LUẬN VĂN:
Tìm hiểu về lãi suất và chính
sách lãi suất của Việt Nam
Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trường lãi suất là một trong những biến số được theo dõi
một cách chặt chẽ nhất bởi nó có quan hệ mật thiết đối với lợi ích kinh tế của từng
người trong xã hội. Lãi suất tác động đến quyết định của mỗi cá nhân: chi tiêu hay
tiết kiệm để đầu tư. Sự thay đổi của lãi suất có thể dẫn tới sự thay đổi quyết định
lói suất ở Việt Nam. Mục đích của đề án là trình bày rõ lý luận về lãi suất trên
phương diện chung, từ đó đi nghiên cứu các chính sách lãi suất đã sử dụng ở Việt
Nam nhằm thấy rõ những ưu điểm và các mặt hạn chế của từng chính sách qua đó
có thể rút ra những bài học để hoàn thiện chính sách lãi suất ở Việt Nam, giải pháp
để tiến hành tự do hoá lãi suất. Chương I:
cơ sở lý luận về lãi suất
1. Khái niệm về lãi suất.
1.1Khái niêm về lãi suât.
điều tiết sự ổn định của tỷ giá.Điếu này không những tác động đến đầu tư phát triển
kinh tế mà còn tác động trực tiếp đến cán cân thanh toán và các quan hệ thương mại
quốc tế của nước đó đối với nước ngoài.
Lãi suất là công cụ điều tiết đối với thị trường : thị trường hàng hoá, thị trường
tài chính.Đối với thi trường hàng hoá khi giá cả tăng lên thì nhà nước điều tiết giá cả
xuống bằng cách cho vay đối với người sản xuất hàng hoá đó khi đó cung hàng hoá
tăng dẫn đến giá cả giảm. Còn đối với thị trường tài chính là nơi diễn ra hoạt động
mua bán vốn mà giá cả ở đây chính là lãi suất.
Lãi suất là cơ sở để cho các cá nhân các doanh nghiệp đưa ra các quyết định
kinh tế của mình như :chi tiêu hay tiết kiệm ; đầu tư số vốn vào danh muc đầu tư
này hay danh mục đầu tư khác.Lãi suất còn là cơ sở để củng cố hạch toán kinh
tế.Lãi suất là một khoản chi phí cộng với chi phí sản suất khác từ đó ta có được tổng
chi phí.
1.3. Các loại lãi suất cơ bản và phương pháp đo lường.
a. Lãi suất đơn.
Vay đơn là cung cấp cho người vay một khoản tiền vốn, vốn này phải được
hoàn trả người cho vay vào ngày mãn hạn cùng với một khoản tiền phụ được gọi là
tiền lãi.
Đối với những khoản tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay đơn, lãi suất
được gọi là lãi suất đơn.
Phương pháp tính lãi suất đơn:
Tiền lãi
Lãi suất đơn =
Tổng số vốn
Như vậy ta thấy việc tính toán lãi suất đơn rất đơn giản và thông thường được
áp dụng trong các món vay thương mại có thời hạn ngắn hơn một năm hay là thời
hạn cho vay trùng khít với chu kỳ tính lãi.
nhận được từ một khoản tín dụng với giá trị hôm nay của khoản tín dụng đó.
Lãi suất hoàn vốn thường được áp dụng đối với các khoản tín dụng mà việc trả
vốn và lãi theo định kỳ hoặc trả một khoản cố định theo định kỳ, chẳng hạn vay cố
định hoặc trái phiếu coupon.
Phương pháp tính:
- Trường hợp thời hạn tín dụng là n năm ta có
PV*(1+i)
n
=FV
n
hay PV=FV
n
/(1+i)
n
Trong đó - PV: giá trị hiện tại
- FV
n
: giá trị tương lai sẽ được thanh toán của số tiền sau thời gian
tín dụng.
-Trường hợp những khoản tín dụng trả từng phần cố định vào thời điểm cuối
mỗi năm trong suốt thời kỳ tín dụng thì ta có:
PV=FP/(1+i)
1
+FP/(1+i)
2
+…+FP/(1+i)
*Lãi suất hoàn vốn hiện hành.
Phương pháp tính: bằng tỷ số giữa tiền thanh toán coupon hàng năm với giá của
trái phiếu đó.
i
c
= C/P
cb
Trong đó: - i
c
là lãi suất hoàn vốn hiện hành của trái phiếu coupon.
- P
cb
là giá của trái phiếu coupon.
- C là tiền coupon hàng năm.
*Lãi suất hoàn vốn trên cơ sở tính giảm.
Sử dụng cho các loại trái phiếu chiết khấu hay tính giảm, tức là để trả thu nhập
cho người mua người ta bán trái phiếu với giá thấp hơn mệnh giá của nó. Để đơn
giản người ta tính tỷ suất lợi nhuận của trái phiếu và coi tỷ suất đó như là lãi suất
hoàn vốn:
i
tg
= {(F - P
tg
)/F}(360/N)
Trong đó: - i
tg
là lãi suất hoàn vốn trên cơ sở tính giảm.
- F là mệnh giá của trái phiếu tính giảm.
i
là tỷ lệ lạm phát
- Trường hợp tỷ lệ lạm phát i
i
cao hơn 10% thì lãi suất thực phải tính theo công
thức sau:
i
n
- i
i
i
r
= –
i
i
+ 1
Ta thấy tỷ lệ lạm phát càng cao, lãi suất thực càng thấp.
b. Lãi suất và tỷ suất lợi tức.
Lãi suất là tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn cho vay.
Tỷ suất lợi tức là tỷ lệ phần trăm của số thu nhập của người có vốn trên tổng số
vốn anh ta đã đưa vào sử dụng (đầu tư hay cho vay).
- Ví dụ về lãi suất và tỷ suất lợi tức: Ông A mua một trái phiếu kho bạc có thời
hạn là 1 năm, mệnh giá là 1.000.000 VND với lãi suất cố định là 6% năm. Nếu ông
A giữ trái phiếu đó cho đến ngày đáo hạn và nhận khoản thu nhập bằng 6% mệnh
giá trái phiếu và đúng bằng lãi suất của trái phiếu. Nhưng nếu lãi suất trên thị
trường là 5%, ông A đem bán trái phiếu này và thu được 1.200.000 VND, thì lúc
này khoản thu nhập của ông A là 200.000 VND và tỷ suất lợi tức là 20%.
Như vậy, lãi suất không nhất thiết phải bằng với tỷ suất lợi tức. Trong hoạt
trong thời hạn nhất định, tuỳ theo tính chất của món vay và thời gian vay vốn mà lãi
suất cho vay được xác định khác nhau, tuy vậy lãi suất cho vay thường được xác
định dựa trên cơ sở của lãi suất tiền gửi:
i
cv
= i
tg
+ X
Trong đó: - i
cv
là lãi suất cho vay.
- X là chi phí nghiệp vụ của ngân hàng.
- Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng cho nhau vay tiền tệ như
lãi suất LIBOR hay PIBOR tương ứng với lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân
hàng London hay Paris
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất.
2.1. Cung và cầu về vốn.
Lãi suất là giá cả của cho vay chính vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của cung và
cầu về vốn không cùng một tỷ lệ đều sẽ làm thay đổi mức lãi suất trên thị trường
Từ đó cho thấy ta có thể điều chỉnh mức lãi suất trên thị trường bằng cách tác
động vào cung cầu vốn trên thị trường mặt khác muốn duy trì sự ổn định của lãi
suất thì sự ổn định của thị trường vốn phải được đảm bảo vững chắc.
2.2. Lạm phát kỳ vọng.
Khi mức lạm phát được dự đoán sẽ tăng lên trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ
có xu hướng tăng lên (hiệu ứng Fisher).
Nguyên nhân:
- Xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa cho thấy để
trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay làm cho không một quốc gia nào, nếu muốn tồn
tại và phát triển, lại không tham gia thực hiện phân công lao động và thương mại
quốc tế. Thông qua quá trình trao đổi buôn bán giữa các nước, tỷ giá (tỷ giá được
niêm yết theo phương pháp biểu hiện trực tiếp) của một nước tăng, xuất khẩu tăng
lên nguồn thu ngoại tệ tăng lên. Điều đó làm tăng cung ngoại tệ, tương đương với
việc tăng cầu nội tệ kết quả là làm lãi suất tăng lên.
Bằng cách lập luận tương tự, chúng ta sẽ thu được một mức lãi suất nội tệ thấp
hơn nếu tỷ giá giảm, đồng nội tệ có giá hơn. Tóm lại, khi mức giá của đồng tiền một
nước so với các nước khác giảm xuống thì một ước đoán hợp lý là lãi suất trong
nước sẽ tăng lên và ngược lại.
2.6. Những thay đổi trong đời sống xã hội.
Ngoài những yếu tố ở trên, lãi suất còn rất nhạy cảm với những biến đổi của
tình hình kinh tế, chính trị cũng như những biến động tài chính quốc tế như các
cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới
Từ cuối năm 2000, nền kinh tế Mỹ rơi vào tỡnh trạng suy thoỏi. Cỏc nền kinh tế
lớn khỏc trờn thế giới : Tõy Âu, Nhật Bản, cũng rơi vào tỡnh trạng trỡ trệ. Để cứu
vón xu thế đó, từ ngày 4-1-2001, Cục dự trữ liên bang Mỹ - FED (Ngân hàng trung
ương của nước này) đó 11 lần hạ lói suất chủ đạo của mỡnh, từ 6,5%/năm (trước
tháng 1-2001) lần lượt xuống cũn 1,75%/thỏng (từ 12-12-2001), thấp nhất trong
vũng hơn 30 năm qua trong lịch sử nền kinh tế Mỹ. Ngân hàng trung ương Nhật
Bản (BOJ) hạ lói suất của mỡnh xuống bằng 0. Ngân hàng trung ương châu Âu
(ECB) cũng nhiều lần hạ lói suất của mỡnh Tỏc động dây chuyền của lói suất trờn
cỏc thị trường chủ chốt của thế giới : Thị trường liên ngân hàng Luân Đôn
(LIBOR), Thị trường liên ngân hàng Xin-ga-po (SIBOR), cũng liên tục giảm. Ở
Việt Nam, để hạn chế tác động tiêu cực của xu hướng suy giảm nền kinh tế toàn cầu
từ đầu năm 2001 đến nay, ngân hàng nhà nước (NHNN) đó cắt giảm lói suất cơ bản
đối với đồng Việt Nam (VND) tới 4 lần, từ mức 0,75%/tháng, xuống cũn 0,725%,
0,65% và 0,60%/tháng (từ 1-11-2001) ; đồng thời, 2 lần cắt giảm lói suất tỏi cấp
họ dự tính lợi nhuận thu được từ tài sản cố định này nhiều hơn số lãi phải trả cho
các khoản đi vay để đầu tư. Do đó khi lãi suất xuống thấp các hãng kinh doanh có
điều kiện tiến hành mở rộng đầu tư và ngược lại. Trong môi trường tiền tệ hoàn
chỉnh, ngay cả khi một doanh nghiệp thừa vốn thì chi tiêu đầu tư có kế hoạch vẫn bị
ảnh hưởng bởi lãi suất, bởi vì thay cho việc đầu tư vào mở rộng sản xuất doanh
nghiệp có thể mua chứng khoán hay gửi vào ngân hàng nếu lãi suất của nó cao.
Đặc biệt trong thời kỳ nền kinh tế bị đình trệ, hàng hoá ứ đọng và xuống giá, có
dấu hiệu thừa vốn và áp lực lạm phát thấp cần phải hạ lãi suất vì nguyên tắc cơ bản
là lãi suất phải nhỏ hơn lợi nhuận bình quân của đầu tư, sự chênh lệch này sẽ tạo
động lực cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô đầu tư.
3.3. Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm.
Thu nhập của một hộ gia đình thường được chia thành hai bộ phận: tiêu dùng và
tiết kiệm. Tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như thu nhập, vấn đề
hàng hoá lâu bền và tín dụng tiêu dùng, hiệu quả của tiết kiệm trong đó lãi suất có
tác dụng tích cực tới các nhân tố đó.
Khi lãi suất thấp chi phí tín dụng tiêu dùng thấp, người ta vay nhiều cho việc
tiêu dùng hàng hoá nghĩa là tiêu dùng nhiều hơn, khi lãi suất cao đem lại thu nhập
từ khoản tiền để dành nhiều hơn sẽ khuyến khích tiết kiệm, do đó tiết kiệm tăng.
3.4. Lãi suất với tỷ giá và hoạt động xuất nhập khẩu.
Như ta đã biết, tỷ giá là giá cả tiền tệ của nước này thể hiện bằng đơn vị tiền tệ
của nước khác. Tỷ giá do quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối quyết định và
chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như cán cân thanh toán quốc tế, cung cầu ngoại
tệ, lạm phát…Lãi suất luôn là một công cụ tác động mạnh đến tỷ giá và hoạt động
xuất nhập khẩu. Trong điều kiện thị trường mở, nếu lãi suất (lãi suất thực tế) trong
nước tăng sẽ thu hút một lượng vốn lớn từ bên ngoài vào làm cho cầu nội tệ tăng lên
dẫn đến giảm tỷ giá, tỷ giá giảm sẽ khiến cho xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng và
ngược lại.
chính sách lãi suất củaViệt Nam
1. Trước tháng 3/1989.
Trước những năm 1988-1989, vào thời kỳ quan liêu bao cấp, nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung. Nhà nước trực tiếp quản lý lãi suất bằng cách công bố tất cả
các loại lãi suất, có thể nói đây là chính sách lãi suất cứng nhắc bị áp đặt theo kiểu
hành chính: Nghị định 53/HĐBT ngày 26/3/1988 và 2 pháp lệnh về NH (1/10/1990)
NHNN qui định cụ thể các loại lãi suất tiền gửi và tiền vay. Tuy theo thời gian lãi
suất có được điều chỉnh, nhưng do lạm phát phi mã lãi suất luôn trong tình trạng
âm. Điều này có nghĩa là:
+ Lãi suất tiền gửi < tỷ lệ lạm phát
+ Lãi suất cho vay < lãi suất huy động < tỷ lệ lạm phát
Hệ thống lãi suất có nhiều tiêu cực:
- Chính sách lãi suất cứng nhắc khiến cho các NHTM không linh hoạt trong
hoạt động tín dụng trước mọi biến động của nền kinh tế.
- Lãi suất tín dụng luôn ở mức quy định bắt buộc nên không khuyến khích cạnh
tranh lành mạnh giữa các NHTM.
- Lãi suất tiền gửi < tỷ lệ lạm phát nên không khuyến khích người dân và các tổ
chức gửi tiền vào ngân hàng. Do đó chỉ huy động được vốn ngắn hạn mà lại cho vay
trung và dài hạn, kết quả là lỗ. Khả năng huy động vốn đi với yêu cầu rút bớt tiền
lưu thông, giải toả áp lực của tiền đối với giá cả hàng hoá bị hạn chế nhiều.
- Lãi suất cho vay < lãi suất huy động vốn và tỷ lệ lạm phát nên ngân hàng
trong tình trạng bao cấp đối với doanh nghiệp vay vốn và thông qua hệ thống tín
dụng lãi suất thấp luôn trong tình trạng lỗ hoạt động Ngân hàng không ổn định.
- Vì lãi suất cho vay < lãi suất huy động nên các doanh nghiệp thị nhau vay vốn,
tìm mọi cách, mọi cơ hội vay vốn để được hưởng bao cấp.
- Doanh nghiệp vay nhiều nhưng lợi nhuận thu được không phải do sản xuất
suất tiền gửi và lạm phát sẽ dẫn đến tác động xấu.
- Do lãi suất tiền gửi cao dẫn đến lãi suất cho vay cao nên càng khuyến khích
gửi tiền hơn là vay tiền. Bên cạnh đó, lãi suất thực dương cao của ngân hàng đem
lại khả năng thu được lợi nhuận lớn hơn là đưa tiền vào đầu tư mà rủi ro lại thâp nên
cũng khuyến khích cac doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng vay giảm dẫn đến tài
sản nợ trong bảng cân đối của NHTM lớn hơn tài sản có. Như vậy cho dù lãi suất
thực dương thì chưa chắc chắn NHTM đã hoạt động kinh doanh có lãi, nếu kéo dài
tình trạng như vậy sẽ bị lỗ.
- Lãi suất vay vốn không khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mà các doanh
nghiệp tích cực gửi tiền vào ngân hàng hơn. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng
giảm quy mô đầu tư dẫn đến một lực lượng lớn thất nghiệp không có lợi cho sự phát
triển chung của nền kinh tế.
- Trong tổng số vốn đầu tư sản xuất kinh doanh, một phần lớn là đi vay của
ngân hàng, bởi lãi suất vốn cao dẫn đến chi phí sản xuất kinh doanh lớn do đó giá
thành phẩm cao, giá hàng hoá cao và như vậy hàng hoá sẽ giảm tính cạnh tranh trên
thị trường.
Ngày 1-6-1992 thống đốc NHNN đã quyết định điều chỉnh chính sách lãi suất
theo hướng:
- Đảm bảo lãi suất thực tế dương, lãi suất tín dụng ngân hàng không thấp hơn
lãi suất tiền gửi.
- Ngân hàng nhà nước chỉ quy định mức cho vay tối đa và mức tiền gửi tối
thiểu cụ thể với từng đối tượng vay vốn, còn mức lãi suất cụ thể sẽ do các NHTM tự
quyết định trên cơ sở cung cầu về vốn tín dụng.
- Thực hiện chính sách lãi suất bình đẳng đối với tất cả các thành phần kinh
tế.
Chính sách lãi suất phù hợp trên đã góp phần tập trung được nguồn vốn tạm
thời nhàn rỗi trong dân cư cho đầu tư phát triển, kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý,
- Nhờ những định mức trần lãi suất mà hạn chế được phần nào tình trạng lãi
suất thực dương quá cao trong thời kỳ trước và do đó trong các NHTM cũng dần
cân bằng giữa tài sản nợ và tài sản có, đảm bảo được lợi nhuận. Các doanh nghiệp
cũng cần có thêm cơ hội vay vốn kinh doanh và mở rộng quy mô vốn đầu tư.
- Nhờ có lãi suất thoả thuận mà hoạt động tín dụng giữa NHTM và doanh
nghiệp linh hoạt hơn phù hợp với các đặc điểm hoạt động và tình hình cung cầu
vốn, chính sách khách hàng va cạnh tranh của từng tổ chức tín dụng và chủ động
điều hoà quan hệ cung cầu về vốn kinh doanh bằng công cụ lãi suất.
Những hạn chế
- Việc quy định lãi suất trần vẫn mang dáng dấp quản lý hành chính đối với một
công cụ vô cùng nhạy bén và mang đậm tính thị trường và do đó vẫn hạn chế tính
linh hoạt của NHTM trong hoạt động tín dụng, không tạo ra sự cạnh tranh lành
mạnh giữa các ngân hàng.
- Sự chệnh lệch cao giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay đã đem lại cho các
NHTM một số lợi nhuận đã khiến cho các ngân hàng không chú trọng việc tiết kiệm
chi phí hoạt động.
- Cơ chế lãi suất hiện hành thực sự gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong
việc vay vốn sản xuất nhất là đầu tư sản xuất trong trung và dài hạn do chính các
ngân hàng cũng khó huy động và có thể cho vay ở mức lãi suất cao.
- Lãi suất cao làm cho người kinh doanh chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực sản
xuất có lợi nhuận cao tức thời và thu hồi vốn nhanh như: dịch vụ, thương mại, sản
xuất nhỏ mất cân đối trong nền kinh tế
Từ thực tế này, quốc hội khoá IX trong kì họp thứ 8 tháng 8/1995 cùng với nghị
quyết bỏ thuế doanh thu trong hoạt động tín dụng nhân hàng, đã yêu cầu ngân hàng
tiết kiệm chi phí hoạt động và khống chế mức chênh lệch lãi suất huy động và cho
vay bình quân là 0,35%/ tháng. Đây là lý do để ra đời chế độ lãi suất trần hoàn toàn
và bỏ lãi suất cho vay thoả thuận.
thể. Chính sách lãi suất này đã kích thích hoạt động tín dụng phát triển, tăng trưởng
kinh tế, tạo việc làm; góp phần thực hiện công nghiệp, hoá hiện đại hoá đất nước.
Những hạn chế
Các ý kiến phản đối cho rằng chênh lệch giữa lãi suất cho vay bình quân và lãi
suất huy động bình quân cuả TCTD được quy định với mức 0,35%/tháng là không
có cơ sở, quá thấp, không đáp ứng được yêu cầu của hạch toán kinh doanh của
TCTD.
5.Từ ngày 21/1/1998 đến 5/8/2000.
Xoá bỏ mức khống chế chênh lệch lãi suất 0,35%/tháng.
Ngày 17/1/1998, Thống đốc NHNN đã ban hành quyết định số
39/1998/QĐ-NH1, “quy định lãi suất cho vay bằng đồng Việt nam của các tổ chức
kinh tế, dân cư và mức lãi suất tiền gửi bằng đồng đô la Mỹ của tổ chức kinh tế”, có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 21/1/1998. Nội dung chủ yếu của quy định lãi suất lúc
này là:
- Đưa ra mức trần lãi suất cho vay của các TCTD bằng VND:
+ Trần lãi suất cho vay ngắn hạn 1,2 % tháng
+ Trần lãi suất cho vay trung và dài hạn 1,25 % tháng.
Mức lãi suất trần cho vay nói trên được áp dụng chung đối với cho vay trên
địa bàn thành thị và cả trên địa bàn nông thôn.
- Quy định trần lãi suất cho vay USD, quy định các mức lãi suất tiền gửi bằng
USD của các tổ chức kinh tế.
- Quy định lãi suất cho vay tái cấp vốn của NHNN đối với các TCTD.
- Ngoài ra trong quyết định 39 còn đưa ra một số mức lãi suất cho vay cụ thể
đối với một số đối tượng đặc biệt như:
+ Cho vay sinh viên, học sinh.
+ Hợp tác xã tín dụng và quỹ tín dụng nhân dân cơ sở cho vay thành viên.
Trần lãi suất QTD cho vay thành viên 1,5 % tháng.
chế khả năng cho vay và huy động vốn của các TCTD. Bởi trên thực tế, việc đưa ra
một trần lói suất "cứng nhắc" và "chật hẹp" vụ hỡnh chung cũng đồng nghĩa với
việc chỉ cho phép các TCTD tiếp cận v ới những dự án có độ rủi ro thấp và thời hạn
vay vốn tương đối ngắn.
- Trong cơ chế lói suất trần, việc ấn định trần lói suất của NHNN thường mang
nặng tính chủ quan và luôn chịu sức ép từ nhiều phía.
Vỡ vậy, trần lói suất thường được điều chỉnh theo xu hướng giảm thấp để hỗ trợ cho
hoạt động đầu tư sản xuất, nhưng lại làm cho chênh lệch giữa lói suất cho vay và
huy động của các TCTD ngày càng bị thu hẹp khiến nhiều TCTD gặp khó khăn
trong kinh doanh. Cơ chế điều hành lói suất thụng qua ấn định trần lói suất về thực
chất quan tõm đến việc bảo vệ quyền lợi của người đi vay hơn là bảo vệ quyền lợi
của người cho vay (ngân hàng). Trên thực tế, cơ chế này tỏ ra thiếu linh hoạt trong
việc xử lý hài hũa mối quan hệ về lợi ớch giữa người gửi tiền - TCTD - người cho
vay, làm hạn chế ngân hàng phát huy hết vai trũ là một trung gian tài chớnh.
- Là cơ chế điều hành lói suất thụng qua trần lói suất đó tỏ ra kộm hiệu quả
trong việc xử lý những mõu thuẫn giữa lói suất nội tệ và ngoại tệ, giữa lói suất trong
nước và ngoài nước.
6. Từ ngày 5/8/2000 đến 1/6/2002.
Theo quyết định 241/QĐ ngày 2/8/2000, NHNN đó thực hiện bước đổi mới cơ
bản về điều hành lói suất đó là ban hành chính sách lãi suất cơ bản. Lãi suất cơ bản
là lãi suất do NHNN công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất
kinh doanh. Theo đó, bắt đầu từ ngày 5/8/2000, NHNN thay đổi cơ chế điều hành
lói suất từ cơ chế trần lói suất sang cơ chế điều hành lói suất cơ bản đối với cho vay
bằng đồng Việt Nam và cơ chế lói suất thị trường có quản lý đối với cho vay bằng
ngoại tệ. Tổ chức tín dụng ấn định lói suất cho vay đối với khách hàng trên cơ sở lói
suất cơ bản do NHNN công bố theo nguyên tắc lói suất cho vay khụng vượt quá
mức lói suất cơ bản và biên độ do Thống đốc NHNN quy định từng thời kỳ.
- Tạo điều kiện thực sự cho các TCTD quyền chủ động trong việc ấn định lói
suất cho vay một cỏch linh hoạt. Khả năng mở rộng tín dụng, đặc biệt là tín dụng
trung và dài hạn của các TCTD được giải phóng, cho phép tổ chức tín dụng có thể
tăng cường huy động vốn trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển nền kinh tế theo
xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế đồng thời nâng cao năng lực tài chính và
năng lực điều hành của các tổ chức tín dụng, xử lý lói suất VND trong mối quan hệ
với lói suất ngoại tệ và chớnh sỏch tỷ giỏ, quản lý ngoại hối
- Tăng cường hoạt động chủ động của các TCTD góp phần giải quyết vấn đề
vốn đầu tư cho các doanh nghiệp, phát triển sản xuất phục vụ cho tiêu dùng và xuất
khẩu.