Luận văn tốt nghiệp Khoa Thống Kê- Đại học kinh tế quốc dân
Lời nói đầu
Từ khi đất nớc ta chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ
nghĩa đã làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có nhiều
thay đổi đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nớc.
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động dới
sự chỉ đạo của Nhà nớc, việc sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất nh thế
nào? đều do Nhà nớc quyết định và doanh nghiệp không cần phải chú ý đến
việc lỗ (lãi). Nhng từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng các doanh nghiệp
hạch toán độc lập thì việc thành công hay thất bại, tồn tại hay phá sản của
doanh nghiệp do doanh nghiệp tự quyết định. Vì vậy, để xác định doanh nghiệp
làm ăn có hiệu quả hay không ta phải dựa vào kết quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Để sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao trên cơ sở các nguồn lực sẵn có nhà
doanh nghiệp phải nắm đợc các nhân tố ảnh hởng, mức độ và xu hớng ảnh hởng
của từng nhân tố. Từ việc phân tích kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, các nhà doanh nghiệp đa ra các biện pháp nhằm xây dựng, cải tạo và
phát triển doanh nghiệp theo hớng ngày càng tốt hơn. Do đó, phân tích thống kê
kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là việc làm hết sức cần thiết
không chỉ đối với bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế
quốc dân.
Với tầm quan trọng đó, trong thời gian thực tập ở công ty Đầu t xây dựng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội đợc sự hớng dẫn của thầy giáo
Trần Thị Hạnh Thống Kê 41A
1
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thống Kê- Đại học kinh tế quốc dân
GS .TS Phạm Ngọc Kiểm và các cô chú cán bộ trong công ty em đã lựa chọn đề
tài là:
Vận dụng một số ph ơng pháp thống kê phân tích kết quả sản xuất kinh
đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Theo các định nghĩa trên, doanh nghiệp có ý nghĩa to lớn trong nền kinh tế
quốc dân. Doanh nghiệp chính là nơi tạo ra của cải vật chất cho toàn xã hội,
phục vụ mọi nhu cầu của xã hội. Chính vì vậy, sự tăng trởng, phát triển kinh tế
của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào qui mô, trình độ sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp.
2.Vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
Doanh nghiệp có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của
một đất nớc. Điều này đợc biểu hiện ở các điểm sau:
Doanh nghiệp tạo ra sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ cho toàn xã
hội, phục vụ mọi nhu cầu tiêu dùng của xã hội .
Trần Thị Hạnh Thống Kê 41A
3
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thống Kê- Đại học kinh tế quốc dân
Hoạt động sản xuất kinh doanh luôn luôn thúc đẩy mở rộng sản xuất và tiêu
dùng xã hội, tạo điều kiện cho tích luỹ vốn phát triển, tạo công ăn việc làm, giải
quyết các vấn đề thất nghiệp và lạm phát, phát triển kinh tế - xã hội, phát triển
khoa học kỹ thuật, mở rộng giao lu hàng hoá, tạo ra phân công lao động xã hội
và chuyên môn hoá sâu sắc với từng nghành nghề, tạo các cân bằng cơ cấu kinh
tế - xã hội. Bên cạnh đó, các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
cũng là cơ sở thúc đẩy lực lợng sản xuất của xã hội phát triển.
Trong điều kiện các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trờng có sự
quản lý của nhà nớc thì doanh nghiệp góp phần to lớn vào Ngân sách Nhà nớc
thông qua hình thức nộp thuế. Đây là cơ sở để Nhà nớc thực hiện các chính sách
xã hội nh: chính sách đối với ngời có công với cách mạng, chính sách đối với
các gia đình thơng binh liệt sĩ, chính sách trợ cấp cho ngời nghèo, chính sách
đối với vùng dân tộc thiểu số...
II.Khái niệm và đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
1.Khái niệm
nghiệp tạo ra mang lợi ích tiêu dùng cho xã hội, đợc thể hiện là sản phẩm vật
chất hoặc sản phẩm phi vật chất. Những sản phẩm này phải phù hợp với lợi ích
kinh tế và trình độ văn hoá của ngời tiêu dùng, nó phải đợc ngời tiêu dùng chấp
nhận. Kết quả sản xuất do hoạt động sản xuất tạo ra và kết quả kinh doanh do
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra.
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các nội dung sau:
Trần Thị Hạnh Thống Kê 41A
5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thống Kê- Đại học kinh tế quốc dân
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do lao động của doanh
nghiệp làm ra, có đủ tiêu chuẩn chất lợng mà Nhà nớc qui định, theo yêu cầu
sử dụng và hởng thụ của ngời tiêu dùng.
Kết quả sản xuất kinh doanh đáp ứng đợc mọi yêu cầu tiêu dùng của cá
nhân và cộng đồng. Do vậy, sản phẩm của doanh nghiệp phải có giá trị sử
dụng và hởng thụ thì mới là sản phẩm tốt. Đến lợt mình, lợng giá trị sử dụng
của sản phẩm lại phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật
và văn minh xã hội.
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đảm bảo lợi ích cho ngời
tiêu dùng và doanh nghiệp. Do vậy, chất lợng sản phẩm của doanh nghiệp
không vợt quá giới hạn lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp và ngời tiêu dùng
chấp nhận đợc. Lợi ích của doanh nghiệp thể hiện ở chi phí sản xuất sản
phẩm không vợt quá giá trị kinh doanh của sản phẩm trên thị trờng. Lợi ích
của ngời tiêu dùng thể hiện ở khả năng thanh toán khi mua hàng và mức tiết
kiệm chi phí trong quá trình sử dụng sản phẩm.
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mang lại lợi ích kinh tế
chung cho tiêu dùng xã hội. Lợi ích đó thể hiện bằng kết quả tiếp nhận, tiết
kiệm chi phí, tiền của, giảm thiệt hại cho môi trờng, môi sinh của xã hội.
Sản phẩm vật chất do các doanh nghiệp sản xuất vật chất tạo ra làm tăng
thêm của cải vật chất cho xã hội.
Sản phẩm phi vật chất (sản phẩm dịch vụ) không có hình thái cụ thể, không
độ tăng trởng, tốc độ phát triển của hoạt động kinh doanh.
Giá so sánh: là mức giá thực tế của sản phẩm ở thời kỳ nào đó đợc chọn
làm gốc so sánh. Giá so sánh dùng để tính toán kinh tế so sánh kinh tế và
tính tốc độ tăng trởng, tốc độ phát triển của hoạt động kinh doanh.
Trần Thị Hạnh Thống Kê 41A
7
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thống Kê- Đại học kinh tế quốc dân
Giá hiện hành (giá thực tế năm báo cáo): phản ánh thành quả sản xuất
năm đó, phản ánh mối liên hệ kinh tế thực tế, là căn cứ để phân phối, sử
dụng, tính toán các chỉ tiêu kinh tế khác.
3.Nguyên tắc tính kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải là kết quả của lao động
sản xuất của doanh nghiệp làm ra trong kỳ. Do vậy, các doanh nghiệp không
tính vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp những kết quả thuê bên
ngoài. Nhng ngợc lại, doanh nghiệp đợc tính vào kết quả của mình các hoạt
động làm thuê cho bên ngoài.
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đợc tính toàn bộ sản phẩm
làm ra trong kỳ báo cáo: những sản phẩm chính và sản phẩm phụ (nếu doanh
nghiệp thu nhặt đợc), sản phẩm kinh doanh tổng hợp của tất cả các giai đoạn
trong kinh doanh.
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chỉ tính những sản phẩm đủ
tiêu chuẩn nằm trong khung chất lợng tiêu chuẩn Việt Nam. Do vậy, chỉ tính
những sản phẩm sản xuất hoàn thành trong kỳ báo cáo đã kiểm tra chất lợng
hoặc sản phẩm đã đợc ngời tiêu dùng chấp nhận trong tiêu dùng.
Những giá trị thu hồi từ phế liệu, phế phẩm cũng đợc xem là một nội dung
thu nhập của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.
Những sản phẩm đã bán cho khách hàng bị trả lại vì chất lợng kém, chi phí
sửa chữa đền bù sản phẩm hỏng còn trong thời hạn bảo hành... nếu phát sinh
trong kỳ báo cáo phải trừ vào kết quả của kỳ báo cáo và ghi vào thiệt hại sản
phẩm trong kỳ.
đầy đủ và toàn diện hoạt động sản xuất kinh doanh, xác định xu thế phát triển
Trần Thị Hạnh Thống Kê 41A
9
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thống Kê- Đại học kinh tế quốc dân
của doanh nghiệp, giúp các nhà quản lý có chiến lợc nhằm thúc đẩy sự phát
triển của doanh nghiệp trớc mắt cũng nh trong tơng lai.
Trong nền kinh tế thị trờng hiện nay khi các doanh nghiệp cạnh tranh một
cách quyết liệt để tồn tại và phát triển thì việc phân tích kết quả sản xuất kinh
doanh trong mỗi doanh nghiệp trở lên vô cùng quan trọng. Nó là cơ sở để các
nhà quản lý vạch ra các kế hoạch cũng nh các biện pháp thích hợp để sử dụng
nguồn lực một cách hợp lý nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Trần Thị Hạnh Thống Kê 41A
10
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thống Kê- Đại học kinh tế quốc dân
Chơng II
Xác định hệ thống chỉ tiêu và một số phơng
pháp thống kê phân tích kết quả sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp xây lắp
I.Nguyên tắc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu kết quả
sản xuất kinh doanh
1.Khái niệm về hệ thống chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh trong các
doanh nghiệp
1.1Khái niệm
Hệ thống chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp là tập
hợp các chỉ tiêu thống kê có thể phản ánh các mặt, các tính chất quan trọng
nhất, các mối liên hệ cơ bản giữa các mặt của tổng thể và mối liên hệ của tổng
thể với các hiện tợng liên quan.
1.2Tác dụng của hệ thống chỉ tiêu
Việc xây dựng và tính toán các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có tác dụng to lớn trong công tác
doanh nghiệp cần quán triệt các nguyên tắc sau:
Hệ thống chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh phải đảm bảo tính hớng đích
Các chỉ tiêu xây dựng lên phải phục vụ cho mục đích nghiên cứu. Mỗi chỉ
tiêu phải có tác dụng nhất định và có nhiệm vụ trong việc biểu hiện rõ nhất mặt
Trần Thị Hạnh Thống Kê 41A
12
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thống Kê- Đại học kinh tế quốc dân
lợng cũng nh mặt chất của kết quả sản xuất kinh doanh. Do vậy, khi xây dựng
hệ thống chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh phải dựa trên cơ sở phân tích lý
luận để hiểu bản chất chung của kết quả sản xuất kinh doanh và các mối liên hệ
của nó.
Hệ thống chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh phải đảm bảo tính hệ thống
Trong doanh nghiệp có rất nhiều các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với
nhau tác động đến kết quả sản xuất kinh doanh. Các chỉ tiêu trong hê thống
phải bao gồm cả chỉ tiêu chủ yếu và thứ yếu; các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ
tiêu bộ phận phản ánh từng mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Hệ thống chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh phải đảm bảo tính khả thi
Các doanh nghiệp xây dựng khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu kết quả sản xuất
kinh doanh phải căn cứ vào hoạt động của doanh nghiệp mình để xây dựng hệ
thống cho phù hợp. Đồng thời phải xem xét khả năng nhân tài, vật lực để tiến
hành thu thập, tổng hợp các chỉ tiêu đảm bảo chi phí tối thiểu; phải cân nhắc
thật kỹ tính khả thi để xác định những chỉ tiêu cơ bản, quan trọng nhất.
Hệ thống chỉ tiêu phải vừa đủ số chỉ tiêu, không nhiều (tránh sự trùng lặp
các chỉ tiêu) nhng vẫn đảm bảo đầy đủ thông tin phản ánh đúng bản chất kết
quả sản xuất kinh doanh.
Hệ thống chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh phải đảm bảo tính hiệu quả.
Thống kê kết quả sản xuất kinh doanh là lấy từng con số thống kê cụ thể
làm công cụ dựa trên cơ sở lý luận toàn bộ sự kiện. Các chỉ tiêu phản ánh kết
quả sản xuất kinh doanh phải đáp ứng nhu cầu thông tin cần thiết, phục vụ cho
- Vốn cố định: là toàn bộ giá trị của tài sản cố định
- Vốn lu động : là biểu hiện bằng tiền của tài sản lu động
Tài sản cố định: là t liệu lao động có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài
qua nhiều kỳ sản xuất kinh doanh.
Lao động: vừa là một bộ phận của nguồn lực sản xuất kinh doanh vừa là
đối tợng phục vụ của quá trình sản xuất.
Đối với quá trình sản xuất kinh doanh lao động là yếu tố đầu vào quan trọng.
Nó quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trên thơng trờng,
mặt khác mục đích của hoạt động sản xuất kinh doanh để phục vụ con ngời.
Chính vì vậy, nó liên quan đến nhu cầu tiêu dùng, qui mô tiêu thụ hàng hoá trên
thị trờng.
2.Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
2.1 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh tính bằng đơn vị
hiện vật
Thành phẩm: là những công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành
xong việc xây dựng, có giá trị sử dụng hoàn chỉnh, đã làm xong thủ tục
nghiệm thu sử dụng theo đúng chế độ qui định của Nhà nớc và có thể sẵn
sàng huy động sử dụng đợc ngay.
Khối lợng thi công xong (còn gọi là thành phẩm qui ớc của đơn vị
nhận thầu): là những khối lợng xây lắp đã hoàn thành đến giai đoạn quui ớc
Trần Thị Hạnh Thống Kê 41A
15
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thống Kê- Đại học kinh tế quốc dân
(giai đoạn qui ớc đợc qui định đối với từng công trình, hạng mục công trình
cụ thể) trong thiết kế, dự toán và theo nội dung hợp đồng đã ký kết giữa 2 bên
thầu (bên A), nhận thầu (bên B) và đã đợc bên A xác nhận thanh toán.
Khối lợng thi công dở dang: là khối lợng xây lắp đang thi công, cha hoàn
thành đến giai đoạn qui ớc, cha đợc bên A xác nhận thanh toán.
2.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh tính bằng đơn
21
mvccmvc
Trong đó:
C: chi phí sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ trong quá trình sản xuất
C
1
: Khấu hao tài sản cố định
C
2
: Chi phí trung gian
V: Thu nhập của ngời lao động (kể cả tiền lơng, tiền thởng, phát minh, sáng
kiến, trích bảo hiểm xã hội ...)
M: Lãi gộp của doanh nghiệp
Trần Thị Hạnh Thống Kê 41A
17
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thống Kê- Đại học kinh tế quốc dân
2.2.2 Chỉ tiêu giá trị tăng thêm (VA)
Giá trị gia tăng trong sản xuất xây dựng là khái niệm mới đợc sử dụng trong
nghiên cứu kinh tế ở Việt Nam khi áp dụng chỉ tiêu thông tin kinh tế tổng hợp
thuộc hệ thống tài khoản quốc gia SNA.
Giá trị gia tăng của nghành xây dựng cơ bản là toàn bộ giá trị mới tăng
thêm do nghành xây dựng cơ bản tạo ra hay nói cách khác là phần chênh lệch
còn lại giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian cho hành động sản xuất trong
nghành xây dựng cơ bản.
Giá trị gia tăng của nghành xây dựng cơ bản bao gồm:
Thu nhập của ngời lao động: là tiền lơng và các khoản có tính chất long,
trích nộp bảo hiểm cho công nhân và các khoản thu nhập khác nh tiền ăn tra,
ăn ca ba, bồi dỡng độc hại, phụ cấp đi đờng... mà ngời lao động nhận đợc.
Thuế sản xuất: là các loại thuế và các lệ phí đã nộp nh thuế doanh thu, thuế
giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế tài nguyên,
Doanh thu đợc tính theo giá hiện hành, nó bao gồm các nội dung kinh tế
sau:
Giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ hoàn thành đã tiêu thụ ngay trong kỳ
báo cáo
Giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ hoàn thành trong các kỳ trớc tiêu thụ
đợc trong kỳ báo cáo
Giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ hoàn thành đã giao cho ngời mua
trong các kỳ trớc và nhận đợc thanh toán trong kỳ báo cáo
Trần Thị Hạnh Thống Kê 41A
19
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thống Kê- Đại học kinh tế quốc dân
Chỉ tiêu doanh thu đợc mô tả theo công thức sau:
i
n
i
i
qpDT
=
=
1
Trong đó:
P
i
: là giá đơn vị từng koại sản phẩm tính theo đơn giá thực tế
q
i
: là lợng sản phẩm từng loại tiêu thụ trong kỳ nghiên cứu.
Do tính theo giá thực tế mà chỉ tiêu doanh thu của doanh nghiệp chia ra các
mức độ:
nhuận thu từ kết quả sản xuất kinh doanh nh sau:
Tổng lợi nhuận gộp (lãi gộp): là chỉ tiêu lãi cha trừ đi các khoản chi phí
tiêu thụ (gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp)
Lãi gộp = Tổng doanh thu thuần Tổng giá vốn hàng bán
Lợi nhuận thuần trớc thuế (lãi thuần trớc thuế): là chỉ tiêu lãi sau khi đã trừ
đi các khoản chi phí tiêu thụ.
Lãi thuần trớc = Tổng doanh thu - Tổng giá thành hoàn toàn
thuế thuần sản phẩm bán
Hoặc
Lãi thuần trớc = Lãi gộp - Tổng chi phí bán hàng
thuế và chi phí quản lý
Trần Thị Hạnh Thống Kê 41A
21
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thống Kê- Đại học kinh tế quốc dân
doanh nghiệp
Lợi nhuận thuần sau thuế (lãi thuần sau thuế, thực lãi thuần, lãi ròng): là
chỉ tiêu lãi thuần trớc thuế sau khi đã trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp nộp
Ngân sách Nhà nớc.
Lãi thuần sau thuế = Lãi thuần trớc thuế - Thuế thu nhập doanh nghiệp
Lợi nhuận là chỉ tiêu quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp,
lợi nhuận là nguồn vốn quan trọng để thực hiện tái sản xuất mở rộng, là cơ sở
để doanh nghiệp lập ra các quỹ nh quỹ khen thởng, quỹ phúc lợi... nhằm động
viên khuyến khích cán bộ công nhân viên trong công tác.
3.Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung
của sự phát triển theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác của nguồn lực và
trình độ chi phí các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục
tiêu kinh doanh. Nó là thớc đo quan trọng của sự tăng trởng kinh tế và là chỗ
dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiên mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong
từng thời kỳ.
Khi tiến hành phân tích thống kê một hiện tợng nào đó, trớc hết phải xác
định rõ nhiệm vụ cụ thể của phân tích tức là xác định mục đích, yêu cầu đạt đ-
ợc, những vấn đề giải pháp cụ thể. Nhiệm vụ của phân tích thống kê có xác định
Trần Thị Hạnh Thống Kê 41A
23
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thống Kê- Đại học kinh tế quốc dân
rõ ràng thì khi phân tích mới quyết định đợc cần sử dụng những tài liệu nào,
nên tính toán những chỉ tiêu gì, cần rút ra kết luận gì.
Tính khả thi nghĩa là phơng pháp phân tích phải cho một kết quả chính xác,
đạt đợc mục đích nghiên cứu
Đồng thời phải đảm bảo tính hệ thống: căn cứ vào đặc điểm của từng hiện t-
ợng và đặc điểm vận dụng từng phơng pháp tiến hành cho phù hợp. Mỗi hiện t-
ợng đều có tính chất và hình thức khác nhau; mỗi một phơng pháp đều có u- nh-
ợc điểm, vai trò, tác dụng khác nhau, áp dụng trong điều kiện hoàn cảnh không
giống nhau, do vậy, phải kết hợp nhiều phơng pháp phân tích khác nhau để tạo
thành một hệ thống các phơng pháp phân tích cho phép phân tích đúng bản chất
của vấn đề nghiên cứu.
Các doanh nghiệp của tất cả các ngành kinh tế quốc dân về phơng pháp tính
toán phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Nội dung tính toán phải thống nhất, có hớng dẫn từ chi tiết đến tổng hợp
Phạm vi tính toán phải đợc qui định rõ ràng
Đơn vị tính toán phải thống nhất nhằm đảm bảo cho việc so sánh hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác
2.Nhiệm vụ của phân tích thống kê kết quả sản xuất kinh doanh trong
các doanh nghiệp xây dựng
Phân tích thống kê là công việc không thể thiếutong toàn bộ quá trình
nghiên cứu thống kê. tài liệu điều tra tổng hợp chỉ có trải qua một sự phân tích
sâu sắc và toàn diện mới có thể nêu lên đợc biểu hiện về bản chất và qui luật
của hiện tợng. Nh vậy, mục đích cuối cùng của nghiên cứu thống kê mới đạt đ-
ợc và thống kê mới thật sự là một công cụ mạnh mẽ nhất để nhận thức kinh tế -
Trần Thị Hạnh Thống Kê 41A
25