trung bình, khả năng và thời gian thu hồi được các khoản phải
thu. Nếu chu kỳ kinh doanh càng ngắn chứng tỏ Công ty sử dụng vốn tốt, không để
tồn kho và uy tín cao. Thường chu kỳ kinh doanh của Thương mại là < 3 tháng; Sản
xuất khoảng 6 - 9 tháng và Xây dựng có thể kéo dài 9 - 12 tháng. Trường hợp chu
kỳ kinh doanh của khách hàng dài hơn mức trung bình, phải tìm hiểu và trình bày
được nguyên nhân thể hiện đặc thù của khách hàng và phải mang tính chủ động.
Tuỳ theo đặc điểm của mỗi doanh nghiệp ta sẽ chú trọng phân tích yếu tố
này hay yếu tố khác. Ngoài các khía cạnh trên có thể phân tích bổ sung các khía
cạnh khác (như chi phí, tài sản cố định ) để có thể đánh giá một cách chính xác
nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng như dự báo xu hướng biến động.
Việc đi sâu vào phân tích các chỉ số nào, tuỳ theo các trường hợp dưới đây:
Đối với khách hàng xin cấp hạn mức tín dụng hoặc khách hàng
quan hệ vay vốn lần đầu tiên, phần phân tích tài chính phải đầy đủ các chỉ số
trên. Sau khi đã có hạn mức tín dụng được duyệt, thường kỳ hàng tháng hoặc
• Đánh giá được mức độ tin cậy của dự án đầu tư mà khách hàng đã lập và
nộp cho ngân hàng khi làm thủ tục vay vốn.
• Phân tích và đánh giá được mức độ rủi ro của dự án khi quyết định cho
vay
• Giảm xác suất của hai loại sai lầm khi quyết định cho vay cho một dự án
tồi và từ chối cho vay một dự án tốt
Việc thẩm định nhằm đưa ra cái nhìn tổng quát về khách hàng từ đó ngân
hàng có thể dự đoán được các khả năng có thể xảy ra, qua đó đưa ra những quyết
định cho vay hay là từ chối cho vay, và nếu cho vay thì phải kèm theo điều kiện gì.
1.3 TÍN DỤNG NGẮN HẠN
SVTH: Hồ Thị Mai Trinh GVHD: Ths Đỗ Việt Hùng
Luận văn tốt nghiệp -21-
1.3.1 Khái niệm tín dụng ngắn hạn:
Tín dụng ngắn hạn là một hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
được phân theo thời gian của khoản vay. Đó là những khoản vay có thời hạn ngắn
dưới một năm do đó khoản vay này thường được được dùng để đáp ứng nhu cầu
thiếu vốn tạm thời như phục vụ cho thanh toán hàng hóa, tài trợ, bổ sung vốn lưu
động hay thanh toán ngoại thương và phục vụ nhu cầu sinh hoạt
1.3.2 Đặc điểm
• Do nguồn tín dụng ngắn hạn dùng để cung cấp vốn cho chi tiêu, mua
nguyên vật liệu, bổ sung vốn lưu động nên số vốn vay thường nhỏ, nguồn vốn được
vay nhiều vòng. Trong khi đó đối tượng sử dụng vốn từ nguồn trung và dài hạn
thường là những tài sản cố định có thời gian sử dụng vốn lâu, nguồn vốn không
được quay vòng nhiều.
• Thời gian thu hồi vốn nhanh: do vốn tín dụng ngắn hạn thường được sử
dụng để bù đắp những thiếu hụt trong ngắn hạn, để đảm bảo cân bằng ngân quỹ,
giúp doanh nghiệp đối phó với những chênh lệch thu chi trong ngắn hạn… Thông
thường những thiếu hụt này chỉ mang tính tạm thời, hay mang tính mùa vụ, sau đó
khoản thiếu hụt này sẽ được bù đắp hoặc sẽ sớm thu lại dưới hình thái tiền tệ vì vậy
thời gian thu hồi vốn sẽ nhanh.
• Mỗi hợp đồng tín dụng có thể phát tiền vay một hoặc nhiều lần phù hợp
với tiến độ và nhu cầu sử dụng vốn thực tế của khách hàng. Mỗi lần nhận tiền vay
khách hàng lập giấy nhận nợ (mẫu 06). Trên giấy nhận nợ phải ghi thời hạn cho vay
cụ thể, đảm bảo không vượt so với thời hạn cho vay ghi trên hợp đồng tín dụng.
Loại tiền nhận nợ phải phù hợp với loại tiền xác định trên hợp đồng tín dụng. Tiền
vay phát bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản theo mục đích sử dụng tiền vay đã thỏa
thuận trong hợp đồng tín dụng.
• Ngân hàng phải quản lý chặt chẽ các khoản phát tiền vay của một
phương án/dự án, bảo đảm tổng số tiền cho vay trên các giấy nhận nợ không vượt
quá số tiền đã kí trong hợp đồng tín dụng.
• Thu nợ gốc và lãi tiền vay.
Thu nợ gốc: được tiến hành theo thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín
dụng, khách hàng phải chủ động trả nợ khi đến hạn và có thể trả trước hạn.
Tính và thu lãi: lãi được tính và thu cùng với ngày trả nợ gốc hoặc
tính và thu hàng tháng vào một ngày quy định được ghi vào hợp đồng tín dụng.
Trường hợp đặc biệt, ngân hàng và khách hàng thỏa thuận về thời điểm thu lãi.
SVTH: Hồ Thị Mai Trinh GVHD: Ths Đỗ Việt Hùng
Luận văn tốt nghiệp -23-
• Chuyển nợ quá hạn: đến thời điểm cuối cùng của thời hạn cho vay đã
thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, nếu khách hàng không trả được hết số nợ gốc
hoặc nợ lãi thì chuyển toàn bộ dư nợ gốc thực tế còn lại của hợp đồng tín dụng sang
nợ quá hạn.
1.3.3.3. Phương thức cho vay theo hạn mức:
• Cho vay theo hạn mức tín dụng được áp dụng đối với khách hàng có nhu
cầu vay vốn thưòng xuyên và có đặc điểm sản xuất kinh doanh, luân chuyển vốn
không phù hợp với phương thức cho vay từng lần.
• Hạn mức tín dụng: ngân hàng căn cứ vào phương án/dự án, kế hoạch sản
xuất, kinh doanh, nhu cầu vay vốn của khác hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị
tài sản đảm bảo tiền vay theo quy định của NHCT, khả năng nguồn vốn của NHCT
để tính toán và thoả thuận với khách hàng một hạn mức tín dụng duy trì trong thời
đầy đủ đối với tài sản bảo đảm, các văn bằng chứng nhận giá trị tài sản đ ảm bảo
của các cơ quan thẩm định độc lập.
Bước 2: Thẩm định và lập báo cáo thẩm định
• Khi toàn bộ các tài liệu cần thiết đã được cung cấp, cán bộ tín dụng sẽ
tiến hành đánh giá khách hàng, phân tích các báo cáo tài chính… nhằm đánh giá
năng lực vay nợ, uy tín của người vay, đánh giá năng lực cạnh tranh của khách hàng
trên thị trường, phân tích năng lực tài chính của khách hàng qua việc tính toán các
tỷ lệ, đánh giá các dòng tiền và các tài sản dự phòng của khách hàng có đủ để trả nợ
hay không.
• Ngoài ra thông qua kết quả phân tích kết hợp với nhu cầu xin vay của
doanh nghiệp, ngân hàng sẽ xác định được lượng vốn hợp lý ngân hàng có thể cung
cấp cho doanh nghiệp. Kết quả phân tích sẽ được thể hiện trong một báo cáo tóm tắt
để gửi cho những người có thẩm quyền theo quy định của ngân hàng xem xét quyết
định.
Bước 3: Ký kết hợp đồng tín dụng và tiến hành giải ngân
Sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nếu đơn xin vay của doanh nghiệp
được chấp nhận, các thủ tục cần thiết sẽ được hoàn tất và các bên liên quan sẽ ký
hợp đồng tín dụng và tiến hành giải ngân.
Bước 4: Kiểm soát trong khi cho vay và kết thúc hợp đồng:
Trong thời hạn của hợp đồng tín dụng, cán bộ tín dụng sẽ luôn theo dõi khoản
vay này để đảm bảo doanh nghiệp sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết, và
sử dụng vốn có hiệu quả. Nếu có bất cứ một dấu hiệu nào đáng ngờ đều được xem
xét cẩn thận, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp xử lý như ngừng giải ngân, hoặc
huỷ bỏ hợp đồng…
SVTH: Hồ Thị Mai Trinh GVHD: Ths Đỗ Việt Hùng
Luận văn tốt nghiệp -25-
Kết thúc một khoản vay, cán bộ tín dụng sẽ tổng kết và lưu trữ thông tin về
khoản vay để có thể sử dụng khi cần thiết.
.1.4 RỦI RO TÍN DỤNG
1.4.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng
khách hàng trong tuơng lai
2 Thông tin cung cấp cho
quá trình thẩm định chưa
nhiều
Ngoài việc thu thập thông tin từ CIC, ngân hàng
nên thu thập trực tiếp thông qua khách hàng kiểm
tra đối chiếu với các đối tác của khách hàng, qua
các báo cáo đã được kiểm toán Trong quá trình
phân tích các chỉ tiêu tài chính cần phân tích kỹ
SVTH: Hồ Thị Mai Trinh GVHD: Ths Đỗ Việt Hùng