sản xuất phân bón vi sinh cố định đạm. - Pdf 10


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM
KHOA MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề Tài:

SẢN XUẤT PHÂN VI SINH CỐ ĐỊNH ĐẠM
GVHD : TS. NGUYỄN THỊ HAI
SVTH : THÁI SƠN NAM
LỚP : 07CSH
MSSV : 207111032


Họ và tên sinh viên: THÁI SƠN NAM MSSV: 207111028
Ngành : Công nghệ sinh học Lớp: 07CSH 01
PHẦN DÀNH CHO KHOA, BỘ MÔN
Người duyệt:…………………………
Đơn vị ………………………………
Ngày bảo vệ…………………………
Điểm tổng kết…………………………
Nơi lưu trữ khóa luận tốt nghiệp………
……………………………………………….
…………………………………

…………
LỜI CẢM ƠN
Nam xin chân thành cảm ơn đến gia đình, thầy cô và bạn bè trong 3 năm
học vừa qua đã giúp đỡ, dìu dắt em tới ngày hôm nay. Đặc biệt, con xin chân
thành cô Hai đã không ngừng dìu dắt nâng đỡ con trong suốt quá trình học cho
đến ngày hôm nay. Con sẽ nhớ mãi đến cô, từ khi thực tập và làm bài tốt nghiệp
cô không ngừng giảng giải, sửa chửa để hoàn thiện hoàn thiện bài báo cáo thực
tập cũng như bài tốt nghiệp.
Con xin chân thành cám ơn cô!
Thái Sơn Nam.

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
Phần mở đầu Trang
CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH TIÊU THỤ PHÂN BÓN TRONG NÔNG NGHIỆP
1.1 Tình hình tiêu thụ phân bón trên thế giới 02
1.2 Tình hình tiêu thụ phân bón ở Việt Nam 06
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA PHÂN BÓN HÓA HỌC ĐẾN MÔI
TRƯỜNG SINH THÁI

3.3.2.2 Vi khuẩn tự do azospirillum 21
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP PHÂN LẬP, GIỮ GIỐNG VÀ NHÂN SINH KHỐI
4.1 Phân lập 24
4.1.1 Phân lập sơ bộ 24
4.1.1.1 Vi khuẩn cộng sinh Rhizobium 24
4.1.1.2 Vi khuẩn Azotobacter 25
4.1.1.3 Vi khuẩn azospirillum 26
4.1.2 Phân lập thuần khiết 27
4.1.2.1 Vi khuẩn Rhizobium 27
4.1.2.2 Vi khuẩn Azotobacter 28
4.1.2.3 Vi khuẩn Azospirillum 28
4.2 Phương pháp giữ giống 28
4.2.1 Vi khuẩn Rhizobium 28
4.2.2 Vi khuẩn Azotobacter 29
4.2.3 Vi khuẩn Azospirillum 30
4.3 Cơ chế cố đònh Nitơ 31
4.3.1 Cơ chế cố đònh Nitơ phân tử 31
4.3.2 Quá trình khử 32
4.4 Phân loại phân vi sinh cố đònh đạm 33
4.5 Nhân sinh khối 35
4.6 Quy trình sản xuất 37
4.7 Các loại phân bón vi sinh cố đònh đạm 38
4.7.1
Sản xuất nitragin từ vi khuẩn nốt sần
rhizobium
38
4.7.2
Phân vi sinh của Azotobacter 39
4.7.3 Phân vi sinh azospirillum 40
CHƯƠNG 5 :HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CỦA PHÂN VI SINH CỐ ĐỊNH ĐẠM


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: SẢN XUẤT PHÂN VI SINH CỐ ĐỊNH ĐẠM
GVHD : Nguyễn Thò Hai
SVTH : Thái Sơn Nam
Trang 2
CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH TIÊU THỤ PHÂN BÓN TRONG SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP
Theo Võ Thò Loan năm 2008:
Phân bón ngoài hiệu ứng trực tiếp là tăng năng suất cây trồng, nó còn có
tác dụng rất lớn đến việc nền đất thâm canh mà lâu nay người sử dụng ít chú ý
đến. Tuy nhiên, sử dụng phân bón hóa học quá mức và không hợp lý đã dẫn đến
những ảnh hưởng xấu đến tính chất đất, phẩm chất nông nghiệp cũng như môi
trường, do đó ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và động vật.
Trước thế kỷ XIX nông nghiệp thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
vốn là nền nông nghiệp hữu cơ. Châu Âu trước khi có phân hóa học, một ha
không đủ cung cấp lương thực cho một người, điều này, khẳng đònh vai trò không
thể thiếu của phân hóa học trong nền nông nghiệp hiện nay khi có sự bùng nổ về
dân số
Trong 4 chất dinh dưỡng cần thiết N, P, K, S cho cây trồng N (Nitơ) là
chất dinh dưỡng số 1, là nguyên tố tham gia vào tất cả các protein đơn giản và
phức tạp, là thành phần chủ yếu của chất nguyên sinh của tế bào thực vật. Nitơ
cũng là thành phần các acid nucleic đóng vai trò hết sức là quan trọng trong trao
đổi chất của cơ thể, cây trồng khi cung cấp không đủ Nitơ cho cây trồng thì cây
trồng sinh trưởng và phát triển kém, lá có màu vàng có màu lục nhạt, năng suất

dụng cho 1 ha gieo trồng (kg/ha)
Hà Lan
Hàn Quốc
Nhật Bản
Trung Quốc
Việt Nam
758
467
430
390
80-90
(Nguồn nông nghiệp và môi trường, Lê Văn Khoa, NXBNN)
Qua bảng trên cho thấy trong khu vực Châu Á lượng phân bón sử dụng
cho 1ha gieo trồng năm 2001 ở Hà Lan lớn nhất 758 kg/ha, Việt Nam chỉ bằng
30,8% lượng sử dụng ở Trung Quốc và 19,4% lượng sử dụng ở Nhật Bản. Năng
suất lúa của Việt Nam bằng 53,9% của Trung Quốc, 48,1% của Nhật Bản.
Theo kết quả nghiên cứu của Hiệp Hội Công Nghiệp Phân Bón thế Quốc
Tế IFA: nhìn tổng thể xu hướng tiêu thụ phân bón giảm xuống từ đầu những
năm 1990 đến 1992 giảm 9 triệu tấn, 1993 đến 1994 giảm gần 14 triệu tấn. Tuy
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: SẢN XUẤT PHÂN VI SINH CỐ ĐỊNH ĐẠM
GVHD : Nguyễn Thò Hai
SVTH : Thái Sơn Nam
Trang 4
nhiên, ở các nước đang phát triển xu hướng sử dụng phân bón vẫn tăng lên. Năm
1993 đến 1994, các nước đang phát triển tiêu thụ phân bón tăng lên 55%, năm
1998 đến 1999 tăng lên 58%. Vì lẽ đó sản xuất phân đạm cũng tăng lên ở các
nước phát triển, năm 1980 đến 1981 tăng 31%, năm 1992 đến 1993 tăng 45%
[23].
Phân bón hóa học đặc biệt là phân đạm đã đóng góp vai trò quan trọng
trong tăng năng suất cây trồng, phân bón đã tăng ở các nước công nghiệp phát

triệu tấn vào năm 2010, đạt 180 triệu tấn. Riêng năm 2010 sản lượng phân ure
của thế giới có khả năng tăng thêm 14 triệu tấn, chủ yếu nhờ sự gia tăng sản
lượng của khu vực Tây Á và Trung Quốc.
-
Phân đạm và amoniac: năm 2010 sản lượng amoniac toàn cầu có thể
đạt 202 triệu tấn, tăng 35 triệu tấn so với 167 triệu tấn năm 2006. Sản lượng
amoniac của thế giới dự kiến tăng bình quân 7%/ năm trong giai đoạn 2006-
2009 và có thể tăng thêm 15 triệu tấn vào năm 2010. Khu vực Tây Á có thể
chiếm 1/3 mức gia tăng sản lượng trong khoảng thời gian trên.
Theo IFA, nhu cầu tiêu thụ phân đạm của thế giới trong giai đoạn 2006-
2010 dự kiến tăng bình quân 1,8%/năm, đạt 99,1 triệu tấn vào 2010. Nguồn cung
ứng phân đạm toàn cầu có thể tăng bình quân 5,4%/năm, trong khi nhu cầu tiêu
thụ chỉ tăng 2,1%.
- Đối với phân lân: sản lượng phân lân của thế giới tăng bình quân
khoảng 2%/năm từ 77 triệu tấn trong năm 2006 lên 195 triệu tấn trong năm
2010. Trong đó Trung quốc có khả năng chiếm 1/3 mức gia tăng này trong thời
gian trên. Ngoài ra sản lượng phân lân của các nước và khu Tây Á, Châu Phi,
Đông Á và Mỹ Latin dự kiến sẽ tăng lên khi tình hình sản xuất ở Mỹ không
thuận lợi.
- Đối với phân DAP: sản lượng DAP toàn cầu dự kiến tăng thêm 3,3
triệu tấn P
2
O
5
vào năm 2010, đạt 24,1 triệu tấn P
2
O
5
. Trung Quốc chiếm 40%
mức gia tăng sản DAP kể trên.

nước ta trong những năm qua đã chứng minh rằng không có phân bón thì không
thể đạt được năng suất và sản lượng cao. Nếu không có phân bón nông nghiệp
không thể nào tăng gấp 4 lần trong vòng 50 năm qua và là một trong các yếu cơ
bản để tăng mức sống. Trong đó, phân bón hóa học đã chiếm lónh chủ yếu trong
các loại phân được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp của hầu hết các nước trên
thế giới.
Việt Nam là một nước nông nghiệp trồng lúa nước nhưng so với thế giới
thì đến năm 50 của thế kỷ này mới bắt đầu làm quen với phân bón hóa học. Tuy
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: SẢN XUẤT PHÂN VI SINH CỐ ĐỊNH ĐẠM
GVHD : Nguyễn Thò Hai
SVTH : Thái Sơn Nam
Trang 7
vậy mức độ sử dụng phân bón hóa học ở Việt nam mỗi năm mỗi tăng. Năm 1980
cả nước sử dụng 500 ngàn tấn phân đạm (quy về đạm tiêu chuẩn) và trên 200
ngàn tấn phân lân (quy về superphosphat đơn). Đến năm 1990 đã sử dụng 2,1
triệu tấn phân đạm và 650 ngàn tấn phân lân[30].
Mức độ sử dụng phân bón hóa học (N+ P
2
O
5
+ K
2
O) trong 17 năm (1985
đến 2001) tăng bình quân 9%/năm và đang có xu hướng tăng khoảng 105 trong
thới gian tới. Từ 1985 đến nay sử dụng phân đạm tăng trung bình 7,2%/năm,
phân lân tăng 13,9%/năm, phân kali tăng tốc độ cao nhất tăng 23,9%/năm. Tổng
lượng dinh dưỡng (N+ P
2
O
5

2
O
5
: K
2
O là 1:
0,47 : 0,36, trong đó các nước đang phát triển tỷ lệ này là 1: 0,37 : 0,17. Việt
Nam mới chỉ đạt 1 : 0,2 : 0,04 mức độ sử dụng phân bón khác nhau ở nhiều vùng
[30].
Lượng phân bón sử dụng cho lúa không đều giữa các vùng trong cả nước,
liều lượng phân hóa học sử dụng đối với lúa ở Đồng Bằng Sông Hồng 155- 210
kg NPK/ ha, vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long 150- 200 kg NPK/ ha cho 1 vụ.
Khoảng 80% lượng phân hóa học sử dụng ở nước ta tập trung ở vùng trồng lúa.
Tuy nhiên, do hệ số sử dụng đạm không cao nên lượng đạm bón cho nông
nghiệp cao hơn nhiều so với nhu cầu. Trên các loại đất khác nhau, tỷ lệ liều
lượng bón rất khác nhau.
Mặc dù lượng phân bón hóa học ở nước ta còn chưa cao so với 1 số quốc
gia phát triển song đã tồn tại một số hạn chế gây sức ép lên vấn đề môi trường
do:
- Sử dụng không đúng kỹ thuật nên hiệu quả phân bón thấp.
- Bón phân không cân đối giữa tỷ lệ NPK, nặng nề về sử dụng phân
đạm. Cả nước tỷ lệ NPK là 1,0 : 0,3 : 0,1 trong khi tỷ lệ thích hợp là 1,0 : 0,5 :
0,3.
- Chất lượng phân bón không đảm bảo: hiện nay, ngoài lượng phân bón
nhập khẩu do nhà nước quản lý hoặc các doanh nghiệp công nghiệp trong nước
sản xuất còn một lượng lớn phân bón nhập lậu không được kiểm soát và một số
sơ sở nhỏ lẻ sản xuất trong nước không đảm bảo chất lượng. Chính lượng phân
bón này gây ra áp lực và ảnh hưởng xấu đến môi trường đất.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: SẢN XUẤT PHÂN VI SINH CỐ ĐỊNH ĐẠM
GVHD : Nguyễn Thò Hai

suất và thói quen sử dụng đạm (đặc biệt ở các vành đai rau màu của các thành
phố lớn) nhân dân sử dụng với liều lượng cao làm xuất hiện trong đất, sản phẩm
có chứa nhiều NO
3
-
, NO
2
-
. Các hợp chất này dẫn đến hội chứng
Methaemoglobinaemia (hội chứng trẻ da xanh) hiện tượng rất phổ biến hiện nay
ở các nước đang phát triển. Trong các loại lương thực, thực phẩm, nước uống…
rau được sử dụng hằng ngày đưa vào cơ thể lượng NO
3
-
lớn nhất
Sự tích lũy NO
3
-
trong mô cây không độc với cây trồng, nhưng nó thể làm
hại gia súc, người và đặc biệt là trẻ em khi sử sử dụng lương thực, thực phẩm có
hàm lượng NO
3
-
cao. Thực ra tính độc của NO
3
-
rất thấp, NO
3
-
trong lương thực

+ H
2
O)
Trong máu, ion NO
2
-
ngăn cản sự kết hợp oxi với hemoglobin ở quá trình
hô hấp, quá trình này được lặp lại nhiều lần. Vì vậy, mỗi phân tử nitrit có thể
biến đổi rất nhiều phân tử hemoglobin thành mathaemoglobin. Metheamoglobin
được tạo thành do oxyhemoglobin đã bò Fe
2+
oxy hóa thành Fe
3+
làm cho phân tử
hemologbin mất khả năng kết hợp với oxy tức là việc trao đổi khí của hồng cầu
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: SẢN XUẤT PHÂN VI SINH CỐ ĐỊNH ĐẠM
GVHD : Nguyễn Thò Hai
SVTH : Thái Sơn Nam
Trang 11
không được thực hiện. Cơ chế này dễ dàng xảy ra với trẻ em, đặc biệt là trẻ có
sức khỏe yếu, tiêu hóa kém do trẻ em còn thiếu enzyme cần thiết để khử nitrit
xuống N
2
và NH
3
rồi thả ra ngoài. Nelson (1984) cho rằng: bệnh
methaemoglobin có triệu chứng rõ rệt khi hàm lượng metheamoglobin lớn hơn
10% và trẻ em có thể chết khi trong máu có triệu chứng 50-70%
methaemoglobin
Trong dạ dày, do có tác dụng của hệ vi sinh vật, các loại enzyme và do

và bệnh lý methaemoglobin, xảy ra với gia súc ăn cỏ
có hàm lượng NO
3
-
quá cao. Nhìn chung độc NO
3
-
xảy ra với cừu biểu hiện rối
loạn máu, da, thở nhanh, máu biến đổi thành nâu và có thể xảy ra hiện tượng
xảy thai và sau đó gia súc bò chết.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: SẢN XUẤT PHÂN VI SINH CỐ ĐỊNH ĐẠM
GVHD : Nguyễn Thò Hai
SVTH : Thái Sơn Nam
Trang 12
Các nghiên cứu về tồn dư NO
2
-
cho thấy, hàm lượng chất này trong
nước uống, trong thực phẩm là không nhiều thậm chí là trong nước uống là
không đáng kể. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu chi ra rằng phân đạm tăng
tồn dư NO
3
-
trong nông sản. Khi bón đạm với liều lượng 30 – 180 kg N/ha thì
lượng tồn dư trong cà rốt và củ cải tăng từ 21.7 lên 41.6 mg/kg và 236 lên 473
mg/kg. Bùi Quang Xuân (1998) khi nước ảnh hưởng của phân bón tới năng suất
và hàm lượng NO
3
-
trong cà chua, hành tây cho thấy,từ bón phân đạm làm tăng

nhiên, cũng theo viện nghiên cứu tài nguyên thế giới, đất trồng trọt chiếm
20,6%. Như vậy, lượng NO
3
-
tích lũy trong đất trồng trọt tăng lên gấp 5 lần,
nghóa là 75 kg NO
3
-
/ha. Nếu tính lượng đất trên 1 ha có phân bố NO
3
-
ngấm sâu
0,5 m thì sau một năm sử dụng phân đạm khoáng hàm lượng NO
3
-
trong đất
khoảng 7,5 – 8 ppm. Một số nghiên cứu xác đònh được lượng đạm sản sinh ra
trên đồng ruộng chỉ khoảng 35 -55% có nguồn gốc phân hóa học, phần lớn vẫn
nhờ phân hữu cơ. Như vậy, tích lũy sẽ rất nhiều lớn hơn giá trò 8 ppm.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: SẢN XUẤT PHÂN VI SINH CỐ ĐỊNH ĐẠM
GVHD : Nguyễn Thò Hai
SVTH : Thái Sơn Nam
Trang 13
Mặc dù thực vật rất cần Nitơ nhưng nguyên tố này gần như được hấp thụ
rất ít và rất yếu trong đất. Chính vì thế mà nhiều nơi trên thế giới nước mặt,
lượng NO
3
-
ở nước sông và mức sử dụng phân đạm có tương quan r = +0,7. Trong
nồng độ nitơ dạng Nitrat ( NO

tăng nhanh trong một số ngày đầu và sau 6 ngày đêm
chiếm khoảng 11,5 – 17,4% tổng liều lượng Nitơ bón cho lúa. Nhưng thực tế
cũng cho thấy, lượng Nitơ được sử dụng rất nhiều trong nông nghiệp song quá
trình Nitrat và phản ứng Nitrat là quá trình mất đạm, mất chất dinh dưỡng đối với
cây trồng cũng diễn ra khá mạnh và nếu đứng từ gốc độ môi trường thì quá trình
chuyển hóa đạm ở các dạng NO
3
-
, NO
2
-
về dạng Nitơ phân tử trở lại khí quyển
góp phần làm cân bằng, ổn đònh hài hòa môi trường.

2.3 Sự tích lũy NH
3
-
và NH
4
+
trong môi trường đất
Phân bón hóa học chắc chắn đã gia tăng năng suất, nhưng việc sử dụng
lập lại, với liều rất cao gây ra sự ô nhiễm đất do các tạp chất lẫn vào. Hơn nửa
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: SẢN XUẤT PHÂN VI SINH CỐ ĐỊNH ĐẠM
GVHD : Nguyễn Thò Hai
SVTH : Thái Sơn Nam
Trang 14
nitrat và phosphat rãi một cách dư thừa sẽ chảy theo nước mặt và làm ô nhiễm
các mực thủy cấp.
Thâm canh không ngừng của nông nghiệp, sử dụng ngày càng nhiều các

2
+
, Fe
3
+
, làm giảm
hoạt tính sinh học của đất. Bón nhiều đạm vào thời kỳ muộn cho rau quả, đã làm
tăng đáng kể hàm lượng NO
3
-
trong sản phẩm.

2.4 nh hưởng của phân bón đối với môi trường sinh thái.
Theo số liệu tính toán của các chuyên gia trong lónh vực nông hóa học ở
Việt Nam, hiện nay hiệu suất sử dụng phân đạm mới chỉ đạt từ 30-45%, lân từ
40-45%, kali 40-50%, tùy theo chân đất, giống cây trồng, thời vụ, phương pháp
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: SẢN XUẤT PHÂN VI SINH CỐ ĐỊNH ĐẠM
GVHD : Nguyễn Thò Hai
SVTH : Thái Sơn Nam
Trang 15
bón, loại phân bón,… như vậy còn 60-65% lượng đạm tương đương với 1,77 triệu
tấn ure, 55-60% lượng lân tương đương 2,07 triệu tấn supe lân và 55-60% lượng
kali tương đương với 344 nghìn tấn kali clorua được bón vào đất nhưng chưa
được cây trồng sử dụng.
Trong số phân bón chưa được cây sử dụng, một phần còn ở lại trong đất,
một phần bò rửa trôi theo nước mặt do mưa, theo các công trình thủy lợi ra các ao
hồ, sông suối gây ô nhiễm nguồn nước mặt. Một phần rửa trôi theo chiều dọc
xuống tầng nước ngầm và một phần bò bay hơi do tác động của nhiệt độ hay quá
trình phản nitrat hóa gây ô nhiễm không khí.
Như vậy, ngoài tác dụng tích cực, tăng năng suất cây trồng thõa mãn nhu

nguồn dinh dưỡng cho đất như tổng hợp các chất đạm hữu cơ từ Nitơ của khí
quyển nhờ vi khuẩn nốt sần, sống cộng sinh vào cây họ đậu góp phần cung
cấp các chất dinh dưỡng có Nitơ hữu cơ cho cây và vi khuẩn cố đònh đạm
Azotobacterium giúp tăng Nitơ hữu cơ, vô cơ trong đất.
- Tăng cường sự phân giải các hợp chất hữu cơ trong đất, góp phần hình
thành chất mùn trong đất để tăng độ phì nhiêu trong đất
- Tăng cường sự chuyển hóa hợp chất vô cơ trong đất
Như vậy chế phẩm phân vi sinh cố đònh đạm không hại đến sức khỏe con
người, vật nuôi và cây trồng. Không gây ô nhiễm môi trường sinh thái.
Chế phẩm phân vi sinh cố đònh đạm có tác dụng cân bằng hệ vi sinh vật
trong môi trường sinh thái.
Chế phẩm phân vi sinh cố đònh đạm không làm chai đất, mà làm tăng độ
phì nhiêu cho đất
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: SẢN XUẤT PHÂN VI SINH CỐ ĐỊNH ĐẠM
GVHD : Nguyễn Thò Hai
SVTH : Thái Sơn Nam
Trang 17
Chế phẩm phân vi sinh cố đònh đạm đồng hóa chất dinh dưỡng cho cây
trồng, tăng suất và chất lượng sản phẩm
Chế phẩm phân vi sinh cố đònh đạm có tác dụng làm tăng chất đề kháng
cho cây trồng
Chế phẩm phân vi sinh cố đònh đạm phân hủy chuyển hóa các chất hữu cơ
bền vững, làm sạch môi trường.
Quá trình cố đònh Nitơ sinh học là quá trình khử Nitơ trong không khí
thành NH
3
dưới tác dụng của enzyme Nitrogenase của vi sinh vật
3.2 Lòch sử phát hiện
Trong khí quyển của Trái Đất khí Nitơ chiếm 78%, con người, động thực
vật đều cần đến đạm. Song đại đa số các sinh vật đều không sử dụng trực tiếp

quả trồng trọt và cải tạo môi trường đất canh tác. Chính phủ Việt Nam đã sớm
nhận thấy được vai trò của phân bón vi sinh, vì vậy từ năm 1994, Thủ tướng
Chính phủ đã ra Chỉ thò số: 644/TTg ngày 05 tháng 11 năm 1994 chỉ đạo việc
quản lý: sản xuất, kinh doanh và chất lượng phân bón vi sinh, trong đó đã nhấn
mạnh:” Để tiến đến một nền nông nghiệp sạch, giữ cho đất màu mỡ cần sử dụng
hợp lý các loại phân và thuốc trừ sâu hóa học dựa trên nguồn tài nguyên dồi giàu
về than bùn và photphosrit ở nước ta cần khuyến khích sử dụng các nguyên liệu
này làm chất nền và chất phụ gia để sản xuất phân bón vi sinh, chế phẩm vi sinh,
dùng chúng để thay thế dần các loại phân hóa học trong nông nghiệp theo xu
hướng chung của thế giới…”
3.3 Thành phần các vi sinh vật cố đònh đạm:
Vi sinh vật cố đònh đạm được chia làm 2 nhóm:
Vi khuẩn cộng sinh: chủ yếu thuộc về vi khuẩn nốt sần Rhizobium
Vi khuẩn tự do: Azotobacter, Azospirillum…
3.3.1 Vi khuẩn cộng sinh Rhizobium:
v Đặc điểm:
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: SẢN XUẤT PHÂN VI SINH CỐ ĐỊNH ĐẠM
GVHD : Nguyễn Thò Hai
SVTH : Thái Sơn Nam
Trang 19
Năm 1886, Beijerinck đã phân lập đïc chủng vi khuẩn nốt sần rễ đậu từ
rễ của một số cây đậu.
Thuộc loại hiếu khí không bào tử.
Hình dạng: là giống vi khuẩn nốt sần của cây họ đậu có hình dạng và kích
thước thay đổi phụ thuộc vào giai đoạn phát triển.
Khi vi khuẩn còn non, tế bào có dạng hình que ngắn , chuyển động được
Khi vi khuẩn già, tế bào có kích thước lớn, không chuyển động và phân
nhánh, được gọi là thể giả khuẩn. Giai đoạn này thường trùng với giai đoạn ra
hoa của thực vật, lúc đó cường độ cố đònh đạm của chúng cũng là cực đại.
Có loại đơn mao, có loại chu mao cũng có loại tiêm mao mọc thành chùm

điều kiện hiếu khí tốt thì chủng Azotobacter có thể cố đònh đạm từ 10- 30mg N,
khi sử dụng 4g đường, ở nhiệt độ, thích hợp 25- 30oc, pH 7,2-8,2. Trong môi
trường axit không có hoặc có ít Azotobacter.
v Phân loại:
Azotobacter phổ biến nhất là ba loài dưới đây:
Azo.chroococum: khi tế bào còn non có hình que, chuyển động được, kích
thướt tế bào từ 3-7micromet. Khi tế bào già thì có hình cầu, tế bào xếp thành
từng đôi hay hình khối có vỏ nhày. Khi nuôi cấy trên môi trường đặc khuẩn lạc
nhày không có màu hoặc màu nâu
Azo.agile: dạng hình cầu hoặc oval có kích thướt từ 3- 5 micromet đứng
riêng lẻ hoặc kết đôi, khuẩn lạc nhẵn, tiết sắc tố vàng hay lục vào môi trường
Azo.vinelandii: trong môi trường mới cấy có hình que, kích thướt tế bào từ
2-3 micromet. Khi tế bào già thì có hình cầu, bào tương rất đậm khuẩn lạc nhẵn,
trong suốt thường không có màng nhày. Chúng thường tiết sắc tố huỳnh quang
vào môi trường
Do Azotobacter có màng lipoprotein bên ngoài là những emzym hô hấp
hoạt động sử dụng oxi để hình thành ATP và làm cho oxi không thấm vào trong
màng, nơi có nitrogennase tiến hành cố đònh đạm ở điều kiện kỵ khí NH
3
được
hình thành đến một mức độ nào đó sẽ kiềm hãm nitrogenase, nó chính là hoạt
tính điều hòa nitrogenase.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status