Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
I. Quan niệm về TMĐT và lợi ích của nó
1. Khái niệm TMĐT
2. Đặc trưng của TMĐT
3. Lợi ích của TMĐT
II. Hình thức hoạt động TMĐT
1.Giao dịch TMĐT
2. Các loại giao dịch TMĐT
3. Hình thức hoạt động của TMĐT
III. Cơ sở đảm bảo hoạt động của TMĐT ở nước ta
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG TMĐT Ở VIỆT NAM
I. Môi trường phát triển TMĐT
1.Nhận thức và nguồn nhân lực cho TMĐT
1.1.Nhận thức xã hội đối với TMĐT
1.2.Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho TMĐT
2.Chính sách và pháp luật cho phát triển TMĐT
2.1. Sự cần thiết phải xây dựng khung pháp lý cho việc triển khai
TMĐT
2.2. Các yêu cầu pháp lý cho việc phát triển TMĐT
2.3.Một số chính sách liên quan tới TMĐT
2.4.Pháp luật
3.Hạ tầng công nghệ và dịch vụ hỗ trợ TMĐT
3.1.Công nghệ thông tin (CNTT)
3.2. Viễn thông và Internet
3.3. Thanh toàn điện tử
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sự ra đời của nền kinh tế mới - nền kinh tế số (còn gọi là nền kinh tế tri
thức, nền kinh tế dựa trên tri thức,...). Việc mua bán hàng hóa và dịch vụ
thông qua các phương tiện điện tử, Internet và các mạng viễn thông khác
đã xuất hiện, đó chính là “Thương mại điện tử” (TMĐT). TMĐT là hoạt
động thương mại sử dụng phương thức truyền số liệu điện tử để thực hiện
hoặc xử lý quá trình kinh doanh. Trong nhiều thập kỷ nay các công ty đã
sử dụng rất nhiều công cụ truyền thông điện tử để chỉ dẫn các giao dịch
kinh doanh khác nhau. Ngân hàng dùng EFTs để chuyển tiền của khách
hàng trên khắp thế giới, các doanh nghiệp thì sử dụng EDI để đặt hàng và
gửi các hoá đơn, những người bán lẻ dùng quảng cáo trên TV để thu thập
các đơn đặt hàng bằng điện thoại... Một số người dùng cụm từ thương
mại Internet để định nghĩa cho TMĐT, nghĩa là dùng Internet hoặc Web
như là bộ phận trung gian trong việc chuyển giao số liệu của nó. Ngay từ
khi cụm từ này còn là quá mới thì đôi khi các doanh nghiệp và người dân
thường dùng nó theo nhiều nghĩa khác nhau. Thí dụ như IBM đã định
nghĩa TMĐT là quá trình thay đổi kinh doanh chủ yếu qua việc sử dụng
các công nghệ Internet. Vai trò quan trọng của TMĐT là phải hiểu được
cách làm cho các công ty sử dụng nó chấp nhận sự thay đổi.
Tuy mới xuất hiện và chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong thương mại song
TMĐT đã mang lại những lợi ích to lớn cho doanh nghiệp, chính phủ,
người tiêu dùng và xã hội. Thương mại điện tử đã vượt ra khỏi lĩnh vực
thương mại, ngày càng tác động đến các lĩnh vực khác và hứa hẹn mang
lại những thay đổi to lớn và sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội loài người.
Thương mại điện tử ngày càng được sự quan tâm của Chính phủ, Doanh
nghiệp và người tiêu dùng và đang trở thành một công cụ hữu hiệu trong
quá trình toàn cầu hoá và trong xây dựng nền kinh tế số. Thât khó mà
hình dung ra xã hội tương lai nếu không có TMĐT.
Bên cạnh đó, TMĐT cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết để khai
thác các lợi ích của TMĐT như vấn đề an toàn, an ninh cho các giao dịch
trên mạng, các vấn đề về bảo vệ bí mật, tính riêng tư, các vấn đề về
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI
ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
Website: Email : Tel : 0918.775.368
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TMĐT
I. Quan niệm về TMĐT và lợi ích của nó
Hiện nay, TMĐT đang phát triển nhanh chóng trên toàn thế giới, đặc biệt
là ở những nước công nghiệp phát triển. Sự phát triển của TMĐT một
mặt là kết quả của xu hướng tất yếu quá trình “số hoá” toàn bộ hoạt động
của con người. Mặt khác , là kết quả của các nỗ lực chủ quan của từng
nước, đặc biệt là vấn đề tạo môi trường pháp lý, chủ trương chính sách
cho kinh tế “số hoá” nói chung và TMĐT nói riêng.
1. Khái niệm TMĐT
Trước khi tìm hiểu khái niệm TMĐT chúng ta cùng phải thống nhất về
thuật ngữ Thương mại. Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng
(theo UNCITRAL) để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang
tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang
tính thương mại bao gồm các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch thương
mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận
phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê
dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp
vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên
doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh;
chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không,
đường sắt hoặc đường bộ.
Ủy ban Châu Âu định nghĩa: TMĐT được hiểu là việc thực hiện hoạt
động kinh doanh qua các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và
truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh. TMĐT gồm
giao dịch được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc vật lý như chuyển tiền,
séc, hóa đơn, vận đơn, gửi báo cáo. Các phương tiện viễn thông như: fax,
telex,.. chỉ được dùng để trao đổi số liệu kinh doanh. Tuy nhiên, việc sử
dụng các phương tiện điện tử trong thương mại truyền thống chỉ để
truyền tải thông tin một cách trực tiếp giữa hai đối tác của cùng một giao
dịch. TMĐT cho phép mọi người cùng tham gia từ các vùng xa xôi hẻo
lánh đến các khu vực đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở
khắp mọi nơi đều có cơ hội tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu và
không đòi hỏi nhất thiết phải có mối quan hệ với nhau.
_Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của
khái niệm biên giới quốc gia, còn TMĐT được thực hiện trong một thị
trường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu). TMĐT trực
tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu. TMĐT càng phát triển,
thì máy tính cá nhân trở thành cửa sổ cho doanh nghiệp hướng ra thị
trường trên khắp thế giới. Với TMĐT, một công ty dù mới thành lập đã
có thể kinh doanh ở Nhật Bản, Đức hay Mỹ…, mà không hề phải bước ra
khỏi nhà, một công việc trước kia phải mất nhiều năm mới thực hiện
được.
_Trong hoạt động giao dịch TMĐT đều có sự tham gia của ít nhất 3 chủ
thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ
mạng, các cơ quan chứng thực. Trong TMĐT, ngoài các chủ thể tham gia
quan hệ giao dịch giống như giao dịch thương mại truyền thống đã xuất
hiện một bên thứ 3, đó là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng
thực… là những người tạo môi trường cho các giao dịch TMĐT. Nhà
cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực có nhiệm vụ chuyển đi,
Website: Email : Tel : 0918.775.368
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch TMĐT, đồng thời
họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch TMĐT.
- Mô hình kinh doanh mới: Các mô hình kinh doanh mới với những lợi
thế và giá trị mới cho khách hàng. Mô hình của Amazon.com, mua hàng
theo nhóm hay đấu giá nông sản qua mạng đến các sàn giao dịch B2B là
điển hình của những thành công này.
- Tăng tốc độ tung sản phẩm ra thị trường: Với lợi thế về thông tin và khả
năng phối hợp giữa các doanh nghiệp làm tăng hiệu quả sản xuất và giảm
thời gian tung sản phẩm ra thị trường.
- Giảm chi phí thông tin liên lạc:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Giảm chi phí mua sắm: Thông qua giảm các chi phí quản lý hành chính
(80%); giảm giá mua hàng (5-15%)
- Củng cố quan hệ khách hàng: Thông qua việc giao tiếp thuận tiện qua
mạng, quan hệ với trung gian và khách hàng được củng cố dễ dàng hơn.
Đồng thời việc cá biệt hóa sản phẩm và dịch vụ cũng góp phần thắt chặt
quan hệ với khách hàng và củng cố lòng trung thành.
- Thông tin cập nhật: Mọi thông tin trên web như sản phẩm, dịch vụ, giá
cả... đều có thể được cập nhật nhanh chóng và kịp thời.
- Chi phí đăng ký kinh doanh: Một số nước và khu vực khuyến khích
bằng cách giảm hoặc không thu phí đăng ký kinh doanh qua mạng. Thực
tế, việc thu nếu triển khai cũng gặp rất nhiều khó khăn do đặc thù của
Internet.
- Các lợi ích khác: Nâng cao uy tín, hình ảnh doanh nghiệp; cải thiện chất
lượng dịch vụ khách hàng; đối tác kinh doanh mới; đơn giản hóa và
chuẩn hóa các quy trình giao dịch; tăng năng suất, giảm chi phí giấy tờ;
tăng khả năng tiếp cận thông tin và giảm chi phí vận chuyển; tăng sự linh
hoạt trong giao dịch và hoạt động kinh doanh.
* Lợi ích đối với người tiêu dùng
- Vượt giới hạn về không gian và thời gian: Thương mại điện tử cho phép
việc, mua sắm, giao dịch... từ xa nên giảm việc đi lại, ô nhiễm, tai nạn
- Nâng cao mức sống: Nhiều hàng hóa, nhiều nhà cung cấp tạo áp lực
giảm giá do đó khả năng mua sắm của khách hàng cao hơn, nâng cao
mức sống của mọi người
- Lợi ích cho các nước nghèo: Những nước nghèo có thể tiếp cận với các
sản phẩm, dịch vụ từ các nước phát triển hơn thông qua Internet và
TMĐT. Đồng thời cũng có thể học tập được kinh nghiệm, kỹ năng... được
đào tạo qua mạng.
- Dịch vụ công được cung cấp thuận tiện hơn: Các dịch vụ công cộng như
y tế, giáo dục, các dịch vụ công của chính phủ... được thực hiện qua mạng
với chi phí thấp hơn, thuận tiện hơn. Cấp các loại giấy phép qua mạng, tư
vấn y tế.... là các ví dụ thành công điển hình
II. Hình thức hoạt động TMĐT
1.Giao dịch TMĐT
Giao dịch TMĐT (electronic commerce transaction) với chữ “thương
mại” được hiểu với đầy đủ các nội dung đã ghi trong đạo luật mẫu về
TMĐT của Liên hợp quốc, gồm 4 kiểu giao dịch :
_Người với người : qua điện thoại, máy Fax và thư điện tử(electronic
mail) ;
_Người với máy tính điện tử :trực tiếp hoặc qua các mẫu biểu điện tử
(electronic form) và qua “võng thị toàn cầu” (World Wide Web);
_Máy tính điện tử với máy tính điện tử : qua trao đổi dữ liệu điện tử (EDI
: electronic Data interchange), thẻ thông minh(smart card), các dữ liệu mã
hoá bằng vạch (barcoded data, cũng gọi là dữ liệu mã vạch );
_Máy tính điện tử với người : qua thư tín do máy tự động sản ra, máy Fax
và thư điện tử.
2. Các loại giao dịch TMĐT
Có ba chủ thể tham gia giao dịch TMĐT, đó là Doanh nghiệp (B) giữ vai
trò động lực phát triển TMĐT, Người tiêu dùng (C) giữ vai trò quyết định
thành công của TMĐT và Chính phủ (G) giữ vai trò định hướng, điều tiết
qua các giao dịch TMĐT.
_Các cấp chính quyền có thể làm việc với nhau hoặc với các doanh
nghiệp (loại hình G2B): Đây là loại hình TMĐT giữa doanh nghiệp và
Chính phủ, được hiểu chung là thương mại giữa các doanh nghiệp khối
hành chính công. Nó bao hàm việc sử dụng Internet cho mua bán công,
thủ tục cấp phép và các hoạt động có liên quan tới chính phủ. Hình thái
này của thương mại có hai đặc tính: thứ nhất, khu vực hành chính công có
vai trò dẫn đầu trong việc thiết lập TMĐT; thứ hai, người ta cho rằng khu
vực này có nhu cầu lớn nhất trong việc biến các hệ thống mua bán trở nên
hiệu quả hơn.
2.Hình thức hoạt động của TMĐT
a. Thư điện tử (email) : Thư điện tử, hay email (từ chữ electronic mail) là
một hệ thống chuyển nhận thư từ qua các mạng máy tính. Email là một
phương tiện thông tin rất nhanh. Một mẫu thông tin (thư từ) có thể được
Website: Email : Tel : 0918.775.368
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
gửi đi ở dạng mã hoá hay dạng thông thường và được chuyển qua các
mạng máy tính, đặc biệt là mạng Internet. Nó có thể chuyển mẫu thông
tin từ một máy nguồn tới một hay rất nhiều máy nhận trong cùng lúc.
Ngày nay, email chẳng những có thể truyền gửi được chữ mà còn truyền
được các dạng thông tin khác như hình ảnh, âm thanh, phim,…
b. Thanh toán điện tử (electronic payment) là việc thanh toán tiền thông
qua thông điệp điện tử (electronic message) thay cho việc giao tay tiền
mặt. Ngày nay, với sự phát triển của TMĐT, thanh toán điện tử đã mở
rộng bao gồm : trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic
Data Interchange - FEDI), tiền mặt Internet (Internet Cash), túi tiền điện
tử (electronic purse), thẻ thông minh (smart card), giao dịch ngân hàng số
hoá (digital banking)
* Hiện nay hình thức thanh toán điện tử được áp dụng trong rất nhiều lĩnh
thoả thuận buôn bán với nhau theo cách này một cách tự động mà không
cần có sự can thiệp của con người. EDI sử dụng rộng rãi trên thế giới, chủ
yếu phục vụ cho mua và phân phối hàng (gửi đơn hàng, các xác nhận, các
tài liệu gửi hàng, hoá đơn...), người ta cũng dùng cho các mục đích khác,
như thanh toán tiền khám bệnh, trao đổi các kết quả xét nghiệm... EDI
chủ yếu được thực hiện qua mạng ngoại bộ (Extranet).
d. Giao gửi số hoá các dung liệu (digital delivery of content) : dung liệu
(content) là phần của hàng hoá với tính cách là nội dung của nó, nói cách
khác, dung liệu chính là nội dung của hàng hoá chứ không phải kà bản
thân nội dung. Ví dụ : tin tức, sách báo, các chương trình phần mềm, các
yw kiến tư vấn, vé máy bay, hợp đồng bảo hiểm...Ngày nay dung liệu
được số hoá và truyền gửi qua mạng, gọi là “giao gửi số hoá” (digital
delivery).
e.Bán lẻ hàng hoá hữu hình (Retail of tangible goods) : Hiện nay danh
mục các hàng hoá bán lẻ qua mạng đã mở rộng hơn rất nhiều, từ hoa tới
quần áo, ô tô và xuất hiện một hoạt động gọi là mua hàng điện tử hay
mua hàng trên mạng. Để thực hiện việc mua và bán hàng, khách hàng chỉ
việc tìm đến trang web của cửa hàng, xem hàng hóa được trưng bày
thông qua hình ảnh hiển thị trên màn hình, xác nhận việc mua và trả tiền
bằng thanh toán điện tử. Người mua chọn hàng rồi đặt vào giỏ mua hàng
giống như đi siêu thị, nhưng ở đây là các thao tác được thực hiện trên
trang web. Sau khi đã chọn đúng mặt hàng, số lượng cần, màu sắc ưng ý,
người mua thực hiện thao tác thanh toán. Tổng giá trị hàng hóa sẽ hiện
lên trang web với đầy đủ chi tiết đơn hàng của khách hàng. Vì là hàng
hóa hữu hình nên tất yếu sau đó cửa hàng phải dùng tới các phương tiện
gửi hàng theo kiểu truyền thống để đưa hàng đến tay người tiêu dùng.
Khách hàng có thể lựa chọn phương thức thanh toán trả cho người giao
hàng hoặc trả qua thẻ tín dụng.
Xu hướng trong những năm tới, TMĐT chủ yếu được ứng dụng trong
lĩnh vực tài chính ngân hàng,tiếp đến là du lịch, kinh doanh bán lẻ và
cầu của TMĐT rất ngiêm ngặt, bao gồm tổng thể nhiều vấn đề phức tạp
đan xen nhau trong mối quan hệ hữu cơ.
_Trước hết là hạ tầng cơ sở công nghệ : TMĐT là hệ quả tất yếu của sự
phát triển kỹ thuật số hoá và công nghệ thông tin mà trước hết là kỹ thuật
máy tính điện tử. Vì thế, TMĐT thực sự có vai trò và hiệu quả đích thực
khi đã có một hạ tầng cơ sở thông tin vững chắc. Hạ tầng cơ sở công nghệ
ấy bao gồm các chuẩn của DN, của cả nước và sự liên kết của các chuẩn
ấy với các chuẩn quốc tế, kỹ thuật ứng dụng và thiết bi ứng dụng và
không vhỉ là của riêng từng DN mà phải là một hệ thống quốc gia với tư
cách như một phân hệ của hệ thống công nghệ thông tin khu vực và toàn
cầu (trên nền tảng của Internet hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là bao gồm cả
các phân mạng, hệ thống liên lạc viễn thông toàn cầu), hệ thống ấy phải
tới được từng cá nhân trong hệ thống thương mại (cho tới từng cá nhân
người tiêu dùng).
Website: Email : Tel : 0918.775.368
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
_Thứ hai, yêu cầu cơ sở nguồn nhân lực : ứng dụng TMĐT làm nảy sinh
hai đòi hỏi lớn về nhân lực.
+Một là,mọi người đều phải quen thuộc và phải có khả năng thành thạo
hoạt động trên mạng.
+Hai là, có một đội ngũ chuyên gia tin học mạnh, thường xuyên bắt kịp
các công nghệ thông tin mới, phát triển để phục vụ cho kinh tế số hoá nói
chung và TMĐT nói riêng (hiện nay đã ở mức đổi mới hàng tuần), cũng
như có khả năng thiết kế các chương trình phần mềm đáp ứng nhu cầu
hoạt động của một nền kinh tế số hoá, tránh bị động, lệ thuộc hoàn toàn
với nước khác.
Vì vậy, TMĐT sẽ dẫn tới sự thay đổi căn bản trong hệ thống giáo dục và
đào tạo.
_Thứ ba, tạo lập môi trường kinh tế và pháp lý : ở mỗi nước, TMĐT chỉ
tự động. Những tác động văn hoá, xã hội của Internet và vấn đề lệ thuộc
công nghệ cũng cần được tính đến khi áp dụng TMĐT.
CHƯƠNG II . THỰC TRẠNG TMĐT Ở VN
Sự phát triển của thương mại điện tử (TMĐT) trên thế giới đã làm thay
đổi cách thức kinh doanh, giao dịch truyền thống và đem lại những lợi ích
to lớn cho xã hội. Với Việt Nam, TMĐT tuy còn khá mới mẻ, nhưng đã
hé mở nhiều triển vọng sáng sủa, đặc biệt là sau khi Việt Nam chính thức
trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới cuối năm
2006. Chúng ta đã chứng kiến những bước ngoặt đối với TMĐT Việt
Nam trong năm 2007. Đứng trước sự phát triển đó, TrustVn tạm phác
thảo ra một số nét tiêu biểu đối với TMĐT Việt Nam năm nay:
- Thanh toán trực tuyến đã được triển khai tại Việt Nam
- Các tập đoàn thương mại điện tử hàng đầu thế giới triển khai các dịch
vụ tại thị trường Việt Nam
- Hệ thống các nghị định hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử đã được ban
hành đầy đủ
- Gần một nửa số tỉnh/thành phố đã có kế hoạch phát triển thương mại
điện tử tới 2010
- Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (Vecom) thành lập
I Môi trường phát triển TMĐT
1. Nhận thức và nguồn lực cho TMĐT .
“Nhận thức thấp” : Đó là một trong những đánh giá của Vụ TMĐT về
nguyên nhân khiến TMĐT tại Việt Nam kém phát triển. Theo Vụ TMĐT,
có 4 nguyên nhân chính dẫn đến sự yếu kém này: nhận thức của người
dân và DN về TMĐT còn thấp; Hệ thống thanh toán điện tử chưa phát
triển; Môi trường pháp lý chưa hoàn thiện; Môi trường xã hội và kinh
doanh chưa tương thích và nhân lực CNTT, hạ tầng CNTT viễn thông
không đáp ứng được yêu cầu. Chính vì chưa nhận thức hết tiềm năng phát
triển của TMĐT, nhiều DN đã bỏ phí cơ hội tăng doanh số bán hàng mà
không phải bỏ ra hàng loạt chi phí như: quảng cáo, tiếp thị, nhân công,
Tuy nhiên từ 2006 đến nay nhận thức của người dân và DN đã có những
chuyển biến khả quan hơn. Đó là xác định đúng thanh toán điện tử là một
trong những cách huy động vốn nhàn rồi hiệu quả nhất với bất kỳ chính
phủ nào. Bước tiến mới từ cuối năm 2006 : Trả lương qua tài khoản, cũng
như khuyến khích các giao dịch qua ngân hàng nhằm tăng lượng tiền lưu
chuyển trong các ngân hàng, tạo nguồn vốn dồi dào cho đầu tư, kinh
doanh... tất cả đều cho mục đích phát triển nền kinh tế. Chưa kể đến số
tiền khổng lồ nếu được thanh toán bằng thẻ cho các hợp đồng giao dịch,
buôn bán, và nhu cầu mua sắm của người dân. Hiện nay theo thống kê
của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, số lượng thanh toán bằng tiền mặt
giảm xuống hàng năm khoảng 17%/năm.
Bên cạnh chuyển biến về thói quen dùng tiền mặt, tập quán tiêu dùng
trong xă hội cũng đang có những bước thay đổi lớn cùng với sự tăng
trưởng nhanh của hàm lượng thông tin trong nền kinh tế. Người tiêu dùng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hiện đại, đặc biệt giới trẻ và những người có thu nhập cao, ngày càng hiểu
biết và được tiếp cận nhiều thông tin hơn, do đó nhu cầu tiêu dùng cũng
trở nên tinh tế hơn. Trong bối cảnh đó, thương mại điện tử đem lại một
giải pháp tư tưởng để người tiêu dùng tìm hiểu thông tin và mở rộng
phạm vi lựa chọn hàng hóa dịch vụ. Một tỷ lệ ngày cao người dùng
Internet Việt Nam đang bắt đầu tham gia vào thương mại điện tử, từ
những bước đơn giản ban đầu như tra cứu thông tin sản phẩm, tìm hiểu
về dịch vụ, cho đến tiêu thụ dịch vụ trực tiếp trên Internet (như chơi trò
chơi trực tuyến, tải nhạc, tải phần mềm, v.v…)
b.Nhận thức của DN
Hầu hết các doanh nghiệp (DN) Việt Nam chưa dám nghĩ tới việc xây
dựng website từ khi thành lập, hoặc trước khi ra đời, mà thường là sau
khi hoạt động rất nhiều năm mới "lò dò" đi hỏi: Nếu tôi muốn có một
thành công cụ chính trong hoạt động kinh doanh của mình, như: VEC,
VASC, VDC, VNET,... hay sử dụng TMĐT để tiến hành hoạt động xúc
tiến thương mại, hỗ trợ các DN Việt Nam thâm nhập thị trường Australia
như Công ty VBD. Những nỗ lực này đều xuất phát từ một điểm là họ có
sự nhận thức thấu đáo hơn các DN khác về TMĐT.
Theo các chuyên gia, điều quan trọng nhất trong việc phát triển TMĐT ở
Việt Nam hiện nay xuất phát từ các doanh nghiệp. Đây là lực lượng nòng
cốt ứng dụng và phát triển TMĐT.
c. Nhận thức về vấn đề an ninh, an toàn mạng
Hoạt động thương mại điện tử diễn ra trong một không gian kinh tế khác
biệt so với các phương thức kinh doanh truyền thống, và môi trường
thương mại điện tử cũng có những rủi ro rất đặc thù. Để tham gia thương
mại điện tử một cách thật sự hiệu quả, các bên cần có nhận thức đúng đắn
về những rủi ro này, đồng thời trang bị những hiểu biết phù hợp nhằm tự
bảo vệ ḿnh trong môi trường đó. Nhiều vụ lừa đảo và vi phạm liên quan
đến thương mại điện tử trong năm qua được thực hiện một phần cũng do
nhận thức của người tiêu dùng về các vấn đề này chưa được thấu đáo.
Bên cạnh đó, còn có các hành vi gây rối của các cá nhân trên môi trường
mạng như phát tán virus và tấn công website. Các hành vi này có tác
động xã hội rất lớn, gây ảnh hưởng tiêu cực tới tâm lý của người tiêu
dùng và phá hoại tính ổn định trong môi trường TMĐT. Mặt khác, tốc
độ lây lan và diện ảnh hưởng của những hành vi này cũng cho thấy nhận
thức của xã hội về các biện pháp tự bảo vệ khi tham gia môi trường kinh
doanh trực tuyến còn rất thấp.
Theo tổng kết của Bkis, năm 2007 nổi lên một số vấn đề về an ninh mạng
như: nhiều website chưa bảo đảm an ninh, nhất là website của các công ty
chứng khoán, mật khẩu là điểm yếu của người sử dụng máy tính, các hình
thức lừa đảo qua mạng ngày càng tăng.
Theo ông Nguyễn Tử Quảng, Giám đốc Trung tâm Bkis, năm 2006,
Trung tâm đã tiến hành khảo sát và phát hiện ra lỗ hổng nguy hiểm tại
Truyền hình, đài và báo viết là ba công cụ lớn tham gia vào quá trình
tuyên truyền về thương mại điện tử trong thời gian qua.
Sự xuất hiện của kênh truyền hình kỹ thuật số 5 (VTC5) từ ngày 1/8/2006
đã mang lại nhiều thông tin cho khán giả về tất cả các lĩnh vực của khoa
học công nghệ nói chung cũng như công nghệ thông tin và TMĐT nói
riêng. Chuyên mục “Cuộc sống số” của VTV1 cũng là chuyên mục hấp
dẫn thu hút được đông đảo người xem. Đài tiếng nói Việt Nam (VOV)
cũng tích cực tham gia tuyên truyền các kiến thức về thương mại điện tử
cho thính giả trong cả nước.
Bên cạnh báo hình, báo viết cũng được ghi nhận là một kênh tuyên truyền
quan trọng cho TMĐT. Nhiều báo viết hiện nay đã có hẳn chuyên trang
Công nghệ thông tin, nơi tập hợp thông tin đa dạng về các hoạt động và
sự kiện liên quan tới TMĐT. Một số báo điển hình là Lao động, Sài g̣òn
Giải phóng, Thương mại, Thời báo Kinh tế Việt Nam và tạp chí Thế giới
Vi tính.
Khác với báo viết, báo điện tử hướng tới các đối tượng độc giả đã sẵn có
phương tiện và kiến thức nhất định về ứng dụng Internet. Với tính ưu việt
về sự tiện lợi, chi phí thấp và tần suất cập nhật thông tin cao, báo điện tử
là một kênh tuyên truyền kiến thức hiệu quả về TMĐT với số lượng độc
giả ngày một tăng. Nội dung của các báo điện tử khá phong phú, đặc biệt
Website: Email : Tel : 0918.775.368
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
là các chuyên đề về công nghệ thông tin và thương mại điện tử. Những
chuyên đề như Nhịp sống số (Tuổi trẻ online), Vi tính (Vnexpress), Công
nghệ thông tin truyền thông (Vietnamnet), Vi tính–Internet (24h.com.vn),
Khoa học công nghệ (Tiền phong online), TMĐT (Chúng ta) đã thu hút
rất nhiều độc giả.
_Trên các website doanh nghiệp và các diễn đàn về thương mại điện tử
Kiến thức về thương mại điện tử cũng được cung cấp thường xuyên trên
Ngoài ra, trong năm 2006 nhiều cuộc hội thảo, toạ đàm về TMĐT với các
chủ đề đa dạng đã được tổ chức ở hàng chục tỉnh, thành phố, đặc biệt là
Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Những cuộc hội thảo này có hiệu quả rất
Website: Email : Tel : 0918.775.368
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lớn trong việc tuyên truyền về lợi ích của thương mại điện tử. Ngoài ra,
phần lớn hội thảo được các phương tiện truyền thông đại chúng quan tâm
đưa tin, bài và phổ biến tới đông đảo các đối tượng trên cả nước.
1.2. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho TMĐT
TMĐT là một công cụ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh
trong bối cảnh nền kinh tế nước ta hội nhập toàn diện vào nền kinh tế thế
giới. Do đó, đào tạo nguồn nhân lực có khả năng quản lý các giao dịch
bằng TMĐT là một nhu cầu cấp bách hiện nay.
Làm thương mại trong môi trường kinh doanh quốc tế đòi hỏi không chỉ
am hiểu về nghiệp vụ kinh doanh quốc tế, nắm vững luật pháp kinh
doanh quốc tế mà còn phải biết tận dụng những thành tựu của công nghệ
thông tin và truyền thông và các hoạt động kinh doanh để tăng hiệu quả,
giảm chi phí, nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trả lời câu hỏi vì sao việc khai thác kinh doanh qua mạng còn hạn chế,
phần lớn doanh nghiệp đều cho là nguồn nhân lực TMĐT còn thiếu và
yếu về kỹ năng. Hiện mới có 38% doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách
về TMĐT, một tỉ lệ khá thấp so với các nước trong khu vực.
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là, vấn đề đào tạo nguồn nhân
lực một cách chính qui cho TMĐT ở nước ta bắt đầu chưa lâu. Ngày
15/9/2005 chúng ta mới có Quyết định 222/QĐ-TTG phê duyệt Kế hoạch
tổng thể phát triển TMĐT, trong đó có dự án đầu tư nguồn nhân lực
TMĐT tại các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và
dạy nghề. Trước đó, một số học viện, trường cũng có đào tạo nhưng các
tiêu chí từ giáo viên, giáo trình cho đến hình thức thi tuyển, đào tạo, công
doanh chuyển sang, của Đại học Ngoại thương thì chủ yếu tự đào tạo, bồi
dưỡng của trường và bên ngoài, của Đại học Kinh tế quốc dân: Tự đào
tạo và đào tạo ở nước ngoài ... Vấn đề bất cập nhất hiện nay của đội ngũ
giảng viên TMĐT là số giảng viên có kiến thức cơ bản về kinh doanh thì
được đào tạo không cơ bản về công nghệ thông tin và ngược lại, có rất ít
giảng viên được đào tạo chuyên nghiệp cả về thương mại lẫn điện tử.
Đồng thời do không đủ điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thiếu các phần
mềm TMĐT hiện đại hỗ trợ cho đào tạo nên các giảng viên vẫn chủ yếu
sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống.
Nguồn giáo trình TMĐT cũng chưa được quy chuẩn, chủ yếu từ nước
ngoài và thông qua mạng Internet, cụ thể gồm: Các chương trình đào tạo
TMĐT ở bậc Đại học, sau Đại học do các giảng viên sau khi tốt nghiệp ở
nước ngoài mang về, chương trình đào tạo của các trường Đại học nước
ngoài cung cấp công khai trên mạng Internet, sách, tài liệu của các tác giả
nước ngoài và Việt Nam. Tất cả các giáo trình này mới chỉ dừng ở mức
cung cấp kiến thức cơ bản, còn chuyên sâu đến kỹ năng ứng dụng, an
toàn, bảo mật, thanh toán điện tử hay chiến lược TMĐT chưa có nhiều.
2. Chính sách và pháp luật cho phát triển TMĐT
2.1. Sự cần thiết phải xây dựng khung pháp lý cho việc triển khai TMĐT
Sự phát triển của TMĐT trên thế giới đã làm thay đổi cách thức kinh
doanh, giao dịch truyền thống và đem lại những lợi ích to lớn cho xã hội.
Tuy nhiên bên cạnh đó cũng phải thừa nhận rằng những rủi ro gặp phải
trong quá trình giao dịch, kinh doanh trên mạng là hiện thực và việc này
đòi hỏi phải có các giải pháp không chỉ về mặt kỹ thuật mà còn cần phải
hình thành được một cơ sở pháp lý đầy đủ. Những kinh nghiệm thực tế
trên thế giới cho thấy để thúc đẩy TMĐT phát triển thì vai trò của Nhà
nước phải được thể hiện rõ nét trên hai lĩnh vực: cung ứng dịch vụ điện tử
Website: Email : Tel : 0918.775.368
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
được tận dụng và phát huy. Chính vì vậy việc xoá bỏ rào cản đầu tiên ảnh
hưởng đến sự phát triển của thương mại điện tử là về phía Nhà nước cần
phải có sự ghi nhận về mặt pháp lý đối với giá trị của văn bản giao dịch
thông qua phương tiện điện tử.
Việc chúng ta ghi nhận giá trị pháp lý của các hình thức thông tin điện tử
có thể được thực hiện bằng hai cách chính như sau:
- Thứ nhất: Nên đưa ra khái niệm văn bản điện tử và có những quy định
riêng đối với loại văn bản này.
- Thứ hai: Phải coi các hình thức thông tin điện tử như là các văn bản có
giá trị tương đương với văn bản viết nếu như chúng đảm bảo được các
yếu tố:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
. Khả năng chứa thông tin, các thông tin có thể được lưu giữ và tham
chiếu lại khi cần thiết.
. Ðảm bảo được tính xác thực của thông tin
. Ðảm bảo được tính toàn vẹn của thông tin
Hiện nay tại Việt nam vấn đề này chúng ta đã có đề cập đến và đã được
giải quyết tuy còn ở một góc độ rất hạn chế. Trong luật Thương mại Việt
nam đã có quy định Hợp đồng mua bán hàng hoá thông qua điện báo,
telex, fax, thư điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác cũng được
coi là hình thức văn bản. Tuy nhiên ở các hợp đồng kinh tế, dân sự,
thương mại khác thì vấn đề này chưa đuợc thừa nhận một cách rõ ràng và
cụ thể. Chính vì vậy để hoàn thiện và có một cách hiểu thống nhất chúng
ta cần phải có những điều chỉnh kịp thời trong thời gian tới.
* Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử
Từ trước đến nay chữ ký là phương thức phổ biến để ghi nhận tính xác
thực của thông tin được chứa đựng trong văn bản. Có một số đặc trưng cơ
bản của chữ ký là:
nhân rộng để chữ ký điện tử trở thành phổ biến trong các giao dịch
thương mại điện tử.
* Vấn đề bản gốc
Vấn đề "bản gốc" có liên quan chặt chẽ đến vấn đề "chữ ký" và "văn bản"
trong môi truờng kinh doang điện tử. Bản gốc thể hiện sự toàn vẹn của
thông tin chứa đựng trong văn bản. Trong môi trường giao dịch qua mạng
thì vấn đề bản gốc được đặt gắn liền với việc sử dụng chữ ký điện tử. Do
đó chữ ký điện tử không những chỉ xác định người ký mà còn nhằm xác
minh cho tính toàn vẹn của nội dung thông tin chứa trong văn bản. Việc
sử dụng chữ ký điện tử đồng nghĩa với việc mã hoá tài liệu được ký kết.
Về mặt nguyên tắc thì văn bản điện tử và văn bản truyền thống có giá trị
ngang nhau về mặt pháp lý. Vấn đề này được làm rõ sẽ là cơ sở cho việc
xác định giá trị chứng cứ của văn bản điện tử. Việc công nhận giá trị
chứng cứ của văn bản điện tử đóng một vai trò quan trọng trong sự phát
triển của thương mại điện tử. Chỉ khi giá trị của văn bản điện tử được đặt
ngang hàng với văn bản viết truyền thống thì các chủ thể trong giao dịch
thương mại điện tử mới sử dụng một cách thường xuyên văn bản điện tử
thay cho văn bản viết truyền thống. Tuy vậy giá trị của văn bản điện tử
cũng chỉ được xác nhận khi nó đảm bảo được các thành tố mà đã được
nêu ở phần trên.
Có thể nói vấn đề xây dựng khung pháp lý làm cơ sở cho thương mại điện
tử phát triển là một việc làm mang tính cấp thiết. Dẫu là còn nhiều vấn đề
mà chúng ta phải bàn về nó song một thực tế là thương mại điện tử không
thể phát triển mạnh và hoàn thiện nếu như không có môi trường pháp lý
đầy đủ cho nó hoạt động. Theo kế hoạch tới cuối năm 2002 Bộ Thương
mại sẽ trình Chính phủ Pháp lệnh về Thương mại điện tử. Ðây là sẽ một
tin vui cho tất cả những ai đã, đang và sẽ triển khai, quan tâm đến thương
mại điện tử.
2.3. Một số chính sách liên quan tới thương mại điện tử
_Ngày 7/2/2006 : Quyết định số 32/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính