A. Lời mở đầu
Để thực hiện mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh, đất
nớc từng bớc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đi đôi với việc củng cố, hoàn thiện quan hệ
sản xuất tiên tiến, chúng ta phải phát triển đợc lực lợng sản xuất(LLSX)với năng
suất lao động ngày càng cao. Không có LLSX hùng hậu, năng suất lao động cao
thì không thể đổi mới công nghệ hiện đại, tạo nền tảng cho tăng trởng nhanh, hiệu
quả cao và bền vững của toàn bộ nền kinh tế. Nói cách khác, chúng ta cần phải
tiến hành công nghiệp hoá (CNH) theo hớng hiện đại hoá (HĐH). Công nghiệp
hoá là một giai đoạn phát triển tất yếu đối với bất kỳ quốc gia nào muốn tiến lên từ
một nớc có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Đó là tính tất yếu khách quan trong
quá trình phát triển của lịch sử.
Lịch sử CNH trên thế giới đợc mở đầu vào thế kỷ thứ XVIII ở nớc Anh.
Cũng vào khoảng thời gian này, trên thế giới đã có nhiều nớc tiến hành CNH và
hầu hết các nớc đều đã thành công và trở thành những quốc gia phát triển nh Liên
Xô, Đức, các nớc Tây Âu, Mỹ, Nhật... Cho đến ngày nay, ở các nớc đó CNH đã
thuộc về quá khứ, giai đoạn hậu công nghiệp trên quy mô thế giới đã đợc hình
thành; Một xã hội mới đang dần xuất hiện với nhiều tên gọi khác nhau nh "xã hội
thông tin", "xã hội công nghiệp", " xã hội hiện đại hoá" ....
Tuy nhiên, điều đó không phải là dấu hiệu cho sự kết thúc của một thời kỳ
CNH, HĐH. Bởi vì ngày nay thế giới vẫn còn những nớc đang trong tình trạng
chậm phát triển tồn tại song song với các nớc phát triển. Do đó, việc tiến hành
CNH, HĐH đã trở thành một vấn đề hết sức cấp bách. Song không phải bất cứ một
quốc gia nào cũng có thể tiến hành thành công quá trình CNH. Qua đó có thể thấy,
CNH-HĐH là một quá trình đầy khó khăn, gian khổ và phức tạp, nó không chỉ đòi
hỏi phải mất nhiều thời gian, công sức, tiền của và điều quan trọng là nó còn chịu
sự phụ thuộc vào các chủ trơng, đờng lối, chính sách của các nhà lãnh đạo. Vấn đề
đặt ra đối với các nhà lãnh đạo là cần phải xác định đợc tâm điểm của quá trình
CNH-HĐH trong từng giai đoạn cụ thể để từ đó có thể rút ngắn đợc thời gian tiến
hành và thu đợc kết quả cao nhất.
1
Đối với Việt Nam, là một nớc luôn đi sau do chịu hậu quả nặng nề của
những tiến bộ khoa học công nghệ và các phơng pháp sản xuất , các hình thức tổ
chức kiểu công nghiệp. Tiến bộ khoa học công nghệ nông nghiệp đã thúc đẩy
mạnh mẽ sản xuất nông nghiệp phát triển và cũng là động lực cơ bản, là nhân tố
quyết định trong quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp. Nội dung chủ yếu của
tiến bộ khoa học công nghệ trong nông nghiệp là các phơng thức tiến hành nh
thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá, hoá học hoá và sinh học hoá.
Thuỷ lợi hoá là gì? nó chính là quá trình thực hiện tổng thể các biện pháp sử
dụng các nguồn nớc trên mặt đất và dới mặt đất để phục vụ sản xuất và sinh hoạt
trong nông nghiệp, nông thôn đồng thời hạn chế các tác hại của nớc gây ra cho sản
xuất và đời sống.
Cơ giới hoá nông nghiệp là quá trình thay thế công cụ thô sơ bằng công cụ cơ
giới, lao động thủ công bằng lao động cơ giới, thay thế phơng pháp sản xuất lạc
hậu bằng phơng pháp khoa học.
Điện khí hoá nông nghiệp là quá trình sử dụng năng lợng điện và sản xuất
nông nghiệp và mọi hoạt động phục vụ đời sống nông thôn.
Hoá học hoá trong nông nghiệp là quá trình sử dụng các phơng tiện hoá học
do công nghiệp hoá chất sản xuất vào sản xuất nông nghiệp. Hoá học hoá có tác
dụng rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất cây trồng, năng suất sản phẩm
gia súc và đa lại hiệu quả kinh tế cao.
Sinh học hoá nông nghiệp là quá trình áp dụng những thành tựu mới về khoa
học sinh vật và khoa học sinh thái vào nông nghiệp, tiến hành cách mạng về
giống, cách mạng về cơ cấu cây trồng, cơ cấu vật nuôi và cách mạng về quy trình
kỹ thuật nông nghiệp.
Nh vậy công nghiệp hoá nông nghiệp còn bao hàm cả việc tạo sự gắn bó chặt
chẽ giữa phơng thức sản xuất công nghiệp với sản xuất nông nghiệp nhằm khai
thác triệt để lợi thế của nông nghiệp nâng cao hàm lợng chế biến sản phẩm của
nông nghiệp để tăng giá trị của chúng, mở rộng thị trờng cho chúng.
Còn hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình không ngừng nâng cao trình độ
khoa học - kỹ thuật - công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất và quản lý sản xuất
nông nghiệp. Đây là quá trình cần đợc thực hiện một cách liên tục vì luôn có
phát triển chung của thế giới. trình độ công nghiệp hoá hiện đại hoá biểu hiện
trình độ phát triển của xã hội. Vì vậy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nói riêng là con đờng đúng đắn mà
đảng ta đã lựa chọn trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội của mình, nó là "nhiệm
vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội", nó là con đờng tất
yếu để đa nớc ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và "nguy cơ tụt hậu" xã hơn so với
các nớc trong khu vực.
2. Cần làm gì để thực hiện tốt công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp?
4
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là một quá trình lâu dài cần đợc
tiến hành theo cách tuần tự, không thể nóng vội, không thể tuỳ tiện. Để thực hiện
đợc quá trình này cần có và thực hiện tốt những chơng trình mục tiêu, giải quyết
từng vấn đề có liên quan sau:
Trớc tiên, đó là những chơng trình với mục tiêu cụ thể là thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá một cách có trọng điểm ở một số vùng. Tinh thần chung
là việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở mỗi vùng trớc hết phải do dân c
các vùng đó chủ động thực hiện theo hớng của nhà nớc. Nhà nớc có thể hỗ trợ nh-
ng không làm thay, và cũng chỉ hỗ trợ trên cơ sở năng lực nội sinh của mỗi vùng.
Các địa phơng, dù là vùng trọng điểm, cũng không thể trông chờ vào nguồn tài trợ
của nhà nớc, không thể cố gắng "xin" của nhà nớc càng nhiều càng tốt nh trớc kia.
Hơn nữa, các khoản hỗ trợ của nhà nớc cũng phải đợc tính toán, quyết định trên cơ
sở hiệu quả cụ thể, rõ ràng cuối cùng của mỗi dự án. Nh vậy, các dự án thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá không thể không gắn với lợi ích của các chủ thể có
liên quan tới việc thực hiện nó. Tuy nhiên công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp không chỉ là sự nghiệp của riêng dân c nông thôn và nhà nớc, mà mỗi
ngành đều có trách nhiệm nhận thức rõ sự cần thiết của nó để có các chơng trình
hành động cụ thể, thích hợp. Họ cần nhận thức rõ rằng tham gia thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp không phải là để "giúp nông thôn phát triển"
mà cũng chính là vì lợi ích của họ. Chơng trình phục vụ công nghiệp hoá nông
nghiệp của mỗi ngành, mỗi đơn vị phải phù hợp với khả năng của ngành, đơn vị,
sách hợp lý để thực hiện.
III. Thực trạng của quá trình CNH- HĐH nông nghiệp -nông thôn
Việt Nam hiện nay
1. Thực trạng về cơ giới hoá.
Sau khi thực hiện giao đất cho hộ nông dân, hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự
chủ. Họ tự bỏ vốn mua máy móc, phơng tiện để phục vụ sản xuất của gia đình
hoặc làm dịch vụ trong các khâu làm đất, tới nớc, phun thuốc sâu, tuốt lúa. Hàng
năm có khoảng 1,8 triệu ha đất đợc cơ giới hoá, còn các khâu phun thuốc sâu, tuốt
lúa đã đợc cơ giới hoá phần lớn.
Trong lĩnh vực vận chuyển những năm gần đây các phơng tiện vận tải cơ
giới, nh xe công nông, các xe vận tải cỡ nhỏ thích hợp với hệ thống đờng xá của
Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, nên khâu vận chuyển nông sản phẩm phần lớn
đợc cơ giới hoá. Riêng khâu thu hoạch làm cơ chủ yếu vẫn dùng phơng pháp thủ
công.
Theo báo cáo số liệu thống kê nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 1995-1997.
Đến năm 1997 cả nớc có hơn 115. 487 máy kéo các loại sử dụng trong nông
nghiệp với tổng công suất hơn 2 triệu CV, tăng gấp 1,5 lần so với năm 1985. đặc
biệt máy kéo nhỏ thích hợp với quy mô hộ gia đình tăng rất nhanh, từ 17880 cái
với 19,60 nghìn CV năm 1990 tăng lên 71208 cái với công suất 810027 CV năm
1995 và 83.289 cái với công suất hơn 863 nghìn CV năm 1997, đặc biệt là ở Tây
nguyên nơi sản xuất tập trung cây công nghiệp dài ngày nh cà phê, cao su và là
vùng còn nhiều tiềm năng về đất khai hoang phục hoá nên số máy nông nghiệp
năm 1997 so với năm 1992 tăng 6,2 lần. ở đồng bằng Sông Cửu Long đến năm
1997 có gần 38 nghìn máy kéo các loại, chủ yếu là máy kéo lớn, gấp gần 2 lần
năm 1992. Các vùng khác, các loại máy công tác cũng tăng nhanh, nhất là máy
6
bơm nớc với năm 1994 là 537809 cái, đến năm 1997 tăng 583.159 cái. Theo số
liệu thống kê năm 1997 thì số lợng máy tuốt lúa là 190.680 cái, máy nghiền thức
ăn gia súc là 20.741 cái, xe reo 914 cái...
Nhờ có số lợng máy móc tăng nhanh nên nhiều công việc nặng nhọc trong
hợp thuỷ nông) các công trình này đã đảm bảo tới tiêu cho 3 triệu ha diện tích đất
canh tác (chiếm 53% tổng số) tiêu trên 2 triệu ha, ngăn mặn 0,7 triệu ha và chống
lũ cho 2 triệu ha. So với những năm đầu 90 thì số lợng công trình và lợng tới tiêu
7
đã tăng lên đáng kể. So với các vùng trong cả nớc thì đồng bằng sông cửu Long là
vùng có số lợng công trình và năng lực tới tiêu thuỷ lợi tăng nhanh nhất. Kể từ sau
ngày giải phóng đến nay. Nhà nớc đã đầu t trên 1000 tỷ đồng cho các công trình
thuỷ lợi, cha kể hàng trăm tỷ đồng của nông dân làm kênh mơng nội đồng. Đến
năm 1996, tonà vùng đã có 1185 công trình thuỷ lợi trong đó có 163 trạm bơm
điện và hệ thống kênh dẫn nớc ngọt sông Tiền, sông Hậu để tới nớc cho các vùng
lúa hàng hoá, phục vụ khai hoang tăng vụ, chuyển vụ và thâm canh. Riêng vùng
Đồng Tháp Mời, chỉ tính từ năm 1987 đến 1996, vốn đầu t cho thuỷ lợi của nhà n-
ớc và nhân dân đã lên tới 180,68 tỷ đồng đa nớc ngọt về để tăng diện tích 2 vụ từ
26806 ha năm lên 86400 ha, dùng nớc ngọt để ém phèn, đa giống mới vào, năm
1996 sản xuất đợc 1,3 triệu tấn lúa và trở thành vùng lúa hàng hoá lớn nhất đồng
bằng sông Cửu Long.
ở Đông Nam Bộ vốn là vùng khô cằn thiếu nớc ngọt trớc đây, sau 22 năm
giải phóng, nhà nớc và nhân dân đã xây dựng đợc 103 công trình thuỷ lợi trong đó
có 486 công trình độc lập công xuất tới 200 ngàn ha, nhiều nhất là Tây Ninh, 175
ngàn ha nhờ hồ Dầu tiếng. Với diện tích mặt hồ 27000 ha. Chứa 1,6 tỷ m
3
nớc
ngọt, cộng với tuyến kênh mới Tân Hng có khả năng cung cấp đủ nớc tới cho 172
ha đất trồng trọt thuộc các tỉnh Tây Ninh, Bình Dơng, Bình Phớc, Long An, thành
phố Hồ Chí Minh và cung cấp hàng triệu m
3
nớc ngọt cho công nghiệp chế biến
nông sản.
Các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên bằng việc phát triển thuỷ điện
nhỏ, chủ yếu là xây dựng các hồ, đập chứa nớc kết hợp với các công trình tự chảy
cả nhập khẩu không ổn định. Tổ chức nhập khẩu còn phân tán nên thờng gây ra
tình trạng tranh mua, tranh bán cạnh tranh không lành mạnh trên thị trờng, ảnh h-
ởng đến kết quả sản xuất nông nghiệp và gây thiệt hại cho nông dân. Năm 1996,
chính phủ đã tổ chức lại các đầu mối nhập khẩu phân bón và xuất khẩu gạo, nên
tình trạng lộn xộn trong nhập khẩu phân bón đã bớc đầu đợc hạn chế. Song vấn đề
hỗ trợ giá của nhà nớc đối với các loại vật t nông nghiệp quan trọng này lại cha đ-
ợc đặt ra.
Việc sử dụng các loại hoá chất trong nông nghiệp nớc ta cũng ngày càng tăng
lên, nhng so với thế giới vẫn chỉ thuộc các nhóm nớc trung bình. Mặc dù các loại
hoá chất đã góp phần quan trọng trong việc gia tăng sản lợng nông phẩm, nhng
cũng đang đặt ra những vấn đề về môi trờng, do vậy cần đợc quản lý và hớng dẫn
chặt chẽ để sử dụng hợp lý.
4. Về sinh học hoá nông nghiệp:
Việc ứng dụng thành tựu cách mạng sinh học trong những năm gần đây đã
tạo ra nhiều giống lúa, ngô, rau, cây ăn quả, cây lâm nghiệp, nhất là các loại giống
lai có tính chống chịu tốt và năng suất cao. Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật trong
lĩnh vực chăn nuôi nh lợn có tỷ lệ nạc cao, bò sinh hóa có thể tròng lớn và gà công
nghiệp có tốc độ tăng trởng nhanh, tiêu tốn ít thức ăn...v.v cũng đã đợc áp dụng
rộng rãi. Tuy nhiên, trình độ áp dụng thành cách mạng sinh học của nớc ta còn
thấp so với các nớc láng giềng.
5. Thực trạng về cơ cấu nghành nông nghiệp nớc ta hiện nay:
9