LUẬN VĂN:
Thị trường chứng khoán và vai trò của hệ
thống ngân hàng thương mại trong thị
trường chứng khoán Lời mở đầu Công nghiệp hoá là bước phát triển tất yếu mà mỗi dân tộc, mỗi đất nước phải trải
qua. Để công nghiệp hoá với tốc độ nhanh cần có cơ chế, chính sách và biện pháp huy
động được nhiều vốn nhất và sử dụng vốn hiệu quả. Một trong những biện pháp, đã được
nhiều nước phát triển sử dụng có hiệu quả, nhằm huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong
nước vào đầu tư, thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài, đó là thị trường chứng khoán. Thị
hàng đầu. Tiềm năng kinh tế của ta có, lực lượng lao động của ta dồi dào, vậy làm sao có
vốn để đầu tư khai thác, thực hiện các dự án nhằm công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước? Một trong những hướng quan trọng để giải quyết vấn đề về vốn là huy động các
nguồn vốn. Trên thực tế, có hai loại nguồn vốn cơ bản có thể khai thác, đó là nguồn vốn
trong nước và nguồn vốn nước ngoài, trong đó, huy động nguồn vốn trong nước được coi
là phương hướng chủ yếu, có vai trò quyết định. Vốn nước ngoài có thể trong thời gian đầu
chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đầu tư nhưng cũng chỉ đóng vai trò quan trọng. Nói đến vấn
đề huy động vốn trong nước là nói đến vai trò của hệ thống tài chính. Vai trò đó được thể
hiện trong việc vốn được chuyển từ nơi thừa vốn nhưng không có cơ hội đầu tư đến nơi
thiếu vốn và có nhu cầu đầu tư. Quá trình này có thể được thực hiện một cách trực tiếp từ
người có vốn đến người có nhu cầu vay bằng việc người đi vay bán cho người có vốn
những chứng khoán (hay còn gọi là những công cụ tài chính, đó là những trái quyền,
quyền được hưởng, đối với thu nhập hoặc tài sản tương lai của người vay). Những chứng
khoán này có thể được mua đi bán lại. Thị trường mà ở đó diễn ra việc mua bán các chứng
khoán này (bao gồm cổ phiếu và trái phiếu) gọi là thị trường chứng khoán (TTCK). Như vậy, TTCK là một định chế tài chính thông qua các công cụ cổ phiếu, trái phiếu, với nhiều
loại khác nhau, cho phép các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, tín dụng, và Chính phủ,
chính quyền địa phương huy động tối đa vốn nhàn rỗi trong dân, dựa vào đầu tư phát triển.
Từ lâu các nhà doanh nghiệp lớn của thế giới đã khẳng định: không thể triển khai các dự
án tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nếu không tập hợp được những nguồn vốn lẻ tẻ trong dân
chúng thành một nguồn vốn khổng lồ mà người tập hợp có toàn quyền sử dụng cho những
mục tiêu trung và dài hạn. TTCK có vai trò đó, cái mà ngành ngân hàng với phương thức
kinh doanh “ăn chắc” không thể làm được. TTCK là “bà đỡ” cho các dự án kinh doanh
tiến bộ nhất đi vào cuộc sống, là biện pháp chủ yếu của việc giải phóng năng lực sản xuất,
cái mà hàng thế kỷ nay đã được kiểm nghiệm và được khẳng định trong hầu hết các công
ty kinh doanh thành đạt nhất của thế giới.
Chính vì vậy, trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế ở nước ta, việc thành lập
và phát triển TTCK là một mắt xích quan trọng trong tổng thể các vấn đề đổi mới cơ chế
tiền dư thừa phải chuyển sang dự trữ bằng vàng, ngoại tệ để đảm bảo hệ số an toàn tài sản
của mình. Ngoài ra, trong hoạt động của xã hội, bên cạnh những khoản tiền tiết kiệm của
dân cư, luôn luôn tồn tại những loại quỹ có vốn bằng tiền tạm thời nhàn rỗi của các tổ
chức, như quỹ bảo hiểm, quỹ phúc lợi tập thể, và các loại quỹ tương trợ khác Một phần
vốn của các loại quỹ này được gửi vào ngân hàng để thực hiện việc thanh toán, số tiền còn
lại quan trọng hơn nhiều, những người quản trị quỹ luôn luôn tự hỏi là làm thế nào cho số
vốn của họ vừa được sinh lợi nhiều nhất, vừa an toàn, vừa có tính tạm thời TTCK là
“chiếc đũa thần” có khả năng giải quyết được các vấn đề đó.
Thực tế cho thấy, TTCK ra đời đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các tổ chức
tài chính, tín dụng huy động được các nguồn vốn dài hạn từ các khoản tiết kiệm và để dành
trong dân chúng và các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức vào quá trình đầu tư.
Mỗi người trong xã hội chỉ có một số tiền nhỏ, nhưng tập hợp lại sẽ thành một khối lượng
lớn khổng lồ. Số tiền khổng lồ này được tập trung qua TTCK để đưa trực tiếp vào công cuộc đầu tư có tính sản xuất. Qua đầu tư, vốn đầu tư sẽ sinh lời, càng kích thích ý thức tiết
kiệm trong dân chúng.
Như vậy, nhờ TTCK, với công cụ cổ phiếu có mệnh giá rất nhỏ và cổ phiếu quỹ đầu
tư, đại đa số dân chúng đều có thể tham gia được vào công cuộc đầu tư của đất nước bằng
số vốn ít ỏi của mình.
2. TTCK là một công cụ giúp Nhà nước thực hiện chương trình phát triển kinh tế -
xã hội
Nhà nước nào cũng có nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế. Nền kinh tế tăng
trưởng hay suy thoái trước hết phụ thuộc vào chính sách và các biện pháp can thiệp của
Nhà nước. Bất cứ Nhà nước nào cũng phải có ngân sách. Ngân sách Nhà nước càng lớn thì
chương trình phát triển kinh tế – xã hội càng dễ thành công. Để có vốn cho chi tiêu, Nhà
nước phải thực hiện chính sách thuế. Thuế là biện pháp quan trọng nhất để tạo vốn cho
ngân sách Nhà nước. Nhưng thông thường, nguồn thu từ thuế không đủ cho chi tiêu, do đó
phải có một nguồn thu khác, đó là trái phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính
quyền địa phương. Đây là một hình thức Nhà nước vay tiền của dân cư. Điều này cũng làm
thiếu thông tin, một vấn đề mà nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm. Không có thông tin
đầy đủ, chính xác thì dù có thừa vốn cũng không có ai dám đầu tư. Ngược lại, về phía ta
cũng có những trường hợp do thiếu thông tin nên ta đã cấp giấy phép đầu tư cho những tổ
chức không đáng cấp. Tuy nhiên, khi có TTCK, chúng ta sẽ phần nào khắc phục được tình
trạng thiếu thông tin hoặc thông tin không trung thực cho cả hai phía. Bởi lẽ, TTCK hoạt
động theo nguyên tắc công khai. Nghĩa là mọi đối tượng tham gia mua bán chứng khoán
phải công khai hoá và cập nhật toàn bộ thông tin liên quan đến giá trị chứng khoán và công
khai khả năng tài chính trong các giao dịch mua bán chứng khoán.
Thứ hai, về khả năng kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài của TTCK. Đầu tư qua
TTCK là đầu tư mua bán chứng khoán tại một TTCK có tổ chức. Trong mỗi loại chứng
khoán theo luật định, người nước ngoài sẽ chỉ được mua theo một tỷ lệ nhất định. Đó là sự
khống chế việc tham gia quản lý và kiểm soát công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Với sự khống chế ở các mức tương ứng cho từng ngành kinh tế, quyền kiểm soát công ty có vốn
đầu tư nước ngoài luôn luôn thuộc về ta. Đó là ưu điểm cơ bản của phương thức thu hút
vốn đầu tư từ nước ngoài thông qua TTCK.
4. TTCK lưu động hoá mọi nguồn vốn trong nước
Các cổ phiếu, trái phiếu tượng trưng cho một số vốn đầu tư được mua đi bán lại trên
TTCK như một thứ hàng hóa. Người nắm giữ các chứng khoán này không sợ vốn của
mình không thể lấy ra được khi không vừa ý. Vì khi cần, họ sẽ bán lại các chứng khoán
này trên TTCK để mua lại cổ phiếu, trái phiếu khác, nhờ vậy, sinh hoạt kinh tế thêm sôi
động.
Với một TTCK hoạt động tốt, các nhà doanh nghiệp sẵn sàng bỏ vốn đầu tư phát
triển sản xuất. Và đến giai đoạn phát triển, giá cổ phiếu tăng lên cao, người ta đem bán số
cổ phiếu đó lấy lời, để rồi lại đầu tư vào một cuộc kinh doanh khác. Vốn của họ luôn luôn
được luân chuyển để tài trợ cho các dự án đầu tư. Bên cạnh đó, đối với những người có
vốn tiết kiệm nhỏ cũng có thể mua được chứng khoán trên TTCK mà không sợ bị kẹt tiền,
và khi cần tiền họ đem số chứng khoán đó ra bán Một khi việc đầu tư vào các doanh
nghiệp có lợi đối với mọi tầng lớp dân chúng, thì qua TTCK, các món tiền tiết kiệm lớn
cũng chỉ mua cổ phiếu của những công ty thành đạt. Với sự tự do lựa chọn của người mua
cổ phiếu, để bán được cổ phiếu, không có cách nào khác hơn là những nhà quản lý các
doanh nghiệp phải tính toán, làm ăn đàng hoàng và có hiệu quả hơn. Hơn nữa, luật lệ của
TTCK bắt buộc các doanh nghiệp tham gia TTCK phải công bố công khai các báo cáo cân
đối tài chính, kết quả kinh doanh hàng quý, hàng năm trước công chúng Qua đó, công
chúng có cơ hội nhận định đánh giá được công ty.
Việc mua bán cổ phiếu của công ty một cách tự do, khiến người có cổ phiếu trở
thành chủ sở hữu của công ty, họ có thể kiểm soát công ty một cách dễ dàng qua các cơ
quan quản lý công ty và nhận biết được khả năng hoạt động của công ty qua sự chấp nhận
của TTCK. Từ đó thúc đẩy công ty phải làm ăn đàng hoàng hơn, tốt hơn.
b. Hệ thống ngân hàng thương mại trong thị trường chứng khoán
1. Vai trò của các ngân hàng thương mại trong thị trường chứng khoán
Như chúng ta đã biết, TTCK và hệ thống ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Rõ ràng TTCK chỉ có thể phát triển vững chắc trên cơ sở một hệ thống ngân hàng
phát triển lành mạnh và được kiểm soát tốt.
Mặc dù về mặt lý thuyết hoạt động ngân hàng và chứng khoán có sự khác biệt, ví
dụ ngân hàng hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ và thị trường vốn ngắn hạn, còn TTCK là thị
Chẳng hạn như những biến chuyển về lãi suất đã được thể hiện rất rõ lãi suất đồng
Việt Nam tăng khá mạnh với mức tăng khoảng 0,02%/tháng so với tháng 10 - 2000. Đáng
lẽ theo quy luật thị trường, việc tăng lãi suất tất yếu sẽ kéo theo việc rút lui của người đầu
tư khỏi TTCK để chuyển sang đầu tư vào thị trường tiền tệ kéo theo sự giảm giá trên
TTCK. Thế nhưng trên thực tế thì TTCK lại vận động theo xu hướng hoàn toàn ngược lại.
Giá cổ phiếu của các công ty niêm yết vẫn có chiều hướng đi lên, chỉ số chứng khoán Việt
Nam - Index đều tăng trong hầu hết các phiên giao dịch. Theo kết quả của phiên giao dịch ngày 5-2-2001, giá cổ phiếu của Công ty cổ phần Giấy Hải Phòng đã vượt quá
50000đồng/cổ phiếu, còn cổ phiếu của các công ty khác, ngoại trừ cổ phiếu của Công ty cổ
phần chế biến hàng xuất khẩu tỉnh Long An, đều đã vượt mức 40000đồng/cổ phiếu. Ngoài
ra, tỷ giá đôla Mỹ với đồng Việt Nam cho dù tăng liên tục trong thời gian qua cũng không
có tác động gì với hoạt động trên TTCK. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu sự đồng bộ
trong quan hệ giữa TTCK và thị trường tiền tệ nên mối quan hệ tương hỗ giữa TTCK và
thị trường tiền tệ chưa phát huy được tác dụng như mong muốn. Đây cũng là kết quả tất
yếu của một TTCK tuy đã ra đời nhưng vẫn còn ở dạng sơ khai, chưa phát huy đúng vai
trò của nó trong nền kinh tế. Thế nhưng, ở nước nào cũng vậy, trong giai đoạn đầu hình
thành TTCK và ngay cả khi TTCK đã đi vào hoạt động ổn định thì hệ thống NHTM vẫn có
một vai trò hết sức quan trọng, nếu không có một hệ thống ngân hàng vững mạnh thì càng
không thể nghĩ đến một TTCK có hiệu quả cao.
Chính vì vậy, trong việc hình thành và hoạt động của TTCK ở Việt Nam, việc quan
tâm đúng mức và phát huy đầy đủ vai trò của ngân hàng là rất cần thiết, bởi lẽ:
Ngân hàng thương mại vốn là một trung gian tài chính quan trọng nhất trên thị trường
tài chính, luôn giữ vai trò trung gian trong quá trình huy động và cung ứng vốn cho
toàn bộ nền kinh tế bằng việc chuyển vốn từ những nơi có cung lớn hơn cầu về vốn
(thừa vốn) đến nơi có cung nhỏ hơn cầu (thiếu vốn) giúp cho nền kinh tế phát triển ổn
định. NHTM đem lại lợi ích cho cả người cho vay tiền (bằng những khoản lãi suất) và
cả người đi vay (bằng việc được vay một khoản vốn mà họ không thể có được bằng
những con đường khác). Như vậy, mặc dù là một tổ chức kinh doanh kiếm lời, nhưng
ngân hàng có được sự lựa chọn mua chứng khoán cho chính mình.
Theo quy định của pháp luật, các công ty cổ phần khi tham gia vào TTCK phải
công khai hoá các báo cáo tài chính, tình hình hoạt động của công ty. Nhưng các nhà
đầu tư đôi khi không có thời gian theo dõi một cách kỹ lưỡng, hoặc không theo dõi,
hoặc không có khả năng phân tích một cách có hệ thống và chưa có tài phán đoán, hoặc
đọc song không hiểu rõ tường tận (nhất là thời gian đầu thành lập TTCK). Nhưng các
NHTM do nghề nghiệp của mình nên ngân hàng rất thành thạo về công việc này, mặt khác các công ty cổ phần này có thể là khách hàng của ngân hàng trong quan hệ tín
dụng nên ngân hàng có những thông tin khá đầy đủ và chính xác về hoạt động của công
ty. Từ đó các nhà đầu tư có thể nhờ ngân hàng tư vấn trong mua bán chứng khoán hoặc
nhờ ngân hàng mua bán chứng khoán hộ cho mình và trả phí cho ngân hàng.
Như vậy, hoạt động tín dụng của ngân hàng đã tạo thuận lợi cho ngân hàng tham
gia vào các hoạt động trên TTCK.
Mạng lưới của NHTM sẽ giúp cho việc giao dịch chứng khoán được dễ dàng, rộng
khắp, thuận tiện, tiết kiệm, tiếp cận được với đông đảo khách hàng. ở Việt Nam, tháng
7-2000, Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Tp. Hồ Chí Minh đã ra đời,
và trong năm 2001, TTGDCK thứ hai tại Hà Nội cũng sẽ được ra đời nhằm thúc đẩy sự
phát triển của TTCK Việt Nam.
Tuy nhiên, làm sao chỉ có hai TTGDCK mà phục vụ cho việc huy động vốn và cổ
phần hoá của 61 tỉnh, thành phố và các bộ, ngành? Làm sao mà mở rộng mạng lưới
mua bán chứng khoán trong cả nước, để phục vụ rộng rãi cho các nhà đầu tư, để tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp huy động vốn và tạo điều kiện cho công chúng đầu tư
mua bán chứng khoán? Để giải quyết các vấn đề này, thiết nghĩ TTGDCK chỉ là nơi
tập trung, lưu giữ số liệu, công bố thông tin thị trường và là nơi giao dịch của các công
ty kinh doanh chứng khoán, như vậy, nó đóng vai trò như là trung tâm bán buôn hoặc
là nơi mua bán của các công ty kinh doanh chứng khoán. Phần lớn các hoạt động giao
dịch chứng khoán được thực hiện ở các công ty chứng khoán. Đối với công chúng đầu
tư và cả công ty phát hành chứng khoán thì vấn đề địa điểm phát hành và mua bán
Như vậy, dù ở bất cứ nền kinh tế nào thì vai trò của hệ thông ngân hàng đối với sự
hoạt động và phát triển của TTCK là rất to lớn. Nếu ta hình dung TTCK như một cỗ máy
khổng lồ thì vị trí của ngân hàng như những bánh răng truyền lực. Tất nhiên nhà thiết kế
có thể sử dụng những sợi dây cuaroa thay vì những bánh răng để truyền lực. Song có một
điều chắc chắn rằng hiệu suất của cỗ máy khổng lồ này sẽ giảm đi rõ rệt và do đó, nó sẽ
không thể phát huy được đầy đủ vai trò quan trọng của mình trong quá trình vận hành.
2. Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại trên TTCK
Trên đây, ta đã nghiên cứu vai trò hết sức quan trọng của các NHTM đối với
TTCK, cả với thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Với những vai trò như vậy, NHTM
có thể thực hiện các nghiệp vụ cơ bản sau đây trên TTCK:
2.1. Nghiệp vụ bảo lãnh, phát hành và phân phối chứng khoán trên thị trường
sơ cấp
Cùng với hoạt động mua đi bán lại các chứng khoán đã phát hành trên thị trường
thứ cấp, hoạt động phát hành và cung ứng các chứng khoán mới để tăng vốn của các doanh
nghiệp cũng diễn ra liên tục trên thị trường sơ cấp. Góp phần vào việc tạo ra sự sôi động
trên thị trường sơ cấp phải kể đến ngân hàng đầu tư (NHĐT), định chế tài chính hoạt động
với tư cách là trung gian giữa các doanh nghiệp phát hành và người mua chứng khoán sau
cùng. Thông thường tại các nước có thị trường vốn phát triển, mỗi đợt phát hành các
chứng khoán mới đều được tổ chức dưới sự hỗ trợ đắc lực của các NHĐT. Vai trò này thể
hiện ở việc NHĐT cung ứng một loạt các dịch vụ: tư vấn, bao tiêu và phân phối các chứng
khoán mới được phát hành đến công chúng.
Trước hết ta cần hiểu rằng thuật ngữ “NHĐT” có ý nghĩa khá đặc biệt vì NHĐT
hoàn toàn không phải là NHTM hiểu theo nghĩa thông thường. Đó là một định chế tài
chính chuyên nghiệp, chuyên kinh doanh chứng khoán trên thị trường tài chính. Nói cách
khác, NHĐT chính là công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán trên TTCK. Trong một
đợt phát hành chứng khoán mới ra công chúng, với tư cách là nhà tư vấn, NHĐT cung cấp
những dịch vụ hỗ trợ cần thiết để giúp các doanh nghiệp có thể đáp ứng yêu cầu của Uỷ
chỉ thực hiện hình thức bao tiêu này cho những doanh nghiệp lớn, có uy tín cao trên
thương trường. Khác với hình thức cam kết bao tiêu chắc chắn, khi thực hiện bao tiêu hình
thức cam kết với mức tối đa, NHĐT chỉ cam kết bán càng nhiều các chứng khoán mới
càng tốt chứ không mua toàn bộ các chứng khoán được phát hành. Khi thực hiện hình thức
bao tiêu này, NHĐT giữ vai trò là nhà đại lý. Ngoài ra, trong vai trò của một chính phủ giao dịch, NHĐT cũng có thể đóng vai trò là nhà bao tiêu dự phòng trong trường hợp
doanh nghiệp phát hành các cổ phiếu có quyền đăng ký mua trước. Đặc quyền này cho
phép các cổ đông hiện tại được quyền mua một phần các chứng khoán mới được phát hành
trong một thời gian cố định (thường là 30 đến 60 ngày) trước khi phát hành cổ phiếu ra
công chúng. Trong trường hợp này, nhà phát hành có thể đề nghị NHĐT thực hiện một
cam kết theo đó NHĐT sẽ mua tất cả các cổ phần có đặc quyền đăng ký trước nhưng
không được mua. Loại cam kết này được gọi là cam kết bao tiêu dự phòng.
Thông thường, các NHĐT có thể thực hiện bao tiêu theo hai cơ chế bao tiêu thương
lượng và bao tiêu đấu giá. Trong cơ chế bao tiêu thương lượng, nhà phát hành và nhà bao
tiêu sẽ thương lượng về các điều khoản cung ứng, giá bán ra và lệ phí cho nhà bao tiêu.
Trong cơ chế bao tiêu đấu giá (bao tiêu theo giá đặt mua có tính cạnh tranh), nhà phát hành
sẽ thông báo ý định phát hành chứng khoán, mời các nhà bao tiêu đặt mua chứng khoán và
nhà phát hành sẽ chọn nhà bao tiêu nào đặt mua với giá cao nhất.
Một dịch vụ cũng được NHĐT cung cấp là dịch vụ phân phối chứng khoán đến các
nhà đầu tư. Trong thực tế, cũng có trường hợp, NHĐT có thể tìm được một nhà đầu tư lớn
đồng ý mua toàn bộ các chứng khoán được phát hành và đứng ra dàn xếp một giao dịch
trực tiếp giữa nhà phát hành và nhà đầu tư này. Trong hình thức mua bán riêng này, NHĐT
được hưởng phí cho các dịch vụ dàn xếp giao dịch (môi giới), xác định giá cả công bằng
và thực hiện giao dịch. Tuy nhiên, khác với hình thức mua bán riêng, trong hình thức mua
bán công khai, thông thường các doanh nghiệp phát hành tổ chức việc phát hành thông qua
một hoặc hai ngân hàng bao tiêu chính. Tuỳ thuộc vào qui mô của đợt phát hành, để chia
sẻ rủi ro, ngân hàng quản lý bao tiêu chính sẽ tổ chức một nhóm gồm các NHĐT khác
tham gia vào việc phân phối các chứng khoán. Nhóm các NHĐT này được gọi là nhóm
khoán và tài khoản tiền mặt. Khi có lệnh mua hay bán chứng khoán của khách hàng, ngân
hàng sẽ nhận lệnh và tiến hành các thủ tục nhằm mua bán hộ chứng khoán cho khách hàng.
Kết quả của hoạt động giao dịch này có thể đem lại cho khách hàng những khoản lời lớn,
nhưng cũng có thể làm cho họ bị thua lỗ. Nhưng cho dù lời hay lỗ thì ngân hàng vẫn được
phép thu một khoản hoa hồng theo quy định của luật pháp (hiện nay ở Việt Nam theo quy định của UBCKNN, đối với cổ phiếu, mức hoa hồng là 0,5% tổng giá trị giao dịch, còn đối
với trái phiếu là 0,15%) và về pháp lý, ngân hàng không chịu trách nhiệm đối với kết quả
cuối cùng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện lệnh theo yêu cầu của khách hàng, ngân
hàng và khách hàng đặt lệnh phải tuân thủ những quy định của pháp luật về chứng khoán
và giao dịch chứng khoán.
Tuỳ thuộc vào khả năng tài chính, mục đích kinh doanh chứng khoán và yêu cầu
trong đơn đặt hàng của mỗi khách hàng mà ngân hàng sẽ lựa chọn một hình thức giao dịch
thích hợp cho khách hàng. Hình thức đó phải bảo đảm lợi ích và thuận lợi cho cả khách
hàng và ngân hàng. Trong nghiệp vụ môi giới chứng khoán, có một số giao dịch chủ yếu
sau đây:
Giao dịch thông thường: là hình thức giao dịch được áp dụng phổ biến đối với
những người đầu tư chỉ nhằm mục đích mua chứng khoán để hưởng lợi tức đơn
thuần. Theo hình thức này, sau khi thực hiện xong giao dịch, người bán phải
giao chứng khoán và người mua phải trả tiền sau một thời gian nhất định kể từ
ngày giao dịch. Với hệ thống thanh toán hiện đại và hầu hết các khách hàng đặt
lệnh mua bán chứng khoán đều mở tài khoản tại ngân hàng, nên các khoản tiền
thanh toán đều được thực hiện bằng chuyển khoản.
Giao dịch bán khống: là việc bán chứng khoán mà tại thời điểm bán, chứng
khoán đó không thuộc sở hữu của người bán. Cụ thể, trong hoạt động kinh
doanh chứng khoán, khi nhà đầu tư nhận định xu hướng sắp tới giá của một loại
chứng khoán sẽ giảm, nhưng nhà đầu tư không có chứng khoán để bán, họ tiến
hành vay chứng khoán để bán ngay nhằm kiếm lời, sau đó mua chứng khoán
trong tương lai để trả cho người đã cho vay. Khi vay chứng khoán, nhà đầu tư
Đối với Việt Nam, Nghị định về chứng khoán của Chính phủ cũng cấm
nghiệp vụ giao dịch này.
Có thể thấy, hoạt động môi giới chứng khoán hiện nay ở Việt Nam là hoạt động có
tính năng động, ngắn hạn và đòi hỏi ít đầu tư về nguồn vốn và nhân lực. Vì vậy, với mạng lưới chi nhánh rộng khắp và sự tin cậy của khách hàng, NHTM có thể hy vọng nhiều vào
dịch vụ ít rủi ro này.
b. Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán
Thông qua việc phân tích chứng khoán trên thị trường, phân tích tình hình tài chính,
khả năng hoạt động của công ty phát hành, phân tích các dự án đầu tư, từ đó NHTM sẽ
cung cấp các thông tin và tư vấn cho nhà phát hành, nhà đầu tư một cách có hiệu quả.
Vậy tại sao nhà đầu tư không tự mình tìm kiếm và phân tích các thông tin về doanh
nghiệp và các chứng khoán trên thị trường? Lý do ở đây là hoạt động chứng khoán là hoạt
động phức tạp, sự phức tạp ở đây không phải do bản thân TTCK mà là do hoạt động của
các doanh nghiệp với các ngành nghề khác nhau. Vì vậy, đối với các nhà đầu tư trừ một số
nhà kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp, thì phần lớn là không hiểu biết về các doanh
nghiệp cho nên họ cần sự giúp đỡ của các nhà tư vấn. Hơn nữa, đối với những người có
hiểu biết và thường xuyên mua bán trên TTCK, khi đến TTCK, họ đã biết mua cái gì, bán
cái gì, giá cả như thế nào và khối lượng giao dịch là bao nhiêu, đó là những người kinh
doanh chứng khoán chuyên nghiệp. Còn phần lớn công chúng đầu tư trên TTCK đều cần
đến sự giúp đỡ của các dịch vụ tư vấn của ngân hàng. Mặt khác, như đã nói ở phần trên,
theo quy định của pháp luật, các công ty cổ phần phải công khai hoá các báo cáo tài chính
của công ty. Song đôi khi các nhà đầu tư không thể xem xét một cách kỹ lưỡng và đầy đủ
hoặc do không có đủ năng lực để nghiên cứu chúng. Nhưng các NHTM do nghề nghiệp
của mình nên họ rất thành thạo công việc này và có thể tư vấn giúp khách hàng. Như vậy,
với khả năng chuyên môn và quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp trong nghiệp vụ tín
dụng của mình, NHTM là người hiểu rõ nhất thực trạng kinh tế, tài chính của các doanh
nghiệp, có đủ khả năng dự đoán các xu hướng phát triển, và do đó sẽ là người tư vấn cho
đầu tư rất tốt trên TTCK.
cho nhà đầu tư, để từ đó NHTM cũng thu được tiền hoa hồng thoả đáng, thì đòi hỏi NHTM phải có những kiến thức và kỹ năng chuyên môn nhất định nhưng
không yêu cầu vốn lớn.
c. Nghiệp vụ quản lý danh mục chứng khoán
Đây là nghiệp vụ mang tính chất tín thác. Với nghiệp vụ này, ngân hàng đóng vai
trò là những tổ chức đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, được hình thành bởi những người
đầu tư nhỏ và những người kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp cũng góp vốn để thực
hiện đầu tư chứng khoán, nhằm đa dạng hoá lĩnh vực đầu tư, phân tán rủi ro cho những
nguồn vốn đầu tư khiêm tốn. Như vậy, thay vì những người đầu tư đưa vốn của mình cho
các hãng môi giới để trực tiếp mua một hoặc một vài loại chứng khoán nào đó, thì ở đây
họ góp vốn vào tổ chức đầu tư để thực hiện việc đầu tư tập thể. Lợi ích căn bản của đầu tư
qua hình thức này là ở chỗ: đây là những tổ chức đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, do
đó có trình độ chuyên môn, có đủ thông tin cần thiết, hơn nữa, khả năng quản lý, phát huy
hiệu quả vốn đầu tư tốt hơn nhiều so với đầu tư riêng biệt. Mặt khác, đầu tư qua hình thức
này đảm bảo tính thanh khoản cao. Nghĩa là khả năng chuyển hoá từ chứng khoán ra tiền
mặt và ngược lại rất dễ dàng khi có nhu cầu thu hồi lại vốn đầu tư, và rủi ro trong đầu tư bị
hạn chế ở mức thấp nhất, vì vốn đầu tư của quỹ được thực hiện đầu tư phân tán ra nhiều
lĩnh vực.
Thông qua hình thức này, người đầu tư có được một tập chứng khoán gồm nhiều
loại khác nhau, cố định, không thay đổi, từ một số vốn đầu tư khiêm tốn. Ngân hàng đầu tư
uỷ thác thường đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau, nhưng tập trung nhất vẫn là
các loại trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu công ty và cổ
phiếu thượng hạng. Sở hữu một số vốn uỷ thác như vậy, người đầu tư có được một tập
chứng khoán đa dạng, mà nếu đầu tư trực tiếp, người đầu tư không thể có được.
Sở hữu chứng khoán của người đầu tư, ngân hàng thường không thay đổi, nghĩa là
tập chứng khoán của họ vẫn được giữ nguyên cho đến khi thanh toán. Trong trường hợp có
một loại trái phiếu nào đó được công ty phát hành mua lại trước ngày đáo hạn thì trái phiếu
đó của người đầu tư cũng không được thay thế bằng những chứng khoán khác, ngân hàng