Tài liệu Đề tài “Vận dụng phương pháp chỉ số trong phân tích kết quả sản xuất, kinh doanh của Công ty Sơn tổng hợp” - Pdf 87



CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: Vận dụng phương pháp chỉ số trong
phân tích kết quả sản xuất, kinh doanh của
Công ty Sơn tổng hợp
công của nhiều doanh nghiệp,bởi vậy mới hình thành các phòng kinh doanh
ngoại tệ ở các ngân hàng.Vấn đề tỷ giá còn ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề
xuất nhập khẩu.Nếu đồng tiền Việt nam mà lên giá sẽ bất lợi cho các nhà
xuất khẩu bởi hàng hoá việt nam đã đắt lên một cách tương đối,ngược lại sẽ
làm cho các nhà nhập khẩu bất lợi.
Từ thực tế trên em xin tìm hiểu đề tài về "Tỷ giá hối đoái và vấn đề
tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay” nhằm giúp cho quá trình học tập và
nghiên cứu sau này của bản thân và cho bạn bè quan tâm nắm rõ hơn về vấn
đề này.
Trong quá trình thu thập thông tin còn nhiều hạn chế do vậy có thể
còn nhiều sai sót mong các bạn thông cảm và trân thành góp ý.
Em xin cảm ơn TS Trần Đăng Khâm đã hướng dẫn và giúp đỡ em
hoàn thành đề án này ! 2
Trang
3
Mụclục 1
Mở đầu 2
Nội dung 3
Chương I: Tổng quan chung về hệ thống tỷ giá hối đoái 3
I. Một số vấn đề về tỷ giá hối đoái và các khái niệm liên quan 3
1. Thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái 3
2. Tỷ giá hối đoái thực tế 4
3. Các nhân tố tác động lên quá trình hình thành tỷ giá hối
đoái

Để có thể đi sâu nghiên cứu tỷ giá hối đoái, trước hết chúng ta cần phải
xem xét một số khái niệm có liên quan đến vấn đề này.
1. Thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái.
Vì các nước khác nhau thì sử dụng những đồng tiền khác nhau hay
những phương thức thanh toán khác nhau nên khi muốn mở rộng quan hệ
thương mại quốc tế thì cần phải có một nơi để có thể trao đổi tiền giữa các
nước với nhau, đó chính là thị trường ngoại hối. Như vậy thị trường ngoại
hối là thị trường quốc tế trong đó đồng tiền quốc gia này có thể đổi lấy tiền
của quốc gia khác.
Thông thường tỷ giá hối đoái được hiểu là số lượng đơn vị nội tệ cần
thiết để mua một đơn vị ngoại tệ trên thị trường ngoại hối; là hệ số quy đổi
của một đồng tiền này sang một đồng tiền khác được xác định bởi mối quan
hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ. Trong kinh tế học khi phân tích về tỷ giá
hối đoái, người ta thường sử dụng các kí hiệu sau :
* e-Tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ tính theo đồng tiền nước ngoài
* E-Tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ tính theo đồng nội tệ
Chính sách tỷ gá hối đoái của mỗi quốc gia thường liên quan đến sức
cạnh tranh quốc tế của quốc gia đó. Nếu e giảm tỷc là giá trị của đồng nội tệ
giảm thì giá cả của hàng hoá trong nước sẽ rẻ tương đối so với giá cả của 5
hàng hoá ở nước ngoài, vì thế xuất khẩu sẽ có xu hướng tăng, nhập khẩu có
xu hướng giảm, khả năng cạnh tranh của quốc gia này tăng lên.
2. Tỷ giá hối đoái thực tế.
Khả năng cạnh tranh còn gọi là tỷ giá hối đoái thực tế. Để hiểu được
vấn đề này phải phân biệt được tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái
thực. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là một khái niệm tiền tệ phản ánh mức giá
tương đối của hai đồng tiền trong khi tỷ giá hối đoái thực lại phản ánh mức
giá tương đối giữa hai loại hàng hoá. Chính xác hơn, tỷ giá hối đoái thực là

hướng nghiệp vụ đầu cơ ảnh hưởng đến tỷ giá.
-Hệ số tín nhiệm đối với các đồng tiền trên thị trường Tài chính trong
nước và quốc tế.
- Các phương thức, công cụ điều chỉnh, các chính sách can thiệp của Nhà
nước.
- Các cú sốc kinh tế, chính trị xã hội và các chính sách lớn của Nhà
nước trong lĩnh vực kinh tế, tài chính tiền tệ.
II. CÁC HỆ THỐNG TỶ GIÁ.
Tỷ hối đoái có ý nghĩa rất quan trọng đối với tất cả các đối tượng tham
gia vào các giao dịch đối ngoại cho dù đó là nhà thương mại hay nhà đầu tư.
Tỷ giá hối đoái cũng có vai trò trung tâm trong chính sách tiền tệ trong đó tỷ
giá có thể là mục tiêu hay công cụ hay chỉ đơn thuần là một chỉ số... phụ
thuộc vào cơ chế chính sách của mỗi quốc gia. Mức độ can thiệp khác nhau
của nhà nước khác nhau đến tỷ giá hối đoái đã tạo nên những cơ chế tỷ giá
hối đoái khác nhau giữa các quốc gia. Có hai cơ chế tỷ giá cơ bản là: cơ chế
tỷ giá hối đoái cố định (vào vàng, vào một đồng tiền hay một nhóm đồng
tiền) và cơ chế tỷ giá thả nổi (tỷ giá được xác định dựa vào cung cầu trên thị
trường). Mỗi quốc gia trong một thời kì khác nhau có sự lựa chọn khác nhau
về mức độ cố định thả nổi tỷ giá hối đoái hay có sự dung hoà nào đó về sự
cố định hay thả nổi tỷ giá hối đoái. Điều này đã đưa đến các nguyên tắc khác
nhau về điều hành tỷ giá hối đoái hay các chính sách có liên quan khác của 7
mỗi quốc gia. Sự khác nhau đó đã tạo nên sự đa dạng về cơ chế tỷ giá hối
đoái ở trên thế giới.
1. Chế độ tỷ giá cố định.
Mục đích của quan điểm giữ tỷ giá cố định là phải giữ tỷ giả hối đoái
ổn định để kiềm chế lạm phát ở mức thấp và củng cố niềm tin của dân chúng
vào đồng tiền nội địa. Khi sử dụng chế độ tỷ giá cố định người ta có thể sử

cách vô thời hạn. Bây giờ chúng ta sẽ bàn về hệ thống điều chỉnh hạn chế,
trong đó các tỷ giá hối đoái thông thường được cố định nhưng một đôi lúc
các nước được phép thay đổi tỷ giá hối đoái của mình. Hệ thống này được ra
đời gần cuối thế chiến thứ hai trong một hội nghị đa quốc gia được tổ chức ở
Brentton Woods New Hampshire để hoạch định" một hệ thống tỷ giá hối
đoái có trật tự thuận lợi cho luồng thương mại tự do". Theo hệ thống này tỷ
giá chính thức giữa đồng tiền của các nước thành viên được hình thành trên
cơ sở so sánh hàm lượng vàng của đô la Mĩ (1 USD= 0,888671 gram vàng)
và chỉ được phép dao động trong biên độ 1% của tỷ giá chính thức đã được
đăng kí tại quỹ tiền tệ quốc tế IMF vì thế hệ thống tỷ giá này còn được biết
với đến với tên gọi bản vị đôla. Theo chế độ bản vị đô la, các đồng tiền được
chuyển đổi theo đôla chứ không phải theo vàng. Tại mức tỷ giá hối đoái cố
định, các ngân hàng trung ương cam kết mua hoặc bán đôla từ nguồn dự trữ
ngoại hối hoặc lượng đôla hiện có của họ. Họ cam kết can thiệp vào thị
trường ngoại hối để bảo vệ tỷ giá hối đoái cố định theo đồng đôla.
Sự khác nhau căn bản giữa bản vị vàng và bản vị đôla là ở chỗ không
còn sự đảm bảo đổi lại 100% đối với đồng tiền nội địa, các chính phủ có thể
in thêm tiền để làm tăng sức cạnh tranh trong nước. Nếu tình trạng thâm hụt
ngân sách kéo dài chính phủ phải dùng ngày càng nhiều dự trữ ngoại hối của
mình để trang trải cho thâm hụt, thì cuối cùng đất nước sẽ cạn kiệt dự trữ
ngoại hối, lúc đó nhà nước sẽ phải phá giá tỷ giá hối đoái của mình chuyển
sang một nước giá trị ngang giá thấp hơn theo đôla để cố gắng tăng thường
xuyên sức cạnh tranh và loại trừ sự mất cân đối cơ bản trong thanh toán quốc
tế. 9
Tỷ giá hối đoái cố định, nếu bền vững hay được coi là bền vững thì sẽ
tạo cho các doanh nghiệp có cơ sở để lập kế hoạch và tính toán giá, như vậy
sẽ thúc đẩy đầu tư và thương mại quốc tế; tỷ giá hối đoái cố định tạo ra sự

Là tỷ giá hối đoái được hình thành trên cơ sở diễn biến cung cầu. Có
hai loại tỷ giá thả nổi là thả nổi tự do và thả nổi có quản lý. Chúng ta biết
rằng nền kinh tế cân bằng dài hạn là phải cân đối cả bên trong lẫn bên ngoài
(tức là đầy đủ việc làm, xuất khẩu ròng bằng không và tài khoản vãng lai cân
bằng) Nhu cầu nhập khẩu phụ thuộc vào mức sản lượng trong nước và tỷ giá
hối đoái thực tế. Nhu cầu xuất khẩu phụ thuộc vào mức sản lượng ở nước
ngoài và tỷ giá hối đoái thực tế. Do đó khi nền kinh tế trong nước và nước
ngoài đều ở trong tình trạng cân đối hoặc ở mức sản lượng tiềm năng,thì chỉ
có một tỷ giá chính thức duy nhất đồng thời tương ứng với sự cân bằng bên
ngoài.ở bầt kì mức tỷ giá hối đoái nào cao hơn nền kinh tế nội địa cũng có
sức cạnh tranh kém hơn. Nhập khẩu sẽ cao hơn và xuất khẩu sẽ thấp hơn,
nền kinh tế sẽ bị thâm hụt trong tài khoản vãng lai. Ngược lại ở bất kì một
mức tỷ giá hối đoái thực tế nào thấp hơn với xuất khẩu cao hơn và nhập
khâủ thấp hơn, nền kinh tế nội địa sẽ có một khoản thặng dư trong vãng lai.
Chỉ có một tỷ giá hối đoái thực tế duy nhất tương ứng với sự cân đối bên
trong và bên ngoài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status