Tiểu luận Công nghệ sản xuất phân bón vi sinh - Pdf 11

Tiểu luận Công nghệ sản xuất phân bón vi sinh

SVTH: Nguyễn Thị Xuân Hà, Đặng Thị Thuý, Nguyễn Văn Hùng 1

MỤC LỤC
LỜI MỞ
ĐẦU
3
PHẦN I. TỔNG

QUAN

VỀ

PHÂN

BÓN

VI

SINH

KÍCH

THÍCH

SINH

TRƯỞNG

CÂY

4
1.1.1.

Phân

loại
4
1.1.2

Quá

trình

trao

đổi

chất

của

auxin
4
1.1.3. Những ảnh hưởng của auxin đối với cây trồng 5
II.

Gibberellin

(GA)
7

dụng

của

GA
9
III.

Cytokinin.
9
3.1.

Nguồn

gốc
9
3.2.

Sinh

tổng

hợp

cytokinin
10
3.3.

Những


CÔNG NGHIỆP

SẢN
XUẤT PHÂN

BÓN

VI

SINH.
12
2.1.

Đặc

tính

của

vi

khuẩn

Azotobacter
12
2.1.1.

Hình

thái


các

chất

kích

thích

sinh

trưởng



những tác

động

của

chúng tới

cây

trồng
15
CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT PHÂN BÓN VI SINH KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG 16
Tiểu luận Công nghệ sản xuất phân bón vi sinh


t
ế 19
3.5 Lên men thu sinh
k
hố
i. 20
3.6 Kiểm tra sinh
k
hố
i 21
IV. CHUẨN BỊ CHẤT
M
ANG 22
4.1 Giới thiệu chung về chất
mang.
22
4.2 Lựa chọn chất mang cho Azotobacter 22
4.3. Xử lí chất
ma
ng
23
4.4 Cấy
chủng
24
4.5 Bảo
quản
24
4.6 Sử
dụn
g

phân bón hóa học trong sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các yếu tố dinh dưỡng đã gây
ra nhiều ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất và môi trường sinh thái. Để phát triển nông
nghiệp bền vững, cần phải có chiến lược an toàn dinh dưỡng cho đất và cây trồng: đó là
bảo đảm cung cấp đủ liều lượng cần thiết các chất dinh dưỡng thiết yếu đúng lúc cây
cần, theo tỷ lệ cân đối giữa các chất trong phân bón, phù hợp với yêu cầu từng loại cây trên
các vùng đất trồng dưới các điều kiện thời tiết, khí hậu khác nhau: an toàn dinh dưỡng cho
cây và đất trồng cũng có nghĩa bảo đảm và phát triển hệ sinh thái đất. Đất trồng không chỉ
là tập hợp các nguyên tố hóa học, mà còn là một thế giới sống – nơi trú ngụ và sinh
sống của hàng triệu triệu sinh vật, nơi từng giờ, từng phút diễn ra hàng loạt các phản ứng
lý, hóa và sinh học. Thông qua các phản ứng lý, hóa, sinh học và các hoạt động của
sinh vật sống, đất trồng mới có điều kiện để hồi phục và cân bằng thông qua các quy luật
của tự nhiên. Nếu phá vỡ các quy luật này, đất sẽ bị hủy hoại và không phát huy được vai
trò của nó. Bảo đảm an toàn dinh dưỡng cho cây và đất trồng không chỉ nâng cao năng
suất, chất lượng nông sản, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn góp
phần bảo vệ môi sinh, môi trường thông qua việc tạo thế cân bằng trong tự nhiên, giảm
bớt hóa chất độc sử dụng trong phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng. Chiến lược an toàn dinh
dưỡng cho cây và đất trồng là sử dựng cân đối phân bón hóa học và phân bón sinh học
cho cây trồng phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng và điều kiện đất đai, khí hậu trong đó phân
bón sinh học có vai trò vô cùng quan trọng. Phân bón sinh học không chỉ cung cấp cho
cây trồng các chất dinh dưỡng cần thiết mà còn góp phần duy trì độ phì nhiêu của đất
trong quá trình canh tác, do vậy có vai trò rất quan trọng trong thâm canh. Phân bón sinh
học là nhóm phân bón có nguồn gốc từ các chất liệu sinh học bao gồm các loại phân vi
sinh vật, phân hữu cơ được chế biến thông qua quá trình lên men vi sinh vật. Tiểu luận Công nghệ sản xuất phân bón vi sinh


niệm

Phân vi sinh kích thích sinh trưởng là sản phẩm chứa các vi sinh vật sống , có khả năng
tổng hợp các chất kích thích sinh trưởng như: auxin (IAA), Cytokinin, GA, ethylene kích
thích sự phát triển của cây trồng nâng cao năng suất nông sản.
I.

Các

chất

điều

hòa

sinh

trưởng

cây

trồng

chính
1.1.

Auxin

1.1.1.


ở vi khuẩn. Ở thực vật bậc cao IAA được tổng hợp chủ yếu ở đỉnh chồi ngọn và từ đó được
vận chuyển xuống dưới với vận tốc 0,5- 1,5cm/h. Sự vận chuyển của auxin trong cây
có tính chất phân cực rất nghiêm ngặt, tức là chỉ vận chuyển theo hướng gốc. Chính vì
vậy mà càng xa đỉnh ngọn, hàm lượng auxin càng giảm dần tạo nên một gradien nồng độ
giảm dần của auxin từ đỉnh ngọn xuống gốc của cây. Ngoài đỉnh ngọn ra auxin còn được
tổng hợp ở các cơ quan còn non khác như lá non, quả non, phôi hạt đang sinh trưởng, mô
phân sinh tầng phát sinh. Quá trình tổng hợp auxin xảy ra thường xuyên và mạnh mẽ
ở trong cây dưới xúc tác của các enzyme đặc hiệu. Axit β-Indol Axetic là loại auxin phổ
Tiểu luận Công nghệ sản xuất phân bón vi sinh

SVTH: Nguyễn Thị Xuân Hà, Đặng Thị Thuý, Nguyễn Văn Hùng 5

biến trong cây, được tổng hợp từ tryptophan bằng con đường khử amin, cacboxyl và oxy
hóa.
Công thức tổng quát của Axit β - Indol Axetic là C10H9O2N.
- Sự phân hủy auxin: Sự phân hủy auxin cũng là một quá trình quan trọng điều chỉnh
hàm lượng auxin trong cây. Auxin sau khi tác dụng có thể bị phân hủy làm mất hoạt tính
hoặc trong trường hợp hàm lượng cao và dư thừa auxin có thể bị phân hủy để giảm hàm
lượng. Sự phân hủy auxin trong cây chủ yếu xảy ra bằng con đường enzyme IAA-oxidase.
IAA-oxidase hoạt động rất mạnh trong cây, đặc biệt trong hệ thống rễ. Dưới tác dụng xúc
tác của IAAoxidase, IAA bị ôxy hóa và chuyển thành dạng mất hoạt tính là metilen oxindol.
- Sự biến đổi thuận nghịch dạng tự do và dạng liên kết: IAA ở trong cây có thể tồn tại
dưới hai dạng là dạng tự do và dạng liên kết. IAA tự do là dạng gây ra hoạt tính sinh lý ở
trong cây. Tuy nhiên, trong tế bào IAA tự do chiếm một hàm lượng rất thấp so với dạng
IAA liên kết. IAA liên kết ở trong cây là dạng chủ yếu, nhưng chúng không có hoạt tính
sinh lý hoặc có hoạt tính sinh lý thấp. AIA liên kết chủ yếu với gluxit và với axit amin.
Dạng liên kết của IAA có ý nghĩa rất lớn trong việc dự trữ IAA, làm giảm hàm lượng IAA
tự do, tránh tác dụng của IAA-oxidase và cũng là dạng vận chuyển auxin trong cây.
Nhờ ba quá trình trao đổi chất tiến hành đồng thời của auxin ở trong cây mà hàm lượng
auxin trong cây tương đối ổn định bảo đảm sự sinh trưởng, phát triển của các cơ quan và cơ

(địa hướng động dương). Theo thuyết Cholodny-Went về địa hướng động thì thân và rễ
đáp ứng với trọng lực tích lũy IAA về phía thấp hơn. Trong thân IAA kích thích sự sinh
trưởng trên mặt đáy của thân và làm cho thân nghiêng về phía trên. Khi cắt chóp rễ đi thì
khả năng đáp ứng của rễ đối với trọng lực bị mất đi và khi đặt chóp rễ trở lại thì tính địa
hướng động được phục hồi.
 Ưu thế chồi ngọn: Chồi ngọn được biết là nguyên nhân khống chế sự phát triển của
chồi bên. Khi cắt chồi ngọn, chồi bên sẽ phát triển. Tuy nhiên theo thời gian, chồi bên phát
triển trội lên và ức chế sự phát triển của những chồi bên mọc sau. Sau khi auxin được phát
hiện, hàm lượng cao của nó trong đỉnh chồi cũng đã được ghi nhận. Ưu thế chồi ngọn đã
được ghi nhận ở nhiều loài thực vật và được điều khiển bởi chất điều hòa sinh trưởng.
 Sự tượng rễ: Julius Von Sachs (1880) cho rằng trong lá non và những chồi hoạt
động có chứa một chất điều hòa sinh trưởng có khả năng dẫn truyền và kích thích sự tượng
rễ. IAA cũng đã được biết là chất có khả năng kích thích sự tượng rễ của cành giâm và
cũng đã cho thấy khả năng ứng dụng trong thực tiễn. Những auxin tổng hợp thường
được dùng thay vì IAA tự nhiên vì chúng không bị phân hủy bởi enzyme IAA oxidase hay
những enzyme khác và sẽ tồn tại trong mô trong một thời gian dài. Áp dụng auxin ngoại
sinh có thể kích thích sự tượng rễ và sự phát triển sớm của rễ, trái lại sự vươn dài của rễ nói
chung bị ức chế trừ khi áp dụng với nồng độ đủ nhỏ. Sự ức chế sinh trưởng của auxin
thường có liên quan đến sự kích thích sinh tổng hợp ethylene.
 Sự sản sinh ethylene: Sự kích thích sản sinh ethylene gây ra do auxin được ghi
nhận đầu tiên trên cà chua bởi Zimmerman và Wilcoxon (1935). Ngày nay, auxin đã
được biết là chất điều hòa sinh trưởng kích thích sự sinh tổng hợp ethylene trên nhiều
loài thực vật như đậu xanh, lúa, cỏ lồng vực…
 Sự phát triển trái: Sự gia tăng kích thước trái chủ yếu do sự nở rộng của tế bào gây
ra. Auxin có liên quan đến sự nở rộng của tế bào và đóng vai trò cơ bản trong việc quyết
định sự phát triển của trái. Vai trò mạnh mẽ của auxin trong sự phát triển của trái gồm hai
yếu tố. Thứ nhất là mối quan hệ giữa sự phát triển hột với kích thước cuối cùng và hình dạng
trái. Thứ hai là việc áp dụng auxin lên trái nào đó ở những giai đoạn đặc thù của sự phát
Tiểu luận Công nghệ sản xuất phân bón vi sinh


hợp

gibberellin

Nói chung người ta chấp nhận rằng gibberellin được tổng hợp từ mevalonic acid
trong những chồi non đang sinh trưởng tích cực và hột đang phát triển. Chu trình mevalonic
acid không chỉ có liên quan đến sinh tổng hợp gibberellin mà còn liên quan đến sinh tổng
hợp cytokinin, abscisic acid và brassinosteroid (hình 3.6). Sau khi mevalonic acid biến đổi
thành mevalonicacid pyrophosphate rồi thành isopentenyl pyrophosphate sẽ tách ra theo
hướng tổng hợp cytokinin, abscisic acid và con đường khác theo các bước tiếp theo để tạo
thành ent-kaurene sẽ dẫn đến sự thành lập các phân tử gibberellin. Quá trình tổng hợp
gibberellin có thể bị ức chế bởi các chất làm chậm sinh trưởng trong bước chuyển hóa từ
geranylgeranyl pyrophosphate thành copyl pyrophosphate. Các chất làm chậmsinh trưởng
gốc pyrimidine, triazole, tetcyclacis và inabenfide cũng ức chế sự biến đổi từ ent-
kaurene thành ent-kaurenol, từ ent-kaurenol thành ent-kaurenal, từ ent-kaurenal thành ent-
kaurenoic acid.
Quá trình sinh tổng hợp gibberellin của nấm G.fujikuroi và thực vật bậc cao có thể chia
thành 3 giai đoạn chính:
- Chuyển hóa mevalonic acid thành ent-kaurene.
- Chuyển hóa ent-kaurene thành gibberellin prototype, GA12-aldehyde.
Tiểu luận Công nghệ sản xuất phân bón vi sinh

SVTH: Nguyễn Thị Xuân Hà, Đặng Thị Thuý, Nguyễn Văn Hùng 8

- Chuyển hóa GA12 - aldehyde thành C20-, rồi thành C19 - GA với con đường
không 13-hydroxyl hóa và con đường 13-hydroxyl hóa sớm ở các vị trí khác nhau và sau
cùng thành các dạng GA khác nhau.
2.2.

Những

năm cây bình thường và sự lùn chủ yếu là do lóng bị ngắn lại. Các dạng đột biến lùn như đột
biến bắp lùn (Zea mays L.) d1 và d5 và lúa lùn (Oryza sativa L.) Tan-ginbozu và Waito-
C. GA nội sinh kiểm soát hoạt động của bắp và lúa là GA1. Việc xử lý GA ngoại sinh làm
cho các cây này cao trở lại bình thường. Cũng có những dạng đột biến lùn không đáp
ứng với việc áp dụng gibberellin ngoại sinh và cây vẫn lùn sau khi xử lý.
- Ảnh hưởng lên sự nảy mầm của hột và miên trạng: Hiện nay GA được biết là
những chất có khả năng kích thích nảy mầm và phá vỡ miên trạng trên nhiều loại cây trồng.
GA có thể kích thích hoạt động của các enzyme thủy phân hydrolase trong hột ngũ cốc.
GA ngoại sinh tác động lên lớp aleurone của hột ngũ cốc và kích thích sự sản
sinh enzyme α-amylase để tác động lên sự phân hủy tinh bột thành đường đơn.
Tác động này có tác dụng kích thích nảy mầm và phá vỡ miên trạng. Khoai tây có thể nảy
mầm sớm khi xử lý với GA3. GA cũng có thể kích thích sự nảy mầm của hột rau diếp mà
không cần xử lý ánh sáng đỏ. GA cũng có thể thay thế điều kiện nhiệt độ thấp hoặc ngày
dài để phá vỡ miên trạng.
Tiểu luận Công nghệ sản xuất phân bón vi sinh

SVTH: Nguyễn Thị Xuân Hà, Đặng Thị Thuý, Nguyễn Văn Hùng 9

- Ảnh hưởng lên sự trổ hoa: Gibberellin có khả năng thúc đẩy quá trình trổ hoa trong
nhiều loài thực vật. Đối với những cây cần yêu cầu ngày dài hay trải qua điều kiện lạnh
trước trổ hoa thì khi xử lý GA trong những điều kiện không cảm ứng chúng sẽ tượng hoa
và trổ hoa. Ảnh hưởng này có liên quan đến sự kích thích quá trình phân chia tế bào
và vươn dài tế bào.

- Ảnh hưởng lên sự phân hóa giới tính, đậu trái và lão hóa: GA có thể làm thay đổi
giới tính của hoa tương tự như auxin, cytokinin và ethylene. Tuy nhiên, GA có hiệu
quả ngược với auxin và ethylene. GA làm tăng số hoa đực trên dưa leo. GA cũng gây nên
hiện tượng trình quả sinh và tạo nên trái không hột. GA cũng giúp cho trái to và trì hoãn sự
lão hóa. Các loại trái nho không hột ở Nhật, Úc, Mỹ và châu Âu thường có xử lý GA3. Bằng
cách giảm lão hóa, GA giữ cho vỏ trái cam quít tươi lâu hơn, chậm mềm khi chín và

được gọi là kinetin bởi vì nó có khả năng kích thích sự phân chia tế bào hay sự phân bào
(cytokinensis) trong mô lõi thuốc lá.
Cytokinin có nguồn gốc tự nhiên được phân lập đầu tiên từ hột bắp non và được gọi
làzeatin(6-(4-hydroxy-3-methyl-trans-2-butenyl-amino)purine). Ngày nay, hầu hết
cytokinin được tìm thấy trong cây là zeatin (hình 3).

Tiểu luận Công nghệ sản xuất phân bón vi sinh

SVTH: Nguyễn Thị Xuân Hà, Đặng Thị Thuý, Nguyễn Văn Hùng 10

Hình 3. Cấu trúc của Zeatin
Hiện nay, có nhiều cytokinin tổng hợp được biết. Có 3 chất thông dụng là kinetin (6-
furfurylaminopurine), BA (6-benzylaminopurine), và BPA (6-benzylamino)-9-(2-
tetrahydropyranyl)-9H-purine) (hình 4).
Cytokinin đã được tìm thấy ở hầu hết thực vật bậc cao, rêu, nấm ký sinh và không ký
sinh, vi khuẩn, và cũng có trong phần lớn tRNA của vi sinh vật và tế bào động vật. Hiện tại
có hơn 200 cytokinin tự nhiên và tổng hợp đã được phát hiện.



ảnh

hưởng

sinh



của

cytokinin

- Phân chia tế bào và tạo thành cơ quan: Vai trò chính của cytokinin trong
cây là kích thích sự phân chia tế bào. Callus có thể được tạo thành ban đầu chỉ cần auxin
hoặc cytokinin riêng lẽ. Tuy nhiên để duy trì sự phát triển của callus, sự kết hợp của auxin
và cytokinin tỏ ra cần thiết. Tỉ lệ auxin/cytokinin sẽ ảnh hưởng lên sự tạo callus, rễ
hay chồi . Khả năng tái sinhcây từ callus là một công cụ kỹ thuật sinh học thông thường
dùng để chọn lọc những cây kháng với điều kiện khô hạn, stress do mặn, bệnh, thuốc cỏ hay
những yếu tố khác.
- Sự nảy mầm, sự mở rộng của tế bào và cơ quan: Kinetin có thể giúp hột rau diếp
nảy mầm vượt qua ảnh hưởng ức chế của ánh sáng đỏ xa. Cytokinin được biết là chất kích
thích sự phân chia tế bào, tuy nhiên vẫn có những trường hợp thấy được ảnh hưởng của
cytokinin lên sự mở rộng của tế bào. Cytokinin kích thích sự mở rộng tế bào trục hạ diệp
được cắt từ cây củ cải, bí rợ, cây lanh và nhiều cây song tử diệp khác. Sự mở rộng của tế bào
là do sự hấp thu nước gây ra do sự giảm thế năng thẩm thấu của tế bào được kích thích bởi
sự biến đổi trở lại của lipid dự trữ trong trục hạ diệp thành đường khử (glucose và fructose).
- Sự tượng rễ và sự phát triển rễ: Cytokinin có thể kích thích hoặc ức chế sự
khởi đầu và phát triển của rễ tùy theo nồng độ và thời gian xử lý. Kinetin có thể kích thích
sự gia tăng trọng lượng khô và sự vươn dài của rễ cây đậu lupin con, trái lại hai yếu tố

lạp thể sẽ được chuyển hóa thành lục lạp và kết quả là có sự gia tăng sự sản sinh diệp lục tố.
Cytokinin cũng làm giảm sự lão hóa của hoa cắt cành và rau tươi. Kinetin có khả năng
kích thích sự vận chuyển của những hợp chất hữu cơ trong lá đã cắt và giữ trong tối. Khả
năng của cytokinin kích thích sự vận chuyển dinh dưỡng và tạo ra sức chứa đã được biết
trên nhiều loài.

II.

GIỚI

THIỆU

VI

KHUẨN

AZOTOBACTER



ỨNG

DỤNG TRONG

CÔNG
NGHIỆP

SẢN XUẤT PHÂN

BÓN


Tiểu luận Công nghệ sản xuất phân bón vi sinh

SVTH: Nguyễn Thị Xuân Hà, Đặng Thị Thuý, Nguyễn Văn Hùng 13

Tên chủng:
Azotobacter agilis
Azotobacter armeniacus
Azotobacter sp. AR
Azotobacter beijerinckii
Azotobacter chroococcum *
Azotobacter sp. DCU26
Azotobacter sp. FA8
Azotobacter nigricans
Azotobacter paspali
Azotobacter salinestris
Azotobacter tropicalis
Azotobacter vinelandii *


thái

học

Tế bào Azotobacter tương đối lớn hơn so với vi khuẩn nói chung (đường kính
khoảng 1-2 micromet). Thường thì chúng có dạng hình oval, nhưng cũng có thể có nhiều
hình dạng khác, từ hình que đến hình cầu. Quan sát tiêu bản bằng kính hiển vi, ta có thể thấy
chúng phân tán hay co cụm thành đám, đôi khi lại hình thành các chuỗi dài ngắn khác nhau.
Trong canh trường non, các tế bào trở nên di động nhờ vào đuôi flagella.
Khi tế bào già đi, chúng mất dần khả năng di động, trở nên dạng hình cầu và sản sinh ra
lớp dịch nhầy, sau tạo thành vỏ tế bào. Hình dạng của tế bào được quyết định bởi a.a
Glycine có mặt trong canh trường peptone. Ngoài ra, khi quan sát canh trường còn nhìn thấy
nhiều thể vùi, một số có màu sắc. Vào khoảng những năm 1900, những thể vùi có màu được
cho là các hạt tái sinh “ reproductive grains”. Tuy nhiên, sau này người ta nhận
ra rằng những hạt đó không tham gia vào quá trình phân chia tế bào , mà đó là volutin,
còn những thể vùi không màu là giọt chất béo, giúp vi khuẩn dự trữ năng lượng.
2.1.2.

Nang

vi

khuẩn

Các nang của vi khuẩn Azotobacter giúp chống chịu một số yếu tố môi trường có
hại, độ khô, sóng siêu âm và đặc biệt là tia UV, nhưng lại không chịu được nhiệt độ cao.
Sự tạo nang xảy ra khi có sự thay đổi nồng độ một số chất dinh dưỡng trong môi trường
và việc thêm vào các chất hữu cơ như etanol, n-butanol hay beta-hydroxybutyrate. Dạng
nang hiếm khi hình thành trong môi trường lỏng, khi tạo nang thì kèm theo nhiều thay đổi

không có màu, tùy thuộc vào từng chủng cụ thể.
2.2.

Khả

năng

sản

xuất

các

chất

kích

thích

sinh

trưởng



những tác

động

của

3
canh trường (Miliv và Markova-ki, 1995). Nhưng tiến bộ trong sinh
học phân tử gần đây giúp cải tiến nhiều kỹ thuật phân tích, gia tăng độ nhạy, cho phép đo
đạc chính xác hơn sự có mặt và lượng phytohormone mà VSV tạo ra. Thêm vào đó, rất
nhiều quá trình sinh trưởng của thực vật không chỉ bị điều hòa bởi 1 hormone mà do tác
động của nhiều chất điều hòa khác. (Barendse và Peter, 1995; Voasenek và Blom, 1996).
Tiểu luận Công nghệ sản xuất phân bón vi sinh

SVTH: Nguyễn Thị Xuân Hà, Đặng Thị Thuý, Nguyễn Văn Hùng 16

CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT PHÂN BÓN VI SINH KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG Chất mang
Xử lý
Nghiền mịn
Đóng bao
Thanh trùng
Phân lập, tuyển chọn VSV
Lên men sinh khối
Thu sinh khối hỗn hợp, kiểm tra

p:

(1) Môi trường Burk (2)
Fe - Mo mixture K
2
HPO
4
0.08 g (3) Môi trường Thompson
– Sherman

K
2
HPO
4
1 g
MgSO
4

0,2 g
CaCl
0,1 g
Na
2
MoO

0.02 g
MgSO
4
.7H
2
O
0.02 g
NaCl
0.02 g
CaSO
4
0.01 g
Fe – Mo mixture
0.1 ml
Sucrose
2.0 g
H
3
BO
3

10.0 µg
ZnSO
4
.7H
2
O
10.0 µg
MnSO
4

tan,lúc đầu không màu, sau biền thành màu nâu tối, thậm chí đến màu đen nhưng không
làm nhuộm màu môi trường khuẩn lạc.Ngoài ra một số loài Azotobacter có dạng nhãn
nheo,khuẩn lạc có màu vàng lục,màu hồng.
3.2. Tuyển chọn các chủng VK Azo
tobacte
r
sinh tổng hợp
IAA

Từ các chủng VK phân lập được, chúng tôi tiếp tục tuyển chọn các chủng có
khả năng sinh tổng hợp IAA, dựa vào phản ứng màu với thuốc thử Salkowski (2 ml of 0.5
M FeCl3+ 98 ml 35% HClO4). Cường độ máu tỉ lệ thuận với nồng độ IAA.
Tiến
hành:
Phản ứng màu giữa thuốc thử Salkowski và IAA

.3. Tuyển chọn chủng sinh
Gib

Tiểu luận Công nghệ sản xuất phân bón vi sinh

SVTH: Nguyễn Thị Xuân Hà, Đặng Thị Thuý, Nguyễn Văn Hùng 19
. Qua kiểm tra thấy chủng
A.chroococcum
tổng hợp IAA mạnh nhất lại có khả năng
tổng hợp cả Gibberellins. Như vậy ta sẽ chọn A.chroococcum làm đối tượng để sản xuất.
3.4 Kiểm tra hoạt lực tổng hợp IAA của chủng vừa tuyển
trọn
trong
thực
t
ế
Sau 24h, hạt đậu đen được xử lý bằng dịch nuôi cấy của chủng A.chroococcum ở nồng
độ pha loãng 10

3.5 Lên men thu sinh
k
hố
i.
- Từ chủng VSV tuyển chọn ta tiến hành nhân sinh khối VSV theo phương pháp lên
men chìm trong môi trường Burk lỏng có sục khí và bổ sung N (cao nấm men, pepton hay
axit amin).
- Chuẩn bị môi trường.
Pha môi trường, điều chỉnh pH thích hợp với chủng rồi thanh trung môi trường.
Sinh khối VSV được nhân qua cấp 1,2 trong các điều kiện phù hợp với từng chủng
VSV và mục đích sản xuất.

Nhiệt độ
20 – 30
o
C
pH
7.0 – 8.0
Sục khí, khuấy
Khuấy
Áp suất
Áp suất thường
Đối chứng
Xử lý bằng dịch ở nồng độ 10
-2

Giống tr

lên men là bao nhiêu để chúng ta kiểm soát qua trình tiêm dịch vào chat mang cho đúng tỉ
lệ. Ta lam tương tự như phần phân lập với quy trình như sau:
1m
l
dịch
l
ên
m
enPha
l

ng

với
nhiều
tỉ
l


l
ạcĐể 2-3
ngàyTiểu luận Công nghệ sản xuất phân bón vi sinh

SVTH: Nguyễn Thị Xuân Hà, Đặng Thị Thuý, Nguyễn Văn Hùng 22

IV. CHUẨN BỊ CHẤT
M
ANG
4.1 Giới thiệu chung về chất
mang.
Chất mang là chất để vi sinh vật mong muốn tồn tại và phát triển, tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trình vận chuyển, bảo quản và sử dụng phân vi sinh. Chất mang không được
chứa chất có hại cho người , động thực vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản.
- Khi lựa chọn một chất mang để sử dụng cho phân bón vi sinh cần căn cứ vào các yếu
tố sau:
+ Bảo đảm cho vi sinh vật mong muốn sinh trưởng và phát triển tốt.
+ Dễ tìm, giá thành rẻ.
+ Không ảnh hưởng đến khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây trồng.
+ Khả năng đệm pH tốt.
+ Không chứa chất độc hại cho người, động vật, môi trường sinh thái
+ Dễ sử dụng trong nông nghiệp
- Nguồn gốc chất mang
+ Nguyên liệu hóa thạch: than bùn, than đá, than non Chất thải từ thực vật: phân, bột

30% - 40%
Đạm tổng số
1.4% - 1.7%
Lân tổng số
0.1% - 1.0%
Độ giữ nước
1.77
Chất khoáng
K, P

Tuy nhiên, than bùn có hợp chất bitumic rất khó phân giải. Nếu bón trực tiếp cho cây
không những không có tác dụng tốt mà còn làm giảm năng suất cây trồng. Vì vậy, than bùn
muốn dùng làm phân bón phải khử hết bitumic.
Trong than bùn có axit humic, có tác dụng kích thích tăng trưởng của cây. Hàm lượng
đạm tổng số trong than bùn cao hơn trong phân chuồng gấp 2 – 7 lần, nhưng chủ yếu ở dưới
dạng hữu cơ. Để có thể dùng than bùn làm chất mang, cần phải khử hết bitumic và đưa pH
về pH tối thích cho cả vi sinh vật mong muốn và đất cần bón.
4.3. Xử lí chất
ma
ng

- Dùng tác động của nhiệt để khử bitumic trong than bùn. Có thể phơi nắng một thời
gian để ôxy hoá bitumic. Có thể hun nóng than bùn ở nhiệt độ 70
o
C.
- Sấy đến độ ẩm 25 %-30%, rây để loại bỏ đất đá, rễ cây.
- Xay bằng kỹ thuật nghiền búa. Và được qua rây: 1mm, 355μm, 150 μm và 75 μm.
hoặc là nhỏ hơn.
- Điều chỉnh pH = 7.0 – 8.0 bằng CaO.
- Trộn nước thịt : than bùn với tỉ lệ 1 : 2.

9
tế bào.
-
Sau khi sản xuất mà không sử dụng ngay thì ta phải bảo quản
15



20
0
C thì hiệu
quả kéo dài trong 6 tháng; 4
0
C thì bảo quản trong 2
năm.
- Thời gian bảo hành được quyết định sau khi đã kiểm tra chặt chẽ các thông số: thành
phần, độ ẩm, nhiệt độ.
4.6 Sử
dụn
g

Muốn nâng cao sản lượng cây trồng, một trong những biện pháp cần thiết là đáp ứng
nhu cầu dinh dưỡng của cây. Bón phân hợp lý nghĩa là phải xác định lượng phân bón hợp lý
cho cây trồng, tỷ lệ các loại phân bón thích hợp, xác định thời kỳ và phương pháp bón phân,
biết độ phì của đất (khả năng cung cấp của đất) và mức độ sử dụng phân bón của cây.
Công nghệ sản xuất phân bón vi sinh kích thích sinh trưởng thực vật có thể sử dụng 1
chủng Azotobacter hoặc kết hợp với nhiều chủng vi khuẩn khác, nhằm tạo chế phẩm có khả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status