LUẬN VĂN:
Một số vấn đề tính và hạch toán khấu
hao tài sản cố định hữu hình trong các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở
Việt nam hiện nay Lời mở đầu
rong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất cứ một loại hình doanh nghiệp nào - dù
là trong hay ngoài quốc doanh - công tác kế toán là quan trọng và cần thiết, bởi nó
gắn liền với sự duy trì và tồn tại của doanh nghiệp.
Trong khuôn khổ của đề án này, cũng xin được đề cập đến một trong những phần
việc của công tác kế toán. Đó là việc thực hiện và hạch toán khấu hao tài sản cố định
hữu hình gắn với đề xuất thực hiện giá trị thu hồi trong hoạt động sản xuất kinh doanh
I. Một số vấn đề chung về tài sản cố định
1. Khái niệm và tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định
Theo quyết định số 166/1999/QĐ-BTC ngày 30 tháng 12 năm 1999 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính thì tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất,
có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài. Từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc
là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một
số chức năng nhất định.
Theo quy định hiện hành thì giá trị của tài sản cố định hữu hình là lớn hơn hoặc
bằng năm triệu đồng và thời gian sử dụng là hơn một năm. Tài sản cố định hữu hình
tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, bị hao mòn dần và giá trị của nó được
chuyển dịch từng phần vào chi phí sản xuất kinh doanh, giữ nguyên hình thái vật chất
ban đầu cho đến lúc hư hỏng.
Tài sản cố định bao gồm tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình và tài sản
cố định thuê tài chính. Trong khuôn khổ đề án này, em xin đề cập đến vấn đề tính và
hạch toán khấu hao tài sản cố định hữu hình.
Trước hết, muốn tính khấu hao được chính xác ta cần phải phân loại tài sản theo
từng nhóm.
2. Phân loại tài sản cố định hữu hình trong doanh nghiệp
Tài sản cố định hữu hình có rất nhiều loại và có rất nhiều cách để phân loại như:
phân theo quyền sở hữu (tự có và thuê ngoài), theo nguồn hình thành (nguồn vốn chủ
sở hữu, nguồn vốn vay, nguồn vốn nhận liên doanh, nguồn vốn tự bổ sung khác), theo
công dụng và tình hình sử dụng (tài sản cố định sản xuất-kinh doanh; tài sản cố định
phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng; tài sản cố định giữ hộ Nhà nước; tài sản cố
định chờ xử lý), theo kết cấu Trong các cách phân loại trên thì phân loại tài sản cố
định theo kết cấu được sử dụng phổ biến. Theo cách này, toàn bộ tài sản cố định hữu
hình của doanh nghiệp được chia làm các loại sau:
a. Nhà cửa, vật kiến trúc:
Đây là tài sản cố định hữu hình của doanh nghiệp được hình thành sau quá trình thi
công xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, sân bãi, đường xá, cầu cống
b. Máy móc thiết bị:
giá trị thực tế phải trả, lãi tiền vay đầu tư cho tài sản cố định khi chưa đưa tài sản cố
định vào sử dụng; các chi phí vận chuyển, bốc dỡ; các chi phí sửa chữa, tân trang trước
khi đưa tài sản cố định vào sử dụng; chi phí lắp đặt chạy thử, thuế và lệ phí trước bạ
(nếu có).
b. Tài sản cố định hữu hình loại đầu tư xây dựng:
Nguyên giá tài sản cố định hữu hình loại đầu tư xây dựng (tự làm và đi thuê ngoài)
là giá quyết toán công trình xây dựng theo quy định tại “Điều lệ quản lý đầu tư và xây
dựng” hiện hành, các chi phí khác có liên quan và lệ phí trước bạ (nếu có).
Đối với tài sản cố định hữu hình là các con súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm,
vườn cây lâu năm thì nguyên giá là toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra cho súc vật,
vườn cây đó từ lúc hình thành cho tới khi đưa vào khai thác và sử dụng theo quy định
tại “Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng” hiện hành, các chi phí khác có liên quan và lệ
phí trước bạ (nếu có).
c. Tài sản cố định được cấp, được điều chuyển đến:
Nguyên giá tài sản cố định hữu hình được cấp, được điều chuyển đến bao gồm: giá
trị còn lại ghi sổ ở đơn vị cấp (hoặc giá trị đánh giá thực tế của Hội đồng giao nhận)
cộng với với các phí tổn mới trước khi dùng mà bên nhận phải chi ra (vận chuyển, bốc
dỡ, lắp đặt, chạy thử ).
Riêng nguyên giá tài sản cố định hữu hình điều chuyển giữa các đơn vị thành viên
hạch toán phụ thuộc: nguyên giá, giá trị còn lại và số khấu hao luỹ kế được ghi theo sổ
của đơn vị cấp. Các phí tổn mới trước khi dùng được phản ánh trực tiếp vào chi phí
kinh doanh mà không tính vào nguyên giá tài sản cố định.
d. Tài sản cố định được cho, được biếu tặng, nhận góp vốn liên doanh, do phát hiện
thừa:
Nguyên giá tài sản cố định hữu hình loại được cho, được biếu tặng, nhận góp vốn
liên doanh, do phát hiện thừa bao gồm: giá trị theo đánh giá thực tế của Hội đồng
giao nhận, các chi phí tân trang, sửa chữa tài sản cố định, các chi phí vận chuyển, bốc
dỡ, lắp đặt, chạy thử, lệ phí trước bạ (nếu có) mà bên nhận phải chi ra trước khi đưa
vào sử dụng.
II. Hao mòn và khấu hao tài sản cố định hữu hình
giá trị sử dụng của tài sản cố định hữu hình. Đồng thời trích khấu hao tài sản cố định là
biện pháp chủ quan nhằm thu hồi vốn đầu tư để tái tạo lại tài sản cố định hữu hình khi
nó bị hư hỏng.
ý nghĩa của khấu hao:
- Về mặt kinh tế, khấu hao cho phép doanh nghiệp phản ánh được giá trị thực của tài
sản, đồng thời làm giảm lợi nhuận ròng của doanh nghiệp.
- Về mặt tài chính: khấu hao là một phương tiện tài trợ giúp cho doanh nghiệp thu
được bộ phận giá trị đã mất của tài sản cố định.
- Về mặt thuế: khấu hao là một khoản chi phí được trừ vào lợi tức chịu thuế, tức là
được tính vào chi phí kinh doanh hợp lệ.
Việc tính khấu hao tài sản cố định có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác
nhau tuỳ thuộc vào quy định của Nhà nước và chế độ quản lý tài sản đối với doanh
nghiệp và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
b. Số khấu hao luỹ kế:
Số khấu hao luỹ kế của tài sản cố định hữu hình là tổng cộng số khấu hao đã trích
vào chi phí sản xuất, kinh doanh qua các kỳ sản xuất kinh doanh của tài sản cố định
hữu hình tính đến thời điểm xác định.
c. Tỷ lệ khấu hao:
Trong thực tế hiện nay ở Việt nam, phương pháp khấu hao phổ biến được sử dụng
trong các doanh nghiệp là khấu hao đều theo thời gian. Theo phương pháp này, việc
tính khấu hao tài sản cố định hữu hình phải dựa trên nguyên giá tài sản cố định hữu
hình và tỷ lệ khấu hao của tài sản đó.
Trong thực tế, tỷ lệ khấu hao được Nhà nước quy định sẵn cho từng loại, từng nhóm
tài sản cố định. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải căn cứ vào tình hình thực tế của mình để
nâng cao tỷ lệ khấu hao trong giới hạn cho phép, đảm bảo không làm giá thành quá
cao, ảnh hưởng đến giá bán và việc tiêu thụ sản phẩm cũng như ảnh hưởng các chính
sách giá cả của Nhà nước.
d. Các phương pháp tính khấu hao tài sản cố định:
Tài sản cố định trong một doanh nghiệp nhiều về số lượng, đa dạng về chủng loại.
Vì vậy mà việc áp dụng một phương pháp khấu hao đúng cho các ngành nghề kinh
Mức khấu hao phải trích
bình quân tháng
=
Mức khấu hao bình quân năm
12
Theo quy định chung, để đơn giản cách tính thì tài sản cố định hữu hình tăng trong
tháng, tháng sau mới trích khấu hao. Tài sản cố định hữu hình giảm trong tháng, tháng
sau mới thôi trích khấu hao. Do vậy, để xác định khấu hao của tháng sau phải căn cứ
vào tình hình tăng, giảm tài sản cố định hữu hình của tháng này. Vì số khấu hao của
tháng này chỉ khác tháng trước trong trường hợp có biến động tăng hoặc giảm tài sản
cố định hữu hình. Cho nên để giảm bớt công việc tính toán hàng ngày, người ta chỉ
tính số khấu hao tăng thêm hoặc giảm bớt trong tháng và căn cứ vào số khấu hao đã
trích tháng trước để xác định số khấu hao phải trích tháng này theo công thức sau:
Số khấu hao
phải tính trong
tháng
=
Số khấu hao đã
tính tháng
trước
+
Số khấu hao của
những TSCĐ tăng
thêm trong tháng
trước
-
Số khấu hao của
những TSCĐ
Mức khấu hao bình
quân trên một đơn vị
sản lượng
=
Tổng số khấu hao phải trích trong thời gian sử dụng
Sản lượng tính theo công suất thiết kế
Thực chất phương pháp này là phải tính được chi phí tài sản cố định hữu hình phân
bổ cho một đơn vị sản lượng tính. Sau đó căn cứ vào sản lượng thực hiện của từng
năm để xác định mức khấu hao. Như vậy, muốn thu hồi vốn nhanh, khắc phục khấu hao vô
hình đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng ca, tăng năng suất lao động làm ra nhiều sản phẩm.
Phương pháp khấu hao nhanh
Phương pháp này được áp dụng khi muốn nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư, nhanh
đổi mới trang thiết bị tạo năng lực sản xuất trong doanh nghiệp.
Phương pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp có quy mô kinh
doanh lớn, đa dạng, số lượng tài sản cố định hữu hình nhiều, giá trị tài sản cố định hữu
hình lớn. Việc khấu hao nhanh giúp quay vòng vốn nhanh thuận lợi cho việc tạo nguồn
vốn kinh doanh trong doanh nghiệp.
Phương pháp khấu hao theo số lượng giảm dần
Theo phương pháp này, tài sản cố định hữu hình khi tham gia vào những kỳ kinh
doanh đầu tiên tại doanh nghiệp sẽ được tính trích khấu hao lớn hơn so với các kỳ kinh
doanh tiếp theo một tỷ lệ nhất định đã được quy định.
Ưu điểm: phù hợp với các doanh nghiệp đang làm ăn thua lỗ vì tài sản cố định có
đặc trưng là sử dụng được lâu dài thì với việc tính toán và trích như vậy thì sẽ làm
giảm đi sự thua lỗ này, đặc biệt là rất phù hợp cho những ngành nghề kinh doanh mà
tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn và trong những thời kỳ kinh doanh khó khăn, suy
thoái, những ngành mà tài sản cố định ít có hao mòn vô hình.
Phương pháp khấu hao ước tính
Theo phương pháp này, số khấu hao được tính trong một kỳ kinh doanh căn cứ vào
số khấu hao tài sản cố định hữu hình đã trích ở các kỳ kinh doanh trước và ước tính
mức độ biến động số khấu hao ở kỳ kinh doanh này.
Số
khấu
hao
PX
1
PX
2
1
Số khấu hao đã trích
tháng trước
2
Số khấu hao tăng
trong tháng
3
Số khấu hao giảm
trong tháng
4
Số khấu hao phải
trích tháng này
3. So sánh cách tính khấu hao tài sản cố định hữu hình ở nước ta với một số nước
trên thế giới
a/ Tại Pháp, phương pháp tính khấu hao tuyến tính cũng được áp dụng chủ yếu
Công thức tính:
Mức khấu hao phải trích hàng năm =
Nguyên giá tài sản bất động
Số năm sử dụng ước tính
Số tháng sử dụng
trong năm
Thời gian
sử dụng
trong năm
=
Số ngày sử dụng
12
360
Sau đó lập bảng:
Bảng tính khấu hao bất động sản
Tên bất động sản:
Ngày tháng sử dụng:
Phương pháp khấu hao:
Thời gian sử dụng:
Năm
thứ
Nguyên giá
Tỷ lệ
khấu hao
Khấu hao
phải trích
Khấu hao
luỹ kế
Giá trị
còn lại
1
Tuỳ vào hình thức sổ mà doanh nghiệp áp dụng như: hình thức nhật ký chứng từ, chứng từ
ghi sổ, nhật ký sổ cái hay nhật ký chung mà sổ cái TK 214 có kết cấu, hình thức riêng.
- Sổ chi tiết: phản ánh khấu hao tài sản cố định bao gồm:
Sổ tài sản cố định (mẫu - trang 209 - sách Hệ thống kế toán doanh nghiệp, NXB Tài
chính 1995).
Bảng tính và phân bổ khấu hao: đây là sổ chi tiết quan trọng nhất trong việc phản
ánh khấu hao tài sản cố định ( mẫu - trang 225 - sách Hệ thống kế toán doanh nghiệp,
NXB Tài chính 1995).
2. Tài khoản sử dụng
Theo chế độ kế toán Việt nam hiện hành thì tài khoản được sử dụng để hạch toán
khấu hao tài sản cố định là tài khoản 214: Hao mòn tài sản cố định.
* Tài khoản 214: Hao mòn tài sản cố định.
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hao mòn tài sản cố định hữu hình trong quá
trình sử dụng do trích khấu hao và những khoản tăng, giảm hao mòn khác của các loại
tài sản cố định hữu hình của doanh nghiệp.
Kết cấu:
Bên Nợ: phản ánh giá trị hao mòn tài sản cố định hữu hình giảm do thanh lý,
nhượng bán, điều chuyển nội bộ, mang đi góp vốn liên doanh
Bên Có: phản ánh giá trị hao mòn của tài sản cố định hữu hình tăng do trích
khấu hao, do đánh giá lại tài sản cố định hữu hình.
Dư Có: phản ánh giá trị hao mòn của tài sản cố định hữu hình hiện có ở doanh nghiệp.
Tài khoản 214 được chi tiết thành:
2141: Hao mòn tài sản cố định hữu hình.
2142: Hao mòn tài sản cố định đi thuê tài chính.
2143: Hao mòn tài sản cố định vô hình.
Ngoài ra kế toán còn sử dụng một số tài khoản sau: TK 211, TK 009
* Tài khoản 211: Tài sản cố định hữu hình
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có và biến động tăng, giảm của tài sản
cố định hữu hình của doanh nghiệp theo nguyên giá.
Kết cấu:
b. Trường hợp phải nộp vốn khấu hao cho đơn vị cấp trên hoặc điều chuyển cho
đơn vị khác.
+ Trường hợp được hoàn trả lại khi nộp vốn khấu hao ghi:
Nợ TK 136 (1368): Phải thu nội bộ
Có TK 111, 112: Số vốn khấu hao nộp
Đồng thời ghi giảm nguồn vốn khấu hao
Có TK 009: Nguồn vốn khấu hao giảm
Khi nhận lại số vốn khấu hao hoàn trả, ghi bút toán ngược lại.
+ Trường hợp không được hoàn trả lại, ghi:
Nợ TK 411: Giảm nguồn vốn kinh doanh
Có TK 111, 112, 3388: Số vốn khấu hao nộp
Đồng thời ghi giảm nguồn vốn khấu hao
Có TK 009: Nguồn vốn khấu hao giảm
c. Trường hợp cho các đơn vị khác vay vốn khấu hao, ghi:
Nợ TK 128: Đầu tư ngắn hạn khác
Nợ TK 228: Đầu tư dài hạn khác
Có TK 111, 112: Số vốn khấu hao cho vay
Đồng thời ghi giảm nguồn vốn khấu hao
Có TK 009: Nguồn vốn khấu hao giảm
+ Khi trích hao mòn tài sản cố định hữu hình dùng cho hạot động văn hoá vào thời
điểm cuối năm, ghi:
Nợ TK 431 (4313): Ghi giảm quỹ khen thưởng phúc lợi
Có TK 214 (2141): Hao mòn TSCĐHH dùng cho hoạt động văn hoá
+ Khi trích hao mòn TSCĐHH dùng vào hoạt động sự nghiệp, dự án, ghi:
Nợ TK 466: Nguồn vốn đã hình thành TSCĐHH
Có TK 214 (2141): Khấu hao hao mòn TSCĐHH
d. Tài sản cố định hữu hình đánh giá lại theo quyết định của Nhà nước
+ Trường hợp đánh giá tăng nguyên giá của tài sản cố định hữu hình, ghi;
Nợ TK 211: Nguyên giá TSCĐHH đánh giá tăng
Có TK 412: Chênh lệch đánh giá lại tài sản tăng
Có TK 20: Tài sản bất động vô hình
Có TK 21: Tài sản bất động hữu hình
Theo cách tính khấu hao TSCĐ như chế độ kế toán Pháp chúng ta thấy rằng việc
tính toán tăng giảm khấu hao tài sản cố định theo ngày khó khăn và cực kỳ phức tạp.
Tuy nhiên, nếu trình độ cho phép thì nó sẽ phản ánh được chính xác tính khấu hao tài
sản cố định và chi phí khấu hao tài sản cố định.
Theo chế độ kế toán hiện nay ta nhận thấy rằng tất cả chi phí khấu hao tài sản cố
định ở các bộ phận đều được tập hợp vào 1 tài khoản. Khác với Việt nam là mỗi bộ
phận sử dụng tài sản cố định thì sẽ có một tài khoản để phản ánh chi phí khấu hao tài
sản cố định ở bộ phận đó (TK 6274, TK 6414, TK 6424)
ở Mỹ: trong kế toán khấu hao, đầu tiên chúng ta ghi nhận số chi phí thích hợp trong
kỳ. Trong trường hợp này tên của tài khoản chi phí là chi phí khấu hao. Tiếp đó ta ghi
số tiền tương đương giảm trong tổng số giá trị tài sản, số giảm giá trị của trang thiết bị
không được trừ trực tiếp trong tổng nguyên giá của tài sản, thay vào đó số giảm giá
thành gốc (nguyên giá) của trang thiết bị do chi phí khấu hao được luỹ kế trong một tài
khoản riêng biệt gọi là khấu hao luỹ kế. Số giảm một tài sản luôn luôn được ghi Có.
Khấu hao luỹ kế là số giảm tài sản và do đó nó có số dư Có. Kế toán ghi định khoản
như sau:
Nợ TK chi phí khấu hao
Có TK khấu hao luỹ kế
II. Đánh giá chung
1. Kết quả:
Theo quyết định số 166/1999/QĐ-BTC ngày 30/12/1999 của Bộ Tài chính ngày
30/12/1999, song song với việc thực hiện hạch toán khấu hao tài sản cố định hữu hình
như đã trình bày ở các phần đã nêu trên còn quy định về chế độ quản lý, sử dụng và
trích khấu hao tài sản cố định.
Việc trích khấu hao tài sản cố định hữu hình phải tuân theo nguyên tắc, số khấu hao
luỹ kế và giá trị còn lại trên sổ kế toán của tài sản cố định hữu hình. Mọi tài sản cố
định hữu hình phải có hồ sơ riêng và được theo dõi chặt chẽ. Các doanh nghiệp có thể
chủ động điều động tài sản cố định giữa các đơn vị thành viên, nhượng bán, thanh lý
Chương III
Một số vấn đề còn tồn tại trong việc hạch toán
khấu hao Tscđ hữu hình và phương pháp hoàn thiện
Giá trị thu hồi ước tính của tài sản cố định hữu hình và quản lý tài sản cố định hữu
hình đã khấu hao hết nguyên giá là hai vấn đề cần thiết cho đề tài này.
I. Giá trị thu hồi ước tính của tài sản cố định hữu hình
Giá trị thu hồi ước tính của tài sản cố định hữu hình là chỉ tiêu nói lên số tiền ước
tính có thể thu được khi tiến hành thanh lý những tài sản đã khấu hao hết, theo công
thức tính mức khấu hao hiện nay thì:
Mức trích khấu hao trung bình
hàng năm của TSCĐHH
=
Nguyên giá TSCĐHH
Thời gian sử dụng ước tính của TSCĐHH
Công thức này không tính đến giá trị thu hồi của tài sản cố định hữu hình. Mà trên
thực tế có rất nhiều tài sản cố định hữu hình khi thanh lý sẽ thu hồi được với số tiền
lớn như: nhà xưởng, ôtô, máy móc thiết bị, Nếu không tính tới giá trị thu hồi thì đã
gián tiếp làm cho mức khấu hao được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh cao
hơn thực tế.
Mặt khác, giá trị thu hồi lại là cái vốn có của tài sản cố định. Việc sử dụng giá trị
thu hồi sẽ làm cho tài sản không bao giờ được phép khấu hao hết nguyên giá. Khi đã
thực hiện khấu hao hết thời gian sử dụng ước tính của tài sản mà vẫn còn được sử
dụng thì doanh nghiệp không phải trích khấu hao nhưng vẫn còn lại một phần giá trị
của tài sản trên sổ sách kế toán. Điều này không những hợp lý mà còn tăng cường
trách nhiệm quản lý của doanh nghiệp đối với tài sản cố định hữu hình. Đồng thời nếu
có hiện tượng mất mát, hư hỏng, tài sản do các yếu tố chủ quan của con người thì sẽ
dễ dàng hơn cho việc xác định mức trách nhiệm vật chất, bồi thường đối với người
phạm lỗi.
Việc sử dụng chỉ tiêu giá trị thu hồi còn có tác dụng trợ giúp đắc lực cho quản trị tài
chính khi tiến hành công tác thanh lý tài sản cố định hữu hình. Nó được hạch toán vào