Tài liệu LUẬN VĂN: Vận dụng phương pháp chỉ số trong nghiên cứu và phân tích kinh tế – xã hội - Pdf 10

LUẬN VĂN:

Vận dụng phương pháp chỉ số
trong nghiên cứu và phân tích
kinh tế – xã hội
Lời giới thiệu Thế kỷ 20 đã đi qua , bước sang những năm đầu của thế kỷ mới .Việt Nam
cũng đang hoà mình vào sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung ,áp dụng
mô hình kinh tế mới _mô hình “ nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động
theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa ” trong công cuộc đổi mới đã đánh dáu bước ngoặt quan trọng cho sự phát
triển của nền kinh tế đát nước . Căn cứ vào cương lĩnh Đại hội VII đã nêu “ tiếp tục
nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc , đẩy mạnh
công nghiệp hoá - hiện đại hoá “ .Mục tiêu của CNH_HĐH là biến nước ta thành
Phần i
lí thuyết chung về chỉ số _ vận dụng phương pháp chỉ số trong phân tích kinh
tế-xã hội


các phần tử (các loại sản phẩm ) có đơn vị khác nhau nên không thể trực tiếp cộng
lại với nhau . Nếu ta dùng giá cả đơn vị sản phẩm làm công cụ , bằng này nhân với
các khối lượng sản phẩm tương ứng ta có thể chuyển các phần tử khác nhau đó
thành dạng đồng nhất (dạng giá trị ) và từ đó ta có thể cộng chúng lại với nhau
thành chỉ giá trị tổng sản lượng để so sánh .
b. Trong việc xây dựng chỉ số có nhiều nhân tố cùng tham gia vào quá trình
tính toán. Để nghiên cứu sự biến động của nhân tố định nghiên cứu ta phải loại trừ
ảnh hưởng biến động của các nhân tố khác bằng cách giả định các nhân tố này là
khong thay đổi .
Ví dụ :Khi tìm chỉ số nghiên cứu sự động của toàn bộ khối lượng của sản phẩm
sản xuất ra giữa hai thời kỳ khác nhau của đơn vị sản xuất nói trên sẽ có 2 nhân tố
cùng tham gia vào việc tính toán : giá cả đơn vị sản phẩm và khối lượng sản phẩm
tương ứng .Để nghiên cứu sự biến động của khối lượng ,ta phải loại sự biến động
của yếu tố giá cả bằng cách nhân từng loại khối lượng sản phẩm ở cả 2 thời kỳ với
giá cả tương ứng của một thời kỳ nào đó (kỳ nghiên cứu hoặc kỳ gốc )
3. Tính chất và tác dụng của chỉ số :
Với đối tượng nghiên cứu chủ yếu của mình chỉ số có những tính chất đáng
chú ý Một mặt ,chỉ số vừa có tính tổng hợp , vừa có tính phân tích . Mặt khác ,
không giống các số tương đối thông thường , chỉ số là số tương đối có tính giả định
.Nó là kết quả của sự so sánh giữa hai đại lượng mà trong đó ít nhất một đại được
xác định theo giả thuyết không tồn tại trong đời sống kinh tế thực .
Vì những tính chất trên ,người ta nói là một số tương đối đặc biệt. Trong phân
tích kinh, chỉ số có những tác dụng sau đây :
a. Biểu hiện sự biến động của hiện tượng qua thời gian . Các chỉ được tính toán
nhằm mục đích này được gọi là chỉ số phát triển ,được tính bằng cách so sánh hai
mức độ của hiện tượng ở hai thời gian khác nhau (kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc ) .
b. Biểu hiện sự động của hiện tượng qua không gian khác nhau .Như so sánh 1
hiện tượng kinh giữa 2 nghành ,2 địa hoặc xí nghiệp khác nhau … Các chỉ số này
được gọi là chỉ số không gian hay chỉ số địa phương .
c. Biểu hiện các nhiệm vụ kế hoạch hoặc tình hình thực hiện kế hoạch các chỉ

gieo trồng …
B. PHƯƠNG PHáP tính chỉ số :
1.Chỉ số cá thể (chỉ số đơn ) :
1.1Để phản ánh sự biến động của giá cả một mặt hàng nào đó ta có chỉ số cá thể
về .Chỉ số này được tính như số tương đối động thái , số tương đối kế hoạch ,số
tương đối không gian .
a. Chỉ số phát triển :
ip = p
1
/p
2
(1.1 )
Trong đó :ip : chỉ số cá thể
P
1
: Giá bán lẻ từng mặt hàng kỳ nghiên cứu
P
2
: Giá bán lẻ từng mặt hàng kỳ gốc
b. Chỉ số kế hoạch :
ip
nk
= p
k
/p
o
(1.2.1 ) ip

P
B
:Giá bán lẻ từng mặt hàng của thị trường B
Ví dụ : Giả sử có tài liệu giá bán lẻ gạo nếp từ năm 1991 đến năm 1994
áp dụng công (1.1) lấy năm 1991 làm kỳ gốc
Năm Giá bán lẻ gọa nếp (đ/kg) Chỉ số lấy gốc năm 1991(%)
1991 2646 100
1992 2647 100,038
1993 2718 102,721
1994 3241 122,487 1.2 Để phản ánh sự biến động của lượng hàng hóa tiêu thụ ta có chỉ số cá thể về
lượng . Chỉ số này được tính như tính số tương động thái , số tương đối kế hoạch ,
số tương đối không gian .
a. Chỉ số phát triển :
i
p
= q
1
/q
o

Trong đó :
i
p
: Chỉ số cá thể về lượng hàng hóa tiêu thụ

c.Chỉ số không gian :
i
q(A/B)
= q
A
/q
B
(1.6)
Trong đó :
i
q(A/B)
: Chỉ số cá thể về lượng hàng hóa của thị trường A so với thị trường B
q
A
: Lượng hàng hóa tiêu thụ của thị trường A
q
B
: Lượng hàng hóa tiêu thụ của thị trường B
Ví dụ : Giả sử có tài liệu về tiêu thụ điện từ năm 1990 đến năm 1995
áp dụng công thức (1.4)

Năm Điện tiêu thụ (triệu KWh) Chỉ số lấy gốc năm 1990(%)
1990 8790 100
1991 9307 105,882
1992 9818 111,695
1993 10851 123,477
1994 12476 141,934

hàng hóa trên thị trường nên ta có sử dụng trung bình giản đơn các chỉ số thể về giá
để tính cho chỉ số tổng hợp về giá .
Ip = ip /n (1.7)
Trong đó :
Ip : Chỉ tổng hợp về giá
ip : Chỉ số cá thể về giá từng mặt hàng
n : Số mặt hàng
Ví dụ : Có tài liệu về giá cả , lượng hàng hóa tiêu thụ trên thị trường như sau :
Bảng 1 :
Tên hàng ĐVT

Giábánlẻ
(1000đ)

ợng hàng hoá tiêu
thụ
Chỉ số cá thể
về giá từng
mặt hàng
Chỉ số cá thể
về lượng
từng mặt
hàng
kỳ gốc

kỳ n/c

kỳ gốc kỳ n/c
đường kg 6 7,2 1000 1400 1,2 1,4


Tuy nhiên muốn nghiên cứu sự biến động của nhân tố giá cả kỳ nghiên cứu so
với gốc thì giá cả của 2 thời kỳ này phải cùng được nhân với số lượng hàng hóa tiêu
thụ của một thời kỳ nào đó .Do đó trong công thức (1.8) lượng hàng tiêu thụ phải
được cố định giống nhau ở tử số và mẫu số .Chính vì nguyên nhân này mà tùy theo
mục đích nghiên cứu và điều kiện tài liệu cho phép , quyền số chỉ số giá cả (q) có
thể được chọn ở kỳ nghiên cứu ( q
1
) hoặc kỳ gốc ( q
0
) .Mỗi loại chỉ số nói trên làm
cho chỉ tính được có ý nghĩa khác nhau .
 Theo quan điểm của Peaches – nhà kinh tế học người Đức thì quyền được
chọn là lượng hàng tiêu thụ ở kỳ nghiên cứu ( q
1
) ,chỉ số giá cả được tính theo công
thức :
Ip =  p
1
q
1
/p
0
q
1

Trong công thức trên tử số p
1
q
1
là tổng số giá trị hàng hóa tiêu thụ thực

1
=7,2.1400 +5.6.3600 +9.4.3000/6.1400+4.3600+10.3000
= 584400/52800 =1,107( lần ) hay 110,7(%)
Số liệu tính toán được cho thấy giá cả của các mặt hàng kỳ nghiên cứu so với
kỳ gốc bằng 1,107 lần (hay 1,107%), tăng 0,107 lần ( hay 10,7%) .Mức chênh lệch
tuyệt đối về doanh thu giữa 2 thời kỳ nói trên do biến động của giá cả được tính là :
pq (p ) =  p
1
q
1
- p
0
q
1
=58440 -52800=5.640

( nghìn đồng )
Đây là số tiền thực tế mà người mua hàng ở kỳ nghiên cứu phải trả thêm do giá
cả ở kỳ nghiên cứu đã tăng cao hơn kỳ gốc khi mua cùng một khối lượng hàng hóa
như nhau .
• Theo quan điểm của Laspeyresh – nhà kinh tế học người Đức thì quyền số
được chọn là lượng hàng hóa tiêu thụ ở kỳ gốc (q
0
) ,chỉ số giá cả được tính theo
công thức sau :
Ip =  p
1
q
0
/  p

-  p
0
q
0
=56000-54000 = 2000 (nghìn đồng )
Vậy người mua hàng phải thêm 2000 (nghìn đồng )để mua cùng một khối lượng
hàng hóa khi giá cả tăng .
Các chỉ số tổng hợp của Laspeyresh và Peaches có bất lợi là có tính nghịch đảo
và tính liên hoàn .
• Theo quan điểm của Fishes – nhà kinh tế học người Mỹ .Ông kết hợp 2 quan
điểm của Laspeyresh và Peaches để khắc phục bất lợi là không có tính nghịch đảo
và tính liên hoàn bằng cách lấy trung bình nhân của 2 chỉ trên :
∑p
1
q
1
∑p
1
q
0

I
p
=
∑ p
0
q
1
∑ p
0

Trọng số ở đây có thể là điểm quan trọng của mặt hàng nào đó hoặc thứ bậc ưu
tiên hay không ưu tiên của mặt hàng đó .Vấn đề đặt ra là chọn trọng số cho từng
mặt hàng đó.
Chỉ số này có nhiều thuận lợi là quyền số không bị thay đổi liên tục mà chỉ sau
một thời kỳ nhất định ta mới phải tính lại cho sát với thực tế, cho nên chỉ số này có
ứng dụng thực tế rõ rệt hơn các chỉ số (1.9) và (1.11) .
b .Chỉ số kế hoạch :
Các chỉ số kế hoạch biểu nhiệm vụ kế hoạch hoặc tình hình thực hiện kế hoạch
đối với từng chỉ tiêu . Chỉ số này cũng được tính theo lí luận tính chỉ số phát triển ,
do đó việc chọn quyền số của các chỉ số kế hoạch cũng phải dựa vào mục đích
nghiên cứu và tình hình thực tế .Quyền số của chỉ này có thể là lượng hàng hóa tiêu
thụ thực tế kỳ nghiên cứu (q
1
) hoặc lượng hàng hóa tiêu thụ kế hoạch (q
k
).
• Nếu lấy quyền số là lượng hàng hóa tiêu thụ thực tế kỳ nghiên cứu ta có chỉ số
sau :
∑ p
k
q
1
∑p
1
q
1


k
: Giá cả mỗi mặt hàng theo kế hoạch
• Nếu lấy quyền số là lượng hàng hóa tiêu thụ kế hoạch , ta có chỉ số sau :
Công thức tính :
∑ p
k
q
k
∑p
1
q
k

Ip
nk
= (1.16); Ip
tk
= (1.17)
∑ p
0
q
k
∑ p
k
q
k

Trong đó : q
k
là lượng hàng hóa tiêu thụ kế hoạch .

A
:Lượng tiêu thụ từng hàng hóa của địa phương A
q
B
:Lượng tiêu thụ từng hàng hóa của địa phương B
Ví dụ : Có tài liệu về giá cả và lượng hàng hóa trên thực tế tại hai địa phương A
và B như sau :
ĐịA PHƯƠNG A ĐịA PHƯƠNG B
MặT HàNG GIá ĐƠN Vị Lượngbán RA GIá ĐƠN Vị
LƯợng bán ra
(1000Đ/Gói) ( Gói ) (1000Đ/Gói) (Gói)
Bánh qui 15 1000 16 800
Kẹo 14 900 13 1200

áp dụng công thức (1.18) ta tính được chỉ số giá cả địa phương A so với địa
phương B như sau :
Ip (A/B) = 15(1000+800) + 14(900+1200) 16(100+800) + 14(900+1200)
= 56400 / 56100 = 1,005 lần hay 100,5%
Vậy giá cả địa phương A cao hơn giá địa phương B là 0,5% .

2 .2 Chỉ số tổng hợp về lượng :
a. Chỉ số phát triển :
Khi so sánh số lượng các đơn vị của hiện tượng ( số lượng sản phẩm , số lượng
lao động …) cũng trong sụ so sánh giá cả . Vì vậy chỉ cá thể về lượng chưa cho biết
tính toán .
So sánh toàn bộ hàng hóa tiêu thụ trên thị trường ta có thể sử dụng trung bình
giản đơn các chỉ số cá thể về lượng hàng hóa tiêu thụ .

q
0
: Khối lượng hiện vật hàng hóa tiêu thụ ở kỳ gốc
p : Giá cả hàng hóa tương ứng của từng loại hàng hóa tiêu thụ
Trong công thức trên , giá cả tham gia vào quá trình tính toán với tư cách cách là
nhân tố thông ước chung đồng thời đóng vai trò quyền số … vì vậy nó phải được
cố định giống nhau theo giá nhất quán ( giá kỳ gốc ,giá kỳ nghiên cứu hoặc giá cố
định ) ở cả tử số và mẫu số – nhóm biểu hiện sự biến động cả bản thân hàng hóa
tiêu thụ .
• Theo quan điểm của Laspeyresh _nhà kinh tế học người Đức thì quyền số được
chọn là quyền số là giá cả kỳ gốc (p
0
), chỉ số lượng hàng hóa tiêu thụ tính theo công
thức sau :
Iq =  q
1
p
0
/  q
0
p
0
(1.21)
Tử số q
1
p
0
của công thức trên là tổng giá trị hàng hóa thực tế kỳ nghiên cứu
với giá định theo giá kỳ gốc , mẫu số  q
0

Như vậy, lượng hàng hóa tiêu thụ kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc bằng 0,9778 lần
(hay 0,9778%) , giảm 0,0222 lần (hay 2,22%).
Chênh lệch tuyệt đối phản ánh giá trị hàng hóa giảm do lượng hàng hóa tiêu thụ
giảm qua 2 thời kỳ là :
pq (q ) =  q
1
p
0
- q
0
p
0
=52600-54000 = -1200 (nghìn đồng )

• Theo quan điểm của nhà kinh tế học người Đức Peaches thì quyền số được chọn
là giá cả kỳ nghiên cứu (p
1
) , chỉ số lượng hàng hóa tiêu thụ được tính theo công
thức :
Iq =  q
1
. p
1
/  q
0
. p
1
(1.22)
Công thức náy đã nêu lên biến động của khối lượng hàng hóa tiêu thụ nhưng
chưa loại hẳn ảnh hưởng do sự biến động của lượng hàng hóa tiêu thụ.

bình nhân của 2 công thức (1.21) và (1.22) dể tính :

∑q
1
p
0
∑q
1
p
1

I
p
= (1.23)
∑ q
0
p
0
∑ q
0
p
1Theo số liệu đã có , ta có kết quả tính toán :
I
q
= 0,9778 . 1,044 = 1,01 (lần ) hay 101(%)

• Chỉ số tổng hợp về lượng có trọng số :

nk
= (1.25); Iq
tk
= (1.26) ;
∑ q
0
p
p
∑ q
k
p
0 Trong đó :
Iq
nk
: Chỉ số nhiệm vụ kế hoạch về lượng hàng hóa
Iq
tk
: Chỉ số thực hiện kế hoạch về lượng hàng hóa
q
0
: Lượng hàng hóa tiêu thụ kỳ gốc
q
1
: Lượng hàng hóa tiêu thụ kỳ nghiên cứu
q
k
: Lượng hàng hóa tiêu thụ theo kế hoạch

: Giá cố định
Tuy nhiên ta cũng có thể lấy quyền số là giá cả bình quân ( p ) của từng loại
hàng
Iq (A/B) =  q
A
p

/ q
B
p

(1 28)

Trong đó :
p
A
.q
A
+ p
B
.q
B

P =
q
A
+q

) ta sẽ 1 có dãy số và chúng được kết hợp với nhau thành
một hệ thống chỉ số sau :
 p
2
q
5
 p
3
q
5
 q
4
q
5
 p
5
q
5
 p
5
q
5

. . . = (1.29)
 p
1
q
5
 p
2

1
q
1

= . (1.30)
 p
0
q
1
 p
0
q
1
q
k
q
1

Hệ thống này giúp ta tính được chỉ số chỉ số phát triển có các chỉ kế hoạch .
III . Hệ thống chỉ các chỉ tiêu có liên hệ với nhau :
Hệ thống chỉ này được hình thành dựa trên mối liên hệ thực tế giữa các chỉ tiêu
thường được biểu hiện qua đẳng thức kinh tế sau :
Mức tiêu thụ hàng hóa = Giá đơn vị bán lẻ . Lượng hàng hóa tiêu thụ
Từ đẳng thức kinh trên hình thành nên hệ thống chỉ số :
Chỉ số mức tiêu thụ = Chỉ số giá cả . Chỉ số lượng hàng hóa tiêu thụ
Thành phần của hệ thống này bao gồm :
- Các chỉ số nhân tố (hay chỉ số bộ phận ): như chỉ số giá cả , chỉ số lượng

Ipq = Ip . Iq (1.31)
Có thể viết thành hệ thống chỉ sau :
p1q1 p1q1 p0q1 = (1.32)
p0q0 p0q1 p0q0

Số tăng ( giảm ) tuyệt đối :
(p1q1 - p0q0 ) = ( p1q1 - p0q1 ) + ( p0q1 - p0q0 )
Số tăng ( giảm ) tương đối :
(p1q1 - p0q0 ) ( p1q1 - p0q1 ) ( p0q1 - p0q0 )
p0q0
=
p0q0
+
p0q0
(a) (b)
Trng hệ thống chỉ số này :
Chỉ số thứ nhất ,nêu lên biến động của cả 2 nhân tố giá cả và lượng hàng tiêu
thụ cùng tác đến mức tiêu thụ hàng hóa .
Chỉ số thứ hai , với lượng hàng hóa kỳ gốc nêu lên biến động riêng của nhân tố
giá cả và tác của nó đến mức tiêu thụ hàng hóa .
Hai hệ thống chỉ số (a) và (b) giúp ta phân tích biến động của từng nhân tố và
tác động của với từng khác nhau đến biến động của hiện tượng bao gồm nhiều nhân
tố .
Ví dụ : Theo tài liệu ở bảng 1 và áp dụng công thức ( 1.32) ta có :

2,2 % làm cho mức tiêu thụ hàng hóa giảm 12000 nghìn đồng . Mức tiêu thụ hàng
hóa tăng 8,2% trong đó giá biến động làm tăng 10,4 % , lượng hàng hóa tiêu thụ
biến động làm giảm 2,2%.
Phương pháp xây dựng hai hệ thống chỉ số (a) và (b) phù hợp quan điểm xây
dựng hệ thống chỉ số của Fisher – nhà kinh tế học người Mỹ, phương pháp xây
dựng này có thể vận dụng xây dựng hệ thống chỉ số của chỉ tiêu có n nhân tố .
2 . Hệ thống chỉ số với quyền số của các chỉ số nhân tố có thời gian giống nhau
Hệ thống chỉ này có đặc điểm là hiện tượng chung có n nhân tố thì hệ thống chỉ
số có n chỉ số nhân tố và một hệ số ( hay còn gọi là chỉ số ) liên hệ . Mỗi chỉ số
nhân tố có quyền số với thời kỳ giống nhau .
Ví dụ : hệ thống chỉ số có mức tiêu thụ hàng hóa , chỉ số giá cả và chỉ số lượng
hàng hóa tiêu thụ . Theo phương pháp này xây dựng được hai loại hệ thống chỉ số
sau :
a.
p1q1 p1q0 p0q1 = . . k ( 1.34)
p0q0 p0q0 p0q0
(1) (2) (3)

Trong đó : k là hệ số liên hệ ( chỉ số liên hệ )

p1q1 p1q0 p0q1

k =


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status