ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
___________
LÊ HUY BÁ
(Chủ biên)
ĐỘC HỌC
MƠI TRƯỜNG
TẬP 2
(Phần chun đề) Cộng tác viên:
THÁI VĂN NAM, NGUYỄN NGỌC QUỲNH, TÔ VĂN TRƯƠNG, LƯU QUỐC DŨNG,
ĐỖ THỊ KIM CHI, PHAN THỊ MỸ HẠNH, NGUYỄN THỊ HỒNG THỤY, NGUYỄN
THỊ PHƯƠNG UYÊN, CUNG THẾ TÀI, LÊ UYÊN MINH, PHẠM VIỆT ANH, ĐẶNG
THỊ KIM THOA, ĐÀO THỊ TRÂM ANH, LÊ THỊ ÁI NƯƠNG, NGUYỄN HOÀNG LAN
THANH, NGUYỄN TRẦN THIÊN ÂN, TRẦN NGỌC LỆ, NGUYỄN NHẬT TRƯỜNG,
LÊ ĐÀO AN XUÂN, TRẦN THỊ NGỌC OANH. NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2006
5
CHƯƠNG 0
một liều lượng nhất đònh đối với một sinh vật trong một thời kỳ nhất
đònh sẽ gây hiệu ứng độc.
Suy cho cùng, tất các các chất đều là những chất độc tiềm tàng.
c– Phân loại theo tiềm năng hoạt tính
– Loại các tác nhân gây độc tiềm tàng (Potential Toxicity): gồm
tác nhân hóa học (tự nhiên, nhân tạo, hữu cơ, vô cơ), tác nhân vật lý
(tác nhân đặc thù, bức xạ, vi sóng), tác nhân sinh học (các độc tố của
nấm, vi khuẩn, thực vật, động vật) có khả năng gây ngộ độc cho sinh
vật nhưng hiện tại chưa thể hiện. Nó chỉ biểu hiện độc tính khi có
điều kiện môi trường thích hợp.
– Loại các tác nhân gây độc hoạt tính (Actual Toxicity): cũng
gồm tất cả những tác nhân gây độc như trên nhưng đang ở dạng hoạt
động thể hiện độc tính, hiện tại gây hại sinh vật.
d– Phân laại theo dạng, thể tồn tại:
Các dạng thể hiện của tác nhân độc có thể là không khí, nước, thực
phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm và sản phẩm tiêu thụ, qua tiếp xúc ở da.
e– Phân loại theo tính năng:
– Dạng cấp tính: Nguy cấp, có thể gây chết túc thời, ngắn hạn,
thường đối với liều cao hoặc nồng độ cao và số ít người bò ảnh hưởng
như khi làm đổ hóa chất, thoát chất thải độc hại ra không khí.
– Dạng mãn tính: Âm ỉ tồn tại trong cơ thể sinh vật và quần
thể, dài hạn, thường đối với liều lượng và nồng đôï thấp, xảy ra cho số
người đông hơn, hoặc rất lâu (thường đối với liều lượng và nồng độ
rất nhỏ, nhiều người mắc phải như trường hợp nhiễm độc thực phẩm,
ô nhiễm kim loại nặng hoặc ô nhiễm nước).
7
Còn có thể phân theo nhiều cách khác nhau nữa, tùy theo mục
đích nghiên cứu Sự nhiễm độc có thể xảy ra trong nhà, nơi làm việc
hoặc bất kỳ nơi nào.
nhiễm, vào đường máu theo tuần hoàn máu. Trong máu, độc chất có
thể thoát ra thành dạng tự do, không liên kết, hoặc nó liên kết
protein (thường đối với albumin). Hóa chất có thể thoát khỏi đường
máu và xâm nhập vào các mô khác nhau nơi đó nó có thể được
8
chuyển hóa sinh học (ví dụ, gan); lưu giữ (mô mỡ), đào thải (thận)
hoặc tạo ra một phản ứng (trong não bộ). Việc kéo dài phản ứng phụ
thuộc vào nồng độ của hóa chất ở điểm trên bộ phận tiếp nhận, ái lực
của nó và hoạt tính riêng. Hóa chất phải xuyên qua màng tế bào, là
phospho lipid hai lớp, bằng quá trình tiêu tốn năng lượng, như quá
trình vận chuyển tích cực hoặc quá trình không tiêu tốn năng lượng
như quá trình vận chuyển thụ động. Chuyển động xuyên qua màng tế
bào có thể liên quan đến phương tiện đặc biệt. Có những quá trình
đặc biệt mà hóa chất có thể xâm nhập tế bào. Một trong những quá
trình đó là nhập nội bào.
Cấu trúc sinh học của hóa chất trong cơ thể được xem xét theo
hình thái của nó trong cơ thể gồm có: hấp thụ, phân phối, chuyển hóa
sinh học, đào thải và sự vận động của các quá trình này. Các quá
trình này xác đònh giá trò của hóa chất sẵn sàng tương tác với bộ
phận tiếp nhận. Giá trò này của hóa chất được gọi là "khả năng tiếp
nhận sinh học".
Những yếu tố ảnh hưởng ngưỡng tới hạn gồm liều lượng và cấu
trúc hóa học, tính nhạy cảm và tình trạng sức khoẻ của sinh vật đáp
ứng, bản chất của các phản ứng nhận biết. Tính nhạy cảm của các
phương pháp dùng trong đo đạc phản ứng sẽ ảnh hưởng đến ngưỡng
phát hiện.
Các quan hệ liều phản ứng cho thấy sự liên hệ giữa liều lượng
và phản ứng nhận thấy ở một quần thể. Chúng thường được biểu diễn
bằng một đường cong với tung độ là mức độ phản ứng, liều lượng được
Hình 0.1: Đường cong đáp ứng liều lượng điển hình
(Nguồn: Borzelleca, medical college of virginia, richmond,virginia, USA, 1997)
Hình 0.2. Giản đồ liều lượng – Phản hồi cải tiến
(Nguồn: Borzelleca, medical college of virginia, richmond,virginia, USA, 1997)
Cực đại
Liều lượng
Ngưỡng tới hạn
Đáp ứng cực đại
Ngưỡng giới hạn
Không đáp ứng
Phản hồi điển hình
100%
Log liều lượng (mg/kg)
Hoạt tính bên trong
50%
ED
50
Phản hồi
10
không mang ý nghóa đầy đủ như
khi so sánh độ dốc vì ED
50
chỉ là một điểm trên đường biểu diễn và nó
không cung cấp thông tin về quan hệï thật sự giữa liều lượng và phản
ứng cũng như không xác đònh được ngưỡng giới hạn. Nồng độ hóa chất ở
điểm tiếp nhận tuỳ thuộc vào mức độ trong máu. Nồng độ trong máu
phụ thuộc vào liều lượng của hóa chất mà sinh vật bò nhiễm và các điều
kiện bò nhiễm. Sự hợp lý ở các mức liều lượng là cần thiết khi so sánh
phản ứng đối với cùng một hóa chất, cùng một liều lượng được dùng khi
có sự khác nhau về sinh vật nhiễm độc, về đơn vò đo lường. Ví dụ: 200g
chuột nhận liều lượng 100mg/kg trọng lượng cơ thể, hóa chất sẽ nhận
tương đương 0,061mg/cm
2
diện tích bề mặt cơ thể; 70kg người nhận cùng
loại hóa chất ở cùng liều lượng là 100mg/kg trọng lượng cơ thể sẽ nhận
tương đương là 0,388mg/cm
2
diện tích bề mặt cơ thể. Không có số liệu
thuyết phục về các phương pháp khác ưu việt hơn. Thông thường, liều
lượng được biểu diễn qua mg/kg trọng lượng cơ thể.
0.6. HẤP THỤ, NHIỄM ĐỘC, PHÂN PHỐI VÀ ĐÀO THẢI ĐỘC
CHẤT CỦA SINH VẬT
0.6.1. Hấp thụ, nhiễm độc
Phần trên ta đã đề cập về liều lượng, nồng độ, và nói kỹ về
phản ứng sinh học đối với một chất độc trực tiếp tuỳ thuộc vào bản
11
chất, liều lượng của hóa chất tác dụng lên cơ quan tiếp nhận. Có sự
khác nhau quan trọng giữa nhiễm độc và liều lượng. Sự nhiễm độc là
Hình 0.4. Sơ đồ minh họa của một phần tế bào động vật có vú
(Nguồn: R.C.Shank, University Of California, Irvine, USA, 1997)
Trong hình 0.4, phân tử phospholipid cho thấy dạng oval với hai
đuôi và màng protein có dạng xoắn mang cực dương và âm.
Hình 0.5 thể hiện một phân tử phospholipid là phần cấu tạo
chính của màng tế bào. Trong hình này, phosphatidylcholine được
dùng như một thí dụ (có một số phân tử dạng tương tự khác trong
màng tế bào), loại có cực như ở đầu phân tử nước hòa tan và không
cực như dạng đuôi lipid hòa tan của phân tử được thể hiện.
Hình 0.5. Một phân tử phospholipid
(Nguồn: R. C. Shank, University of California, irvine, USA, 1997)
13
Có một số điểm đặc biệt để hiểu rõ hơn quá trình hấp thụ và
đào thải. Màng tế bào giống như một màng dầu (dòch dầu) trong môi
trường nước. Các protein dạng cầu trong dòch khảm của màng tế bào
ở dạng tự do di chuyển dọc theo mặt phẳng của màng (hình 0.6). Một
số protein này hoàn tất việc đi xuyên qua màng tế bào tạo một kênh
di chuyển dạng nước băng qua màng lipid nhỏ những phân tử hòa tan
trong nước và các ion có thể khuyếch tán thông qua những kênh này,
trong khi những phân tử hòa tan trong lipid khuếch tán tự do thông
qua thành phần phospholipid của màng tế bào. Số lớn phân tử hòa
tan trong nước không thể băng qua màng tế bào ngoại trừ cơ cấu vận
chuyển đặc biệt các protein có thể xuyên qua trong cả hai trường hợp
hấp thụ và đào thải bởi một quá trình đặc biệt gọi là sự thấm bào.
Cơ cấu vận chuyển đặc biệt về hấp thụ không được thảo luận trong
giáo trình này.
bì là một giới hạn cho sự hấp thụ. Độc chất có cực xuất hiện để
khuếch tán ra bề mặt bên ngoài của các sợi keratin (sừng) của lớp mô
Hình 0.7. Cấu trúc tế bào của một biểu bì
(Nguồn: R.C.Shank, University Of California, Irvine, USA, 1997)
Hình 0.6. Cấu trúc một màng tế bào động vật có vú
15
sừng hydrate hoá. Độc chất ưa dầu (kò nước) hòa tan và khuếch tán
thông qua lipid không ngậm nước giữa các sợi protein. Mức khuếch
tán có liên quan đến sự hòa tan lipid và tỷ lệ nghòch với trọng lượng
phân tử. Để một độc chất được hấp thụ qua da vào hệ tuần hoàn nó
phải xuyên qua một số lớp tế bào.
Mức độ làm sạch của các độc chất từ biểu bì vào hệ thống tuần
hoàn phụ thuộc vào độï dày của da, ảnh hưởng của vận chuyển máu,
sự dòch chuyển của dòch ruột, hệ bạch huyết và các yếu tố khác. Sự
hấp thụ nhanh hơn, mật độ máu cao hơn, sự phân phối lớn hơn và áp
suất khuếch tán sẽ làm cho độc chất xâm nhập vào các tế bào của cơ
thể. Mức hấp thụ khác nhau ở các khu vực vực khác nhau trên da
người được chỉ ra ở hình 0.8. Hình 0.8. Các vò trí hấp thụ chất độc trên cơ thể người qua da
16
0.6.2. Sự hấp thụ của các chất độc ở phổi
Phổi người có hơn 50m
2
diện tích bề mặt phế nang, khoảng cách
giữa biểu mô phế nang và thành ống mao dẫn máu xấp xỉ 10 microns
(hình 0.9).
nhầy thì được làm sạch chậm nhất. Các hạt hòa tan trong phế nang
khuếch tán trực tiếp vào hệ mạch máu phổi; các hạt không hòa tan
có thể xâm nhập chậm vào dạ dày vào máu thông qua hệ bạch huyết.
0.6.3. Sự hấp thụ chất độc bằng đường dạ dày ruột
Sự hấp thụ có thể xảy ra từ miệng đến đường ruột. Một cách
tổng quát, các hợp chất được hấp thụ theo tỷ lệ các hợp chất thoát ra
ở nồng độ cao nhất và ở dạng hòa tan trong lipid lớn nhất trong
đường ruột. Các chất độc rất giống nhau trong cấu trúc dinh dưỡng và
điện giải có thể được vận chuyển hoạt hóa vào trong máu (Ví dụ: 5 –
fluo racil bởi pyrimidine vận chuyển; chì bởi calcium vận chuyển).
Các hạt có đường kính vài trăm Angstroms (1 A
o
= 10
–8
cm = 0,1
nanomet) vào trong biểu mô ruột, được vận chuyển qua tế bào chất
trong các túi trợ, được thải vào những kẻ hở của màng và rồi xâm
nhập vào các hệ bạch cầu của chất nhầy; giống như sự hấp thụ chất
béo (ví dụ, các hạt thuốc nhuộm Azo, có đường kính vài trăm A
o
, các
hạt nhựa mũ có đường kính 2.200 A
o
, botulinum toxin. Xem hình 0.10.
(Nguồn: R.C.Shank, University of California, Irvine, USA, 1997)
Hình 0.10. Sự vận chuyển các hạt vật chất qua biểu mô ruột
18
Các hình thức chuyển hóa sinh hóa quan trọng xảy ra trong
phạm vi, mức độ liên kết phụ thuộc vào kiểu và số lượng vò trí liên
kết trên protein và chỉ số pH của dung dòch.
19
Albumin rất quan trọng (chứa 50% dòch trương protein), nó có
xấp xỉ 100 cực dương và 100 cực âm ở các điểm liên kết (COO – O– S
– NH
3
+
= NH
2
+
– NH
2
+
) Ở pH 7,4 tính âm của albumin hơn tính
dương, ở pH 5 có khoảng 500 cho mỗi phân tử. Phản ứng sinh học do
độc chất gây ra phụ thuộc vào nồng độ các chất độc không liên kết
dạng dòch tương.
Các chất độc ở dạng liên kết bền vững với protein của máu sẽ
tích tụ trong cơ thể và có thể gây nguy hiểm. Các hợp chất liên kết
dòch tương có thể được giải phóng, tách ra đột ngột do sự xâm nhập
của các hợp chất mới có thể cạnh tranh với chúng ở cùng một thời
điểm liên kết.
Ví dụ: Đối với một vài trẻ sơ sinh, khi gan thiếu enzyme
glucuronyl transferase, chất có khả năng kết hợp với bilirubin
(C
32
H
36
20
Thí dụ, nồng độ của một chất độïc thực phẩm trong dạ dày xác
đònh mức độ ở đó chất độc được hấp thụ từ dạ dày vào máu, khi nồng
độ của độc chất trong dạ dày tăng lên, nhờ sự hấp thụ vào máu, mức
độ độc chất được hấp thụ cũng tăng lên.
Hầu hết các chất độc ở nồng độ thấp được loại bỏ khỏi cơ thể
tuỳ theo nồng độ của chúng trong máu và sự trao đổi chất với các hợp
chất hòa tan trong nước. Đa số các chất độc ở liều lượng cao, sự trao
đổi enzyme có thể bão hòa và mức trao đổi là hằng số, nếu chất độc
hòa tan trong lipid, sự đào thải chúng sẽ khó khăn và mức độ đào
thải trở thành zero – order (chuỗi zero) (hằng số, không liên hệ với
nồng độ máu) đến khi nồng độ chất độc thấp hơn mức bão hoà.
0.7. PHẢN ỨNG LẠI ĐỘC CHẤT CỦA SINH VẬT VÀ HIỆU
ỨNG ĐỘC
0.7.1. Những khái niệm
Phản ứng lại của sinh vật đối với ảnh hưởng của độc chất là “sự
phản ứng của cơ thể hoặc một bộ phận cơ thể (thí dụ như hệ cơ bắp)
đối với một kích thích” (Duffus,1974). Sự kích thích có thể có một số
dạng và cường độ phản ứng thường phụ thuộc cường độ kích thích.
Kích thích mạnh hơn tạo phản ứng mạnh hơn. Khi một độc chất gây
kích thích, sự phản ứng thường phụ thuộc liều lượng chất độc và chòu
đựng của mỗi sinh vật. Một phản ứng còn là một hiệu ứng.
Một hiệu ứng xấu, thương tổn hay ngộ độc, là sự thay đổi có hại
hoặc là một phản ứng đối với tác nhân hóa học hay vật lý. Duffus đònh
nghóa: Một hiệu ứng xấu là “sự thay đổi về hình thái, về sinh lý, về tăng
trưởng, phát triển hoặc tuổi thọ của một sinh vật, kết quả là làm giảm
khả năng chòu đựng, làm suy yếu khả năng đề kháng, tăng nguy cơ
stress, tăng tính nhạy cảm đối với hiệu ứng nguy hại từ tác động môi
trường”. Hiệu ứng xấu có thể vừa phải và biến mất sau đó hoặc nghiêm
trọng hơn, đôi khi không thể hồi phục. Thí dụ, dò ứng hô hấp hoặc thay
sự khác nhau về di truyền trong cấu trúc gen.
Có nhiều loại phản ứng xảy ra khi có tương tác giữa hóa chất và
bộ phận tiếp nhận, gồm có thay đổi về hình thể tổng quát, thay đổi
tế vi hoặc thay đổi trong các chức năng sinh lý, sinh hoá. Các phản
ứng có thể không đặc hiệu như viêm, hoại tử hoặc đặc hiệu như đột
biết gien, dò tật, ung thư. Thay đổi có thể diễn ra lập tức hoặc dần
dần, có thể hồi phục hoặc không; có tính cục bộ hoặc hệ thống, có thể
đơn giản hoặc phức tạp, có thể có lợi hoặc có hại. Phản ứng có thể
ảnh hưởng đến tính đồng nhất, chức năng, sự tăng trưởng quá trình
hồi phục, liên lạc của tế bào. Nhìn chung, phản ứng có thể làm tăng
hoặc giảm chức năng. Tuy nhiên, cơ sở tự nhiên của tế bào thì không
thể bò thay đổi do chất hóa học, thí dụ tế bào cơ không thể bò biển
đổi thành tế bào bài tiết. Cơ sở của những hiệu ứng xấu hoặc thương
tổn ở mức độ tế bào là sự thay đổi nội cân bằng.
22
0.7.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng phản ứng lại
Một vài yếu tố có thể ảnh hưởng đến phản ứng của một hóa
chất gồm có: đặc tính lý hoá, độ tinh khiết, độ bền vững của hóa
chất, điều kiện ảnh hưởng (liều lượng bao nhiêu?), thời gian (thời
điểm, tần số, kéo dài bao lâu?), bằng con đường nào (cách thức xâm
nhập, đặc tính di truyền, loài, giống, giới, tính, tuổi, trọng lượng cơ
thể, tình trạng sức khoẻ của sinh vật ở thời điểm tiếp xúc, sự có mặt
của hóa chất khác (tương tác), điều kiện môi trường (nhiệt độï, độ ẩm,
áp suất khí quyển, độ sáng, nơi cư trú, tiếng ồn, các hóa chất trong
môi trường, các yếu tố xã hội…), sự phù hợp hoặc sai biệt, tính nhạy
cảm riêng. Phản ứng phụ thuộc số lượng các bộ phận tiếp nhận,
phạm vi liên kết hóa chất – bộ phận tiếp nhận, nồng độ hóa chất tại
điểm tiếp nhận.
Ảnh hưởng của một hóa chất lên hoạt động của một hóa chất
Một chất tiếp nhận có thể xem là “bẫy hóa chất” khi một tác nhân
hóa học tương tác với một chất tiếp nhận đặc thù để tạo ra phản ứng
nó, được gọi là chất tiếp nhận phản ứng trung gian. Khi một tác
nhân hóa học tạo ra một phản ứng không tương tác với chất tiếp
nhận đặc thù, phản ứng được gọi là một phản ứng không đặc hiệu. Bộ
phận tiếp nhận là nơi tương tác với tác nhân hóa học, vật lý ở bên
ngoài hoặc bên trong tế bào đích, là điểm nhạy cảm và nơi xảy ra
phản ứng. Tiếp nhận có thể xảy ra ở ba nơi: trên bề mặt của tế bào,
đôi khi còn gọi là kiểu I; trong nang tế bào được gọi là kiểu II; trong
nhân tế bào, được gọi là kiểu III. Kết quả của tương tác ở bộ phận
tiếp nhận hóa học là khởi đầu một dây chuyền phản ứng sinh hóa tạo
nên phản ứng được nhận diện. Mỗi tác nhân hóa học hoặc loại hóa
chất có bộ phận tiếp nhận đặc thù, thí dụ, tiếp nhận chất giảm đau.
Chúng có thể không đặc hiệu, thí dụ, sự phá hủy do ăn mòn gây ra
bởi a xít. Bộ phận tiếp nhận chất độc có tính riêng biệt, đặc thù như
các đại phân tử, thường là các protein, bao gồm protein điều hoà,
enzyme, protein vận chuyển, protein cấu trúc.
Phản ứng đối với một tương tác hóa học – bộ phận tiếp nhận là
tạo ra số lượng các bộ phận tiếp nhận trong lúc tương tác xảy ra hoặc
các dạng phức hợp. Số lượng các bộ phận tiếp nhận tuỳ thuộc ái lực của
bộ phận tiếp nhận đối với hóa chất, nồng độ hóa chất sẵn sàng tương
tác với bộ phận tiếp nhận, thời gian tác dụng và các yếu tố phức tạp
khác. Các phức hợp hóa học – bộ phận tiếp nhận tạo nên phản ứng. Ái
lực là lực hấp dẫn giữa một hóa chất và một bộ phận tiếp nhận.
Khi một hóa chất và một bộ phận tiếp nhận tương tác tạo nên
một phức hợp, bộ phận tiếp nhận sẽ gia tăng hoạt tính. Khi điều này
xảy ra, chất hóa học được gọi là một chất kích thích; khi đó, chất
kích thích bám vào bộ phận tiếp nhận và hoạt hóa chúng. Khi một
chất hóa học bám vào một bộ phận tiếp nhận nhưng không hoạt hóa
“tiếp nhận – đáp ứng ghép đôi” và được kết hợp với chất truyền tin
thứ cấp để khuyếch đại tín hiệu từ bộ phận tiếp nhận hoạt tính.
0.8. SỰ ĐÀO THẢI ĐỘC CHẤT
Việc loại bỏ chất độc từ cơ thể gọi là sự đào thải độc chất. Quá
trình này thường đạt được nhờ hoạt động đặc biệt của thận (tạo nước
tiểu), gan (tạo mật) và phổi (thở ra các hợp chất dạng hơi) hay qua da
25
do phát tán mồ hôi. Quá trình đào thải có cơ chế tương tự với quá trình
hấp thụ, vận chuyển các hóa chất thẩm thấu qua các màng sinh học
theo chênh lệch nồng độ hóa chất (gradient nồng độ); các hóa chất di
chuyển từ các khoang có nồng độ cao đến các khoang có nồng độ thấp.
Các hợp chất hòa tan trong nước có thể nhanh chóng được đào
thải bởi thận thông qua bài tiết nước tiểu (thường là các hợp chất có
khối lượng phân tử dưới 400) và bởi gan thông qua mật (thường là các
hợp chất có khối lượng phân tử lớn hơn 300). Quá trình đào thải có
cơ sở tương tự với quá trình hấp thụ, vận chuyển các hóa chất thẩm
thấu qua các màng sinh học theo chênh lệch nồng độ hóa chất
(gradient nồng độ); các hóa chất di chuyển từ các khoang có nồng độ
cao đến các khoang có nồng độ thấp.
Tương tự trường hợp hấp thụ, có những quá trình đặc biệt có
thể tác động chống lại chênh lệch nồng độ và có thể di chuyển các
hợp chất hòa tan trong nước nhanh chóng xuyên qua các màng lipid,
sự tiết mật (một dạng dòch) bởi gan là một thí dụ của một mô thoát
khỏi các tế bào hợp chất hóa học hòa tan được trong nước.
Các hợp chất hòa tan trong lipid có thể đào thải một cách chậm
chạp, và như vậy cuối cùng vào đường bài tiết dòch của cơ thể như
nước tiểu, mật. Cho nên, các hợp chất hòa tan trong lipid được giữ
trong cơ thể thời gian dài hoặc đến khi chúng được trao đổi chất với
các chất dẫn xuất hòa tan trong nước. Các hợp chất hòa tan trong
Chất ô nhiễm–––>Chất độc ––––>Cơ thể, Hệ sinh thái
Tác động gây độc
Theo như các nhận biết trên thì bất kỳ các hiện tượng ô nhiễm
môi trường nào cũng đều do các tác nhân gây ô nhiễm mà các tác
nhân gây ô nhiễm gọi là chất ô nhiễm và nó chính là các độc chất
môi trường và có thể được thể hiện bằng sơ đồ sau:
27
Các nguồn gây ô nhiễm
Chất thải
Ô nhiễm môi trường
Chất ô nhiễm
Độc học môi trường
Độc chất Sinh vật và hệ sinh thái
Từ sơ đồ trên ta thấy giữa độc học môi trường và ô nhiễm môi
trường có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tất cả các trường hợp ô
nhiễm môi trường đều do các tác nhân gây ô nhiễm mà các tác nhân
gây ô nhiễm chính là các độc chất của Độc học môi trường.
Mục tiêu của độc học môi trường là phát hiện các tác chất (hóa
học, vật lý, sinh học) có nguy cơ gây độc để có thể dự đoán, đánh giá
các sự cố và có biện pháp ngăn ngừa những tác hại đối với các quá
ngăn chặn những tác động có hại đến môi trường, hệ sinh thái và
quan trọng hơn là con người.
Nếu giải quyết vấn đề môi trường mà không hiểu rõ bản chất,
tức là không nhận biết được những độc chất, độc tố nào trong vấn đề
ô nhiễm ấy thì thực chất chúng ta chưa hiểu rõ nguyên nhân gây ô
nhiễm, mà đã không hiểu rõ, không tìm ra được nguyên nhân thì
đừng mong gì giải pháp đưa ra là đúng, là phù hợp chứ đừng nói đến
tối ưu. Nói một cách nôm na là nếu chưa nhận dạng được độc chất,
độc tố trong ô nhiễm thì cũng giống như không chẩn đoán được
“bệnh”, thế thì “liều thuốc” đưa ra chắc chắn là không “trò được bệnh”
rồi, có khi lại “tiền mất tật mang”.
Điều đó cũng có nghóa rằng khi chúng ta nhận mặt, chỉ tên được
những độc chất, độc tố nào trong từng loại ô nhiễm thì vấn đề đưa ra
giải pháp phòng tránh và xử lý cũng dễ dàng và hiệu quả hơn. Xin
đơn cử một vài thí dụ trong môi trường không khí để chứng minh
nhận đònh “giải quyết vấn đề môi trường thực chất là giải quyết vấn
đề độc học môi trường”.
Trong ô nhiễm không khí, một thông số được quan tâm hàng
đầu đó là bụi. Trong độc học môi trường thì bụi nằm trong phần độc
học môi trường không khí. Bụi là những hạt nhỏ kích thước từ 1