LUẬN VĂN:
Thực trạng và phương hướng
phát triển KTTT ở Việt Nam
lời mở đầu
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khác nhau. Mỗi mô hình đều
là sản phẩm của trình độ nhận thức nhất định trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Song
hiện nay, mô hình kinh tế thị trường là một mô hình kinh tế phổ biến và có hiệu quả nhất
trong việc phát triển kinh tế của hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới. Mô hình này không
chỉ được áp dụng ở các nước tư bản chủ nghĩa, mà còn được áp dụng ở các nước đi theo con
đường xã hội chủ nghĩa. Nó được vận dụng ở các nước phát triển và cả ở các nước đang
phát triển. Việt Nam cũng mới sử dụng mô hình kinh tế này được khoảng hơn 15 năm nay.
Đã có rất nhiều thành tựu mà chúng ta đạt được nhưng như có những khó khăn, những vấn
đề gặp phải cần được giải quyết trong quá trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế mới cũng
không ít. Và Điều này rất đáng được chúng ta quan tâm.
Đó cũng là lí do khiến em muốn chọn đề tài “Thực trạng và phương hướng phát triển
KTTT ở Việt Nam” để nghiên cứu và làm tiểu luận với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về thực
trạng KTTT ở nước ta hiện nay và qua đó đưa ra được phương hướng phát triển phù hợp
cho nền kinh tế nước nhà.
Kinh tế thị trường có những khuyết tật như tình trạng khủng hoảng , thất nghiệp bất bình
đẳng , huỷ hoại môi trường ….
2. Các quy luật của kinh tế thị trường
2.1. Quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá. ở đâu có sản xuất và
trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật chi phối cơ chế thị trường và chi phối các quy luật kinh tế
khác, các quy luật kinh tế khác là biểu hiện yêu cầu của quy luật giá trị mà thôi
Quy luật giá trị quyết định giá cả hàng hoá, dịch vụ, mà giá cả là tín hiệu nhạy bén nhất
của cơ chế thị trường
Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải được tiến hành trên cơ
sở của việc hao phí lao động xã hội cần thiết: Trong sản xuất nó đòi hỏi người sản xuất
luôn luôn có ý thức tìm cách hạ thấp hao phí lao động cá biệt xuống nhỏ hơn hoặc bằng hao
phí lao động xã hội cần thiết
Trong lĩnh vực sản xuất :Đối với việc sản xuất một thứ hàng hóa riêng biệt thì yêu cầu
của quy luật giá trị được biểu hiện ở chỗ: hàng hoá của người sản xuất muốn bán được trên
thị trường, muốn được xã hội thừa nhận thì lượng giá trị của một hàng hoá cá biệt phải phù
hợp với thời gian lao động xã hội cần thiết. Đối với một loại hàng hoá thì yêu cầu quy luật
giá trị thể hiện là tổng giá trị của hàng hóa phải phù hợp với nhu cầu có khả năng thanh toán
của xã hội
Trong lĩnh vực trao đổi : Việc trao đổi phải tiến hành theo nguyên tắc ngang giá. Quy
luật giá trị biểu hiện sự hoạt động của mình thông qua sự vận động của giá cả xung quanh
giá trị. Giá cả phụ thuộc vào giá trị, giá trị là cơ sở của giá cả, những hàng hoá có hao phí
lao động lớn thì giá trị của nó lớn dẫn đến giá cả cao và ngược lại. Đối với mỗi hàng hoá thì
giá cả hàng hoá có thể bằng hoặc nhỏ hơn hoặc lớn hơn giá trị nhưng đối với toàn bộ hàng
hóa của xã hội thì chúng ta luôn luôn có tổng giá cả hàng hóa bằng tổng giá trị
Tác dụng của quy luật giá trị: quy luật giá trị tự phát điều tiết việc sản xuất và lưu thông
hàng hóa thông qua sự biến động của cung - cầu thể hiện qua giá cả trên thị trường
2.2. Quy luật cung cầu
tranh cá biệt với những người khác lại càng thêm rõ ràng. Trái lại bên mạnh hơn bao giờ
cũng đương đầu với đối phương với tư cách là một chỉnh thể ít nhiều thống nhất
Người mua làm cho giá thị trường càng thấp, càng tốt. Mỗi người chỉ quan tâm đến
đồng nghiệp trong chừng mực thấy đi với họ có lợi hơn việc chống lại họ
Khi một bên yếu hơn bên kia thì hành động chung sẽ chấm dứt, mỗi người sẽ tự lực
xoay sở lấy. Nếu một bên chiếm ưu thế thì mỗi người bên đó đều sẽ được lợi, tất cả diễn ra
như là họ cùng nhau thực hiện độc quyền chung vậy
Cạnh tranh như một tất yếu trong nền kinh tế hàng hoá. Cạnh tranh có tác dụng san bằng
các giá cả mấp mô để có giá cả trung bình, giá trị thị trường và giá cả sản xuất đều hình
thành từ cạnh tranh trong nội bộ ngành và giữa các ngành
Tóm lại: Trong cơ chế thị trường, quy luật cạnh tranh như một công cụ, phương tiện gây
áp lực cực mạnh thực hiện yêu cầu của quy luật giá trị, cạnh tranh trong một cơ chế vận
động chứ không phải cạnh tranh nói chung
2.4. Quy luật lưu thông tiền tệ
Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật xác định lượng tiền cần cho lưu thông. Lượng tiền
cần cho lưu thông chính bằng tỷ số giữa tổng giá cả hàng hoá với tốc độ lưu thông tư bản
Trong thực tế: lượng tiền cần cho lưu thông bằng tỷ số giữa tổng giá cả hàng hóa trừ đi
tổng tiền khấu trừ, trừ đi tổng giá cả bán chịu cộng với tổng tiền thanh toán với tốc độ lưu
thông tư bản
Quy luật lưu thông tiền tệ tuân theo các nguyên lý sau:
Lưu thông tiền tệ và cơ chế lưu thông tiền tệ do cơ chế lưu thông hàng hoá quyết định
Tiền đại diện cho người mua, hàng đại diện cho người bán. Lưu thông tiền tệ có quan hệ
chặt chẽ với tiền - hàng, mua - bán, giá cả - tiền tệ
Kinh tế hàng hoá trên một ý nghĩa nhất định có thể gọi là kinh tế tiền tệ, quyết định cơ
chế lưu thông tiền tệ
Mặt khác cơ chế lưu thông tiền tệ còn phụ thuộc vào cơ chế xuất nhập khẩu, cơ chế quản
lý kim loại quý, cơ chế kinh doanh tiền của ngân hàng
Nếu quy luật canh tranh, quy luật cung - cầu làm giá hàng hoá vận động, san bằng thì
quy luật lưu thông tiền tệ giữa mối liên hệ cân bằng giữa hàng và tiền
chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất trong điều kiện kỹ thuật thủ công lạc hậu. Khi trình độ lực
lượng sản xuất phát triển cao hơn, sản xuất hàng hoá giản đơn chuyển sang sản xuất hàng
hoá quy mô lớn hơn. Quá trình đó diễn ra trong thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến lên xã
hội tư bản.
3.2.Từ kinh tế hàng hoá giản đơn lên kinh tế thị trường tự do.
Nền kinh tế thị trường tự do ra đời từ từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn nhưng có những
đặc điểm cơ bản khác với nền kinh tế hàng hoá giản đơn. ở đây người sản xuất trực tiếp là
công nhân làm thuê, không phải là người sở hữu tư liệu sản xuất mà tư liệu sản xuất là của
nhà tư bản. Sản phẩm lao động do những công nhân làm ra thuộc về nhà tư bản.
Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, tác động của qui luật giá trị dẫn tới sự phát triển
tự phát của lực lượng sản xuất. Do tác động tự phát đó, do sự biến động của giá cả, cạnh
tranh đã làm phân hoá những người sản xuất hàng hoá và trong giai đoạn phát triển lịch sử
nhất định làm nảy sinh chủ nghĩa tư bản. Kinh tế hàng hoá giản đơn đẻ ra chủ nghĩa tư bản,
sản xuất hàng hoá trong thời kỳ này cạnh tranh gay gắt. Trong điều kiện sản xuất qui mô
lớn, các nguồn lực tự nhiên ngày càng khan khiếm buộc người sản xuất phải không ngừng
cải tiến đổi mơí kỹ thuật, công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất,
sử dụng tiết kiệm các yếu tố sản xuất. Đây là động lực mạnh mẽ cho sự phát triển nền sản
xuất hàng hoá.
3.3.Từ kinh tế thị trường tự do sang kinh tế hỗn hợp
Xuất phát của quan điểm “kinh tế hỗn hợp” có từ cuối những năm của thế kỷ XIX. Sau
khi thời kỳ chiến tranh, nó được các nhà kinh tế học Mỹ, như A.Hasen, tiếp tục nghiên cứu.
Tư tưởng này được phát triển trong “kinh tế học” của P.A.Samuelson.
Nếu các nhà kinh tế học Cổ điển và Cổ điển mới say sưa với “bàn tay vô hình” và “cân
bằng tổng quát”, trường phái Keynes và Keynes mới say sưa với “bàn tay nhà nước”, thì
P.A.Samuelson chủ trương phát triển kinh tế phải dựa vào cả “hai bàn tay”, là cơ chế thị
trường và nhà nước. Ông cho rằng diều hành một nền kinh tế không có chính phủ hoặc thị
trường thì cũng như vỗ tay bằng một bàn tay”.
Cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó, cá nhân người tiêu dùng và
các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn đề trung tâm của tổ
cung ứng của người kinh doanh. Vì người sản xuất phải định giá hàng của mình theo chi phí
sản xuất. Nên họ sẵn sàng chuyển sang lĩnh vực nhiều lợi nhuận hơn. Như vậy thị trường
chịu sự chi phối của cả chi phí kinh doanh, lẫn các quyết định cung-cầu của người tiêu dùng
quy định. ở đây, thị trường đóng vai trò môi giới trung gian hoà giải sở thích người tiêu
dùng và hạn chế kỹ thuật.
Cũng trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là động lực chi phối hoạt động của người
kinh doanh. Lợi nhuận đưa các nhà doanh nghiệp đến các khu vực sản xuất hàng hoá mà
người tiêu dùng cần nhiều hơn, bỏ qua các khu vực ít có người tiêu dùng. Lợi nhuận đưa các
nhà doanh nghiệp đến việc sử dụng kỹ thuật sản xuất hiệu quả nhất. Như vậy, hệ thống thị
trường luôn phải là một hệ thống hỗn hợp để giải quyết tốt nhất ba vấn đề có bản của nền
kinh tế.
ii. thực trạng của nền KTTT ở nước ta hiện nay
1.Thành tựu đạt được.
Gần 20 năm bước vào công cuộc đổi mới nền kinh tế đang được cấu trúc lại, hình thành
các hình thức sở hữu và kinh doanh đa dạng, năng động hơn nhiều so với trước. Các đơn vị
kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế là chủ thể của thị trường, có quyền độc lập tự chủ
kinh doanh, tự chịu lãi lỗ.
Kinh tế thoát khỏi khủng hoảng triền miên hàng chục năm và bước đầu thời kì phát triển
toàn diện và tăng trưởng liên tục. Tốc độ tăng GDP bìng quân 1 năm của thời kì 1996-2000
đạt 7% so với 3,9% thời kì 1986-1990. Lạm phát giảm từ 374,6%năm 1986 xuống còn
67,4%năm 1990; 12,7% năm 1995; 0,1% năm 1999; và 0% năm 2000. Sản xuất công
nghiệp tăng trưởng liên tục với tốc độ trên 2 con số. Bình quân thời kì 1991-1995 tăng
13,7%, thời kì 1996-2000 trên 13,2%. Mức bình quân đầu người của nhiều sản phẩm công
nghiệp như điện, than, vải, thép, xi măng ,tăng nhanh trong những năm đổi mới, đáp ứng
tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân và xuất khẩu. Riêng ngành công nghiệp
khai thác dầu khí, xuất hiện trong thời kì đổi mới với sản lượng 40 ngàn tấn dầu thô năm
1986 đã tăng lên 15 triệu tấn năm 2000 với giá trị xuất khẩu 3,3 tỉ USD. Không chỉ tăng
trưởng cao mà sản xuất công nghiệp những năm cuối thế kỉ XX đã xuất hiện xu hướng đa
ngành, đa sản phẩm và đa thành phần, trong đó công nghiệp quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ
tài nguyên khoáng sản. Trong khu vực kinh tế nhà nước, thị trường lao động chỉ tồn tại ở
trình độ thấp, còn có 1/3 trong số hơn 6000 doanh nghiệp nhà nước làm ăn chưa có lãi hoặc
thua lỗ.Tình trạng kinh doanh phi pháp rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng, buôn lậu, làm
hàng giả ngày càng gia tăng phá hoại sản xuất nội địa gây thiệt hại cho lợi ích người tiêu
dùng và gây thất thu cho ngân sách nhà nước. Trình độ lực lượng sản xuất ngày càng thấp
kém có nguy cơ tụt hậu so với nhiều nước. Mặt khác kết cấu hạ tầng trong kinh tế còn quá
kém, việc phát triển nguồn lực con người nhăm tạo ra lực lượng lao động có kĩ thuật, năng
suất-cơ sở quan trọng nhất cho sự cất cánh của nền kinh tế còn quá hạn hẹp. Sự phân hoá
giàu nghèo trong xã hội đang diễn ra khá nhanh và có xu hướng ngày càng gia tăng.
ii. phương hướng phát triển
Cạnh tranh là một trong những qui luật của nền kinh tế thị trường. Khi thực hiện
chuyển đổi nền kinh tế cũ sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt
Nam phải chấp nhận những qui luật của nền kinh tế thị trường trong đó có qui luật cạnh
tranh. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong quá trình phát triển kinh tế. Nhưng
bên cạnh những thành tựu đó nền kinh tế nước ta đang đối mặt với những khó khăn thách
thức to lớn. Một trong những khó khăn thách thức đó là khả năng cạnh tranh của nền kinh tế
nước ta còn yếu kém dân đến tình trạng độc quyền là rất phổ biến.
Các giải pháp duy trì cạnh tranh và chống độc quyền.
Từ thực trạng độc quyền ở Việt Nam ta thấy rằng: còn nhiều tồn tại cần tháo gỡ.
Từ thực trạng cho thấy cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam còn có nhiều tồn tại, nguyên nhân của các tồn tại đó là
do:
- Hệ thống những quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên quan đến cạnh trạnh
và độc quyền chưa hoàn chỉnh, ý thức chấp hành pháp luật của mọi người và của các doanh
nghiệp chưa nghiêm minh, nên những hành vi cạnh tranh không hợp thức còn tồn tại khá
phổ biến.
- Quan điểm về vai trò của cạnh tranh và độc quyền chưa nhất quán nên nội dung một
số quy định pháp lý liên quan đến môi trường cạnh tranh còn mâu thuẫn với nhau.
Muốn như vậy thì trước tiên cần phải đưa nội dung về cạnh tranh và độc quyền vào
chương trình giáo dục của các trường đại học thuộc khối kinh tế và kinh doanh. Để có được
đội ngũ cán bộ, các nhà kinh tế sau khi ra trường có một tầm hiểu biết về cạnh tranh và độc
quyền. Đào tạo các khoá ngắn hạn cho các doanh nghiệp và công chức Nhà nước để nâng
cao, trau dồi kiến thức về cạnh tranh và độc quyền. Sử dụng các phương tiện thông tin đại
chúng tuyên truyền về cạnh tranh và độc quyền. Để từ đó có một chính sách cạnh tranh phù
hợp và việc thực hiện các chính sách cạnh tranh này dễ dàng hơn.
Thứ hai: cải tổ pháp luật về cạnh tranh để cho cơ chế cạnh tranh được vận hành một
cách trôi chảy, hạn chế những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường. Nới lỏng
các điều kiện ra nhập và rút lui khỏi thị trường để khuyến khích các nhà đầu tư tham gia sản
xuất kinh doanh. Như vậy việc hình thành nên khung pháp lý chung cho các loại hình kinh
doanh thuộc các khu vực kinh tế khác nhau là điều cần thiết. Việc cải tổ pháp luật về cạnh
tranh cần phải sửa đổi từ quy trình ban hành pháp luật:
Xây dựng luật: để đảm bảo tính chất khách quan về lâu dài cần chuyển việc dự thảo
luật từ cơ quan lập pháp sang cho cơ quan hành pháp. Trước mắt, việc soạn thảo luật cần
được tổ chức một cách dân chủ với sự tham gia của cơ quan có liên quan.
Xây dựng văn bản dưới luật: phải đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh và sự tham gia rộng
rãi của những người chịu ảnh hưởng của quy định.
Việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý kinh doanh cần xoá bỏ những quy định
hiện hành không phù hợp với nền kinh tế thị trường, với những cam kết quốc tế nhằm mở
rộng quyền kinh doanh, quyền chủ động cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.
Bổ xung những luật và văn bản dưới luật còn thiếu, chưa hướng dẫn thi hành. Trong
tâm xem xét là các lĩnh vực pháp luật về cạnh tranh độc quyền. Sửa đổi những điều khoản
của bộ luật dân sự có liên quan đến quan hệ giữa luật Việt Nam và luật nước ngoài.
Để thực hiện được những việc như trên thì trong quá trình sửa đổi luật, bổ sung và
ban hành pháp luật có liên quan đến cạnh tranh và độc quyền thì cần có sự phối hợp đồng bộ
giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương với sự tham gia của các doanh nghiệp, các
chuyên gia nghiên cứu kinh tế và người tiêu dùng. Việc tham gia đồng bộ giữa các bên khi
ban hành sửa đổi luật sẽ đưa ra được các quy định phù hợp với tình hình thực tế về cạnh
doanh nghiệp lớn có khả năng chi phối thị trường, tạo nên độc quyền, còn đối với những
người quản lý, người ngoài doanh nghiệp, người nước ngoài nên khuyến khích để tăng
nguồn vốn của doanh nghiệp, tạo điều kiện đổi mới máy móc, đầu tư trang thiết bị nâng cao
năng suất lao động.
- Về lao động: các loại quy định về thang bảng lương, lương thực tế , trợn cấp, chế độ
thưởng, lương tối thiểu, thuế thu nhập, các hình thức tuyển dụng lao động cần phải có sự
thống nhất dựa trên khung pháp lý chung của Nhà nước và có sự đóng góp ý kiến của công
đoàn.
- Tiếp cận thị trường.
+ Quyền xuất nhập khẩu: mở rộng quyền xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp trong
nước.
+ Xây dựng và ban hành các thủ tục, điều kiện cấp phép nhập khẩu, có nhiều loại thuế
thay thế hợp lý tương đương đối với các mặt hàng để khi thực hiện không gây các cản trở
cho việc trao đổi hàng hoá, thương mại.
+ Ban hành danh mục cấp và xuất nhập khẩu có điều kiện, ngoài những mặt hàng này
nên khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường hoạt động trao đổi thương mại làm tăng
luồng chu chuyển hàng hoá trong và ngoài nước.
Hạn ngạch là biện pháp hạn chế thương mại cần xoá bỏ. Việc xoá bỏ hạn ngạch cần
được giải quyết cùng với việc chỉ định đầu mối, bán ngoại tệ và Nhà nước quy định giá.
Việc phân bổ hạn ngạch cần phải dựa vào những mặt hàng cụ thể, thay thế chế độ giá tính
thuế tối thiểu bằng giá ghi trên hợp đồng, xoá bỏ chế độ phụ thu.
Triển khai cải cách các thủ tục hải quan theo hướng đơn giản hoá và phù hợp với tiêu
chuẩn quốc tế, thống nhất thủ tục trong cả nước.
- Về thuế quan: miễn giảm thuế tối đa đối với mọi mặt hàng xuất khẩu, kể cả hàng
hoá và dịch vụ xuất khẩu tại chỗ.
Về thuế nhập khẩu: xoá bỏ cách đánh thuế đựa trên mục đích sử dụng, giảm số thuế
và mức thuế. giảm thuế đối với hàng hoá nhập khẩu là nguyên vật liệu phục vụ cho quá
trình sản xuất trong nước tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước.
- Về chuyển giao công nghệ: cần tăng ngân sách cho các ngành nghiên cứu khoa học
doanh nghiệp này có thể sử dụng chung cơ sở hạ tầng với doanh nghiệp đang sử dụng hoặc
sẵn có của mình.
Hướng thứ hai: chia tách các doanh nghiệp đang chiếm vị trí chủ đạo trong lĩnh vực
thành các đơn vị nhỏ độc lập, đồng thời chia tách các doanh nghiệp không trực tiếp gắn với
cung cấp dịch vụ cơ sở hạ tầng khỏi doanh nghiệp chủ đạo. Việc chia tách này cần đảm bảo
các doanh nghiệp độc lập với nhau không phụ thuộc vào nhau hay vào doanh nghiệp chủ
đạo. Như vậy sẽ làm tăng sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau mà không bị hạn
chế lĩnh vực và địa bàn kinh doanh.
Trong trường hợp có nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một lĩnh vực thì sự
tham gia trực tiếp của Nhà nước vào sự hoạt động của các doanh nghiệp là không cần thiết.
Trường hợp này Nhà nước chỉ cần ban hành một số quy định hướng dẫn hoạt động và hạn
chế cạnh tranh không lành mạnh vào để cho các doanh nghiệp tự điều chỉnh hoạt động của
mình dựa vào thị trường.
Trường hợp vẫn phải duy trì độc quyền một số ngành chủ đạo thì Nhà nước cần ban
hành những quy định pháp luật để điều chỉnh hoạt động của các công ty này. Xây dựng các
luật đặc thù cho từng lĩnh vực như: luật viễn thông, luật điện lực… Để kiểm soát độc quyền
của các doanh nghiệp này và tránh tình trạng lạm dụng ưu thế để chi phối thị trường mà vẫn
đảm bảo quyền tự chủ của các doanh nghiệp. Trong các tổng công ty độc quyền cần phải
tách bộ phận xây dựng hoạch định chính sách với bộ phận kiểm tra, giám sát thực hiện
chính sách để có một chính sách kinh doanh có hiệu quả, khách quan.
Thứ sáu: Nhà nước cần phải có luật cạnh tranh với mục đích đảm bảo và duy trì môi
trường cạnh tranh. Nội dung luật cạnh tranh cần được thường xuyên nghiên cứu, thay đổi
cho phù hợp với những biến động của môi trường cạnh tranh trong nước cũng như những
yếu tố liên quan đến nước ngoài.
Thứ bảy: cần thành lập các hiệp hội người tiêu dùng với những hoạt động chủ yếu là
cung cấp thông tin phục vụ người tiêu dùng và kịp thời phát hiện những hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trên thị trường. Các hiệp hội này sẽ là đối trọng của các doanh nghiệp
khống chế thị trường. Kinh nghiệm các nước cho thấy hoạt động bảo vệ lợi ích người tiêu
dùng hỗ trợ rất tốt cho việc duy trì tốt môi trường cạnh tranh lành mạnh. Bảo vệ lợi ích
thực thi này càng tích cực, càng mạnh mẽ thì người tiêu dùng càng có được nhiều lợi ích
hơn. kết luận
Tuy kinh tế thị trường ra đời từ thời kì tư bản chủ nghĩa, bên cạnh những mặt tích
cực nó còn biểu hiện mặt tiêu cực (mặt trái). Và chúng ta không thể đồng nhất kinh tế thị
trường với chủ nghĩa tư bản. Mô hình kinh tế thị trường là mô hình chung cho cả Chủ nghĩa
tư bản và Chủ nghĩa xã hội. Muốn sử dụng nó một cách hiệu quả thì không chỉ phát huy
những tác động tích cực mà nó đem lại cho nền kinh tế, mà còn đòi hỏi phải biết hạn chế
một cách tối đa những mặt tiêu cực mà nó gây ra. Vì vậy khi một nền kinh tế áp dụng theo
mô hình kinh tế thị trường thì cần phải có sự kết hợp giữa sự tự điều tiết nền kinh tế của thị
trường và sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, phải luôn quan tâm đến những yếu tố
cấu thành nên cơ chế thị trường: giá cả, cung cầu hàng hoá, cạnh tranh, tiền tệ và lợi nhuận
và những quy luật của kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật
cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ… Để từ đó có những biện pháp chính sách phù hợp để
điều tiết và thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển một cách nhanh chóng và vững mạnh
Đối với nước ta, quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường tuy có hơi muộn nhưng
nó cũng đem lại những thành tựu hết sức to lớn cho đất nước trong việc phát triển kinh tế -
xã hội. Chúng ta đã thấy được những hạn chế của mô hình kế hoạch hoá tập trung và cũng
thấy được vai trò quan trọng của kinh tế thị trường đối với nền kinh tế. Điều quan trọng hơn
cả là chúng ta đã chấp nhận nó - như một công cụ để phát triển, để đạt được những mục tiêu