LUẬN VĂN:
Nâng cao hiệu quả thanh toán không
dùng tiền mặt tại NHNo&PTNT
huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây LỜI MỞ ĐẦU Thanh toán không dùng tiền mặt tại NHNo&PTNT huyện Hoài Đức đã thu
hút được khách hàng ngày càng nhiều đến mở tài khoản tiền gửi thanh toán, công
tác thanh toán luôn đảm bảo kịp thời về vốn để đáp ứng nhu cầu chi trả thường
xuyên của khách hàng
Tính đến 31/12/2007 đạt:531.112triệu đồng, tăng 153.781 triệu so với đầu
năm.tốc độ tăng trưởng 40,75%, nguồn vốn tăng vững chắc, đáp ứng được nhu cầu
vốn phát triển kinh tế xã hội của huyện
Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt thực sự là một lĩnh vực quan
trọng không thể thiếu được trong nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói
riêng. Với vai trò là trung gian thanh toán thì ngân hàng thực sự là cầu nối giữa các
thành phần kinh tế và cá nhân trong thanh toán
Song đối tượng thanh toán qua ngân hàng còn hẹp, chủ yếu là kinh tế quốc
doanh, các cơ quan, đoàn thể nhà nước và một phần kinh tế ngoài quốc doanh.Hầu
hết kinh tế ngoài quốc doanh chưa mở tài khoản tại ngân hàng và thanh toán qua
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG
TIỀN MẶT 1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng thương mại (NHTM) là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi
nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước.
Ngân hàng thương mại nhà nước: là ngân hàng thương mại do nhà nước đầu
tư vốn, thành lập và tổ chức hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện mục tiêu
kinh tế của nhà nước.
Ngân hàng thương mại cổ phần: là ngân hàng thương mại được thành lập
dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín
dụng, tổ chức khác và cá nhân cùng góp vốn theo quy định của ngân hàng nhà nước.
1.1.2 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng
khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh
theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và
tổng mức bảo lãnh của một ngân hàng thương mại không được vượt quá tỷ lệ so với
vốn tự có của ngân hàng thương mại do Ngân hàng Nhà nước quy định. Chỉ các
ngân hàng thương mại được phép thực hiện thanh toán quốc tế mới được thực hiện
bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác mà
người nhận bảo lãnh là tổ chức, cá nhân nước ngoài.
- Chiết khấu: Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác
đối với các tổ chức, cá nhân. . Tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá
ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác
- Cho thuê tài chính: Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài
chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính. Việc thành lập, tổ chức và
hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về
tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
- Bao thanh toán
- Tài trợ xuất, nhập khẩu
1.1.2.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
Là hoạt động quan trọng và có tính đặc thù của ngân hàng thương mại, nhờ
hoạt động này mà các giao dịch thanh toán của toàn bộ nền kinh tế được thực hiện
thông suốt và thuận lợi, đồng thời qua hoạt động này mà góp phần làm giảm lượng
tiền mặt lưu hành trong nền kinh tế. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
gồm:
- Mở tài khoản giao dịch cho các khách hàng là pháp nhân hoặc thế nhân
trong và ngoài nước
- Cung ứng các phương tiện thanh toán
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng
- Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà
nước.
khách hàng hoặc thành lập công ty trực thuộc theo quy định của pháp luật
+ Bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch
vụ khác theo quy định của pháp luật
- Ngân hàng thương mại không được trực tiếp kinh doanh bất động sản.
- Ngân hàng thương mại được trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty
trực thuộc để thực hiện kinh doanh khác có liên quan đến hoạt động ngân hàng theo
quy định của pháp luật
1.1.3 Các dịch vụ ngân hàng
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanh
nghiệp.Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ tài
chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả
* Mua bán ngoại tệ
Đây là 1 trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện.Mua bán
ngoại tệ tức là một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền
khác và hưởng phí dịch vụ.Những giao dịch mua bán ngoại tệ có mức độ rủi ro cao,
đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn
* Nhận tiền gửi
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm mọi
cách để huy động được tiền.Một trong những nguồn quan trọng là nhận tiền
gửi.Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết
hoàn trả đúng hạn.
* Bảo quản vật có giá
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách
hàng trong kho bảo quản.Ngân hàng giữ vàng giao cho khách tờ biên nhận (giấy
chứng nhận do ngân hàng phát hành). Do khả năng chi trả bất cứ lúc nào cho giấy
chứng nhận, nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền-dùng để thanh toán các
khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành.Lợi ích của việc sử
dụng phương tiện thanh toán bằng giấy thay cho bằng kim loại đã khuyến khích
khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để đổi lấy giấy chứng nhận của ngân hàng. Đó là
hình thức đầu tiên của giấy bạc ngân hàng.Ngày nay, vật có giá được tách khỏi tiền
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do
ngân hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo
lãnh cho khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa
dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua
chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín
dụng khác…
* Cho thuê thiết bị trung và dài hạn
Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn
thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân
hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Hợp đồng cho thuê thường phải đảm bảo
yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho thuê. Do vậy, cho
thuê của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như cho vay, và được xếp vào tín
dụng trung và dài hạn
* Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn
Hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về
quản lí tài chính .Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lí
tài sản và quản lí hoạt động tài chính hộ.Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác
vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư…
* Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
Đây là một trong những lí do chính khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch
vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu
và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng
khoán.Một số trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công
ty môi giới chứng khoán.
* Cung cấp các dịch vụ đại lí
Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lí
cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi,
làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…
1.2 HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT
1.2.1 Khái niệm
chứng từ theo mẫu quy định và theo những thời hạn quy định hoặc được thoả thuận
trước. Người trả tiền có quyền từ chối thanh toán nếu các chủ thể khác vi phạm
những cam kết hay những quy định đã thủa thuận giữa hai bên.
Người thụ hưởng: là người được hưởng một khoản tiền nào đó do đã giao
hàng, cung ứng dịch vụ hay do luật định hoặc do thiện chí của người khác.
Đối với người thụ hưởng là người bán hàng hay cung ứng dịch vụ thì cơ sở
để nhận tiền là các chứng từ hay hoá đơn giao hàng. Trong trường hợp người thụ
hưởng với tư cách là các tổ chức tài chính, cơ sở nhận tiền là những quy định, lệnh
điều chuyển của cấp trên. Trường hợp người thụ hưởng là chủ nợ thì cơ sở để nhận
tiền là các hợp đồng hay khế ước vay nợ.
Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán: Là các tổ chức tín dụng và các tổ
chức khác được Ngân hàng trung ương cho phép
- Chứng từ thanh toán: Là các phương tiện chuyển tải những điều kiện thanh
toán và được sử dụng làm căn cứ thực hiện việc chi trả. Chứng từ thanh toán gồm
các lệnh thu, lệnh chi do chính người thụ hưởng hay người trả tiền lập ra. Tuỳ theo
từng hình thức thanh toán cụ thể mà các chứng từ thanh toán có những mức độ phức
tạp khác nhau. Những nội dung cơ bản trên chứng từ thường là: tên, địa chỉ người
trả tiền và người thụ hưởng, số tiền trả, lý do trả tiền, chữ kí và dấu của chủ tài
khoản và kế toán trưởng hay người thừa hành trực tiếp lập chứng từ.
1.2.3 Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
Tuỳ trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước, ở mỗi thời kì và tùy theo thói
quen của dân cư mà mỗi nước có thể sử dụng các hình thức TTKDTM khác nhau
cho phù hợp
Hiện nay các nước đã sử dụnh các hình thức TTKDTM:
- Thanh toán bằng séc
- Thanh toán bằng lệnh chi hoặc uỷ nhiệm chi
- Thanh toán bằng nhờ thu hoặc uỷ nhiệm thu.
- Thanh toán bằng thư tín dụng
- Thanh toán bằng thẻ ngân hang
+ Người được trả tiền là người mà người kí phát chỉ định có quyền hưởng
hoặc chuyển nhượng quyền hưởng đối với số tiền ghi trên tờ séc.
+ Người thụ hưởng là người cầm tờ séc mà tờ séc đó có tên người được
hưởng tiền là chính mình, hoặc ghi cụm từ “Trả cho người cầm séc”; hoặc đã được
chuyển nhượng bằng kí hậu cho mình thông qua dãy chữ kí chuyển nhượng liên tục.
Ở Việt Nam văn bản pháp lý cao nhất chi phối thanh toán séc là Nghị định
159/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10-12-2003 về “Quy chế phát hành và sử
dụng séc”
-Séc lĩnh tiền mặt.
Séc lĩnh tiền mặt là loại séc chỉ dùng để rút tiền mặt tại ngân hàng nơi khách
mở tài khoản.
Thủ tục phát hành séc lĩnh tiền mặt.
Người phát hành séc phải ghi rõ họ tên của pháp nhân (hoặc cá nhân), địa
chỉ, số hiệu tài khoản, tên ngân hàng giữ tài khoản của người thụ hưởng vào vị trí
quy định trên tờ séc.
Cách thanh toán: Khi lĩnh tiền, người lĩnh tiền phải nộp tờ séc lĩnh tiền
mặt vào ngân hàng nơi người phát hành séc mở tài khoản. Khi nhận được tờ séc lĩnh
tiền mặt và giấy ủy quyền lĩnh tiền mặt (nếu có), cán bộ ngân hàng làm thủ tục chi
tiền theo chế độ hiện hành.
- Séc trả vào tài khoản.
Séc trả tiền vào tài khoản là loại séc chỉ được thanh toán bằng cách trích
chuyển tài khoản giữa các chủ thể thanh toán mà không được dùng để rút tiền mặt
tại ngân hàng .
Phạm vi áp dụng:
Séc trả tiền vào tài khoản dùng để thanh toàn giữa các khách hàng mở tài
khoản chi nhánh ngân hàng. Nếu khách hàng dùng séc thanh toán khác chi nhánh
ngân hàng thì các chi nhánh đó phải tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh,
thành phố.
Quy trình thanh toán:
Trường hợp các khách hàng mở tài khoản tại cùng một chi nhánh ngân
(3) Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng kiểm tra chứng từ, sau đó chuyển
tờ séc và bảng kê cho ngân hàng phục vụ người trả tiền.
(4) Ngân hàng thực hiện thanh toán ghi nợ và tài khoản thanh toán số tiền
trên séc và báo nợ cho người trả tiền.
(5) Ngân hàng thực hiện thanh toán lập chứng từ thanh toán bù trừ và
chuyển cho ngân hàng thu hộ để thanh toán cho người thụ hưởng.
(6) Ngân hàng thu hộ ghi có vào tài khoản tiền gửi thanh toán số tiền ghi
trên séc và báo có cho người thụ hưởng.
- Séc được ngân hàng đảm bảo chi trả (gọi tắt là séc bảo chi)
Séc bảo chi là loại séc thanh toán được ngân hàng đảm bảo chi trả bằng cách
trích trước số tiền trên tờ séc từ tài khoản tiền của người trả tiền sang tài khoản đảm
bảo khả năng thanh toán séc.
Phạm vi áp dung:
Thanh toán giữa các khách hàng có mở tài khoản tại cùng một chi nhánh
ngân hàng hoặc khác ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh,
thành phố.
Thanh toán giữa các khách hàng có mở tài khoản tại các chi nhánh ngân
hàng cùng hệ thống trong phạm vi cả nước.
Quy trình thanh toán
Trường hợp các khách hàng mở TK tại cùng một chi nhánh ngân hàng:
(2)
Người trả tiền Người thụ hưởng (1) (3) (4)
Ngân hàng
Chú thích:
(1) Người trả tiền làm thủ tục bảo chi séc.
1a- người trả tiền lập 2 liên giấy “yêu cầu bảo chi séc” kèm tờ séc đã ghi đầy
các chứng từ sang ngân hàng thực hiện thanh toán.
(5) Ngân hàng thực hiện thanh toán tất toán tài khoản “đảm bảo thanh toán
séc”.
1.2.3.2 Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi-chuyển tiền
* Khái niệm: Uỷ nhiệm chi (UNC) là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được
lập theo mẫu in sẵn của Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước yêu cầu Ngân hàng, Kho
bạc Nhà nước phục vụ mình (nơi mở tài khoản tiền gửi) trích tài khoản của mình để
trả cho người thụ hưởng. Uỷ nhiệm chi được dùng để thanh toán các khoản trả tiền
hàng, dịch vụ hoặc chuyển tiền trong cùng hệ thống và khác hệ thống Ngân hàng
hoặc Kho bạc Nhà nước.
* Phạm vi áp dụng:
Ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi được áp dụng trong thanh toán tiền hàng hóa,
dịch vụ nộp thuế, trả nợ hoặc chuyển tiền của người sử dụng dịch vụ thanh toán tại
một chi nhánh ngân hàng hoặc giữa các chi nhánh ngân hàng, cùng hoặc khác hệ
thống trong phạm vi cả nước.
* Qui trình thanh toán:
- Trường hợp các khách hàng mở tài khoản tại cùng một chi nhánh ngân
hàng.
Người trả tiền Người thụ hưởng
(2) (1) (3)
Ngân hàng
(1) Người trả tiền nộp ủy nhiệm chi vào ngân hàng yêu cầu ngân hàng trích
tài khoản của mình để chuyển trả cho người thụ hưởng.
(2) Ngân hàng kiểm tra ủy nhiệm chi, số dư tài khoản tiền gửi của người trả
tiền, tiến hành trích tài khoản tiền gửi và báo Nợ cho người trả tiền.
(3) Ngân hàng ghi Có vào tài khoản tiền gửi và báo Có cho người thụ
hưởng.
hưởng lập nhờ ngân hàng thu hộ tiền trên cơ sở khối lượng hàng hóa đã giao, dịch
vụ đã cung ứng.
Uỷ nhiệm thu được áp dụng thanh toán giữa khách hàng mở tài khoản trong
một chi nhánh Ngân hàng hoặc các chi nhánh Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước cùng
hệ thống hoặc khác hệ thống. Uỷ nhiệm thu do người thụ hưởng lập gửi vào Ngân
hàng, Kho bạc Nhà nước phục vụ mình để thu tiền hàng đã giao, hoặc dịch vụ đã
cung ứng. Khách hàng mua và bán phải thống nhất thoả thuận dùng hình thức thanh
toán uỷ nhiệm thu với những điều kiện thanh toán cụ thể đã ghi trong hợp đồng kinh
tế đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước phục
vụ người thụ hưởng biết để làm căn cứ thực hiện các uỷ nhiệm thu.
* Phạm vi áp dụng: Thanh toán hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể mở tài
khoản tại cùng một ngân hàng hoặc các chi nhánh ngân hàng cùng hệ thống hoặc
khác hệ thống, trên cơ sở có thỏa thuận hoặc hợp đồng về các điều kiện thu hộ giữa
bên trả tiền và bên thụ hưởng.
* Qui trình thanh toán:
- Trường hợp các khách hàng mở tài khoản tại cùng một chi nhánh ngân
hàng.
Giao hàng
Người trả tiền Người thụ hưởng (2a) (1) (2b)
Ngân hàng
(1) Sau khi giao hàng , cung ứng dịch vụ, người thụ hưởng lập và nộp 4 liên
ủy nhiệm thu kèm chứng từ giao hàng, cung ứng dịch vụ vào ngân hàng nhờ thu hộ
tiền.
(2a) Ngân hàng kiểm tra các chứng từ thanh toán, căn cứ vào hợp đồng kinh
tế (đơn đặt hàng) và bộ chứng từ để ghi nợ TKTG và báo Nợ cho người trả tiền.
(2b) Ngân hàng ghi Có và tài khoản tiền gửi và báo Có cho người thụ hưởng.
Ủy nhiệm thu (hoặc nhờ thu) có ưu điểm là tương đối đơn giản, rất thuận tiện
đối với các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ như: Điện, nước, điện thoại, thuê nhà…
các chủ thể trong thanh toán tin tưởng lẫn nhau. Các khách hàng muốn thanh toán
bằng ủy nhiệm thu chỉ cần thỏa thuận những điều kiện thanh toán cụ thể phù hợp
với quy định của Ngân hàng nhà nước được ghi vào hợp đồng mua bán hoặc đơn
đặt hàng. Ngoài ra khách hàng còn có thể nhờ thu thương phiếu qua ngân hàng. Tuy
nhiên hình thức thanh toán này có hạn chế là đến hạn thanh toán, trên tài khoản
người trả tiền không có đủ số dư để thanh toán, sẽ dẫn đến chậm trả tiền cho người
thụ hưởng. Trường hợp này người trả tiền sẽ bị phạt.
1.2.3.4 Thanh toán bằng thư tín dụng
* Khái niệm: Thư tín dụng (L/C) là một cam kết của ngân hàng cho người
xuất khẩu nếu như họ xuất trình được một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các
điều khoản và điều kiện của L/C
* Các loại L/C
- L/C có thể huỷ ngang: Là loại L/C có thể bị sửa đổi hoặc huỷ bỏ mà không
cần thông báo cho người hưởng lợi
- L/C không thể huỷ ngang: Là loại L/C sau khi đã được ngân hàng mở thì
không thể sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ trong thời hạn hiệu lực của nó nếu chưa có
sự thoả thuận của các bên tham gia
- Thư tín dụng xác nhận: Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, được
một ngân hàng khác xác nhận, điều đó có nghĩa là ngoài cam kết thanh toán của
ngân hàng phát hành L/C còn có thêm sự cam kết thanh toán của ngân hàng xác
nhận
- L/C trả ngay: Là loại L/C không thể huỷ ngang và phải thanh toán ngay khi
hối phiếu được xuất trình
- L/C trả chậm: Là loại L/C trong đó ngân hàng cam kết phát hành cam kết
thanh toán cho người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng một số ngày sau khi bộ
chứng từ hoàn hảo được xuất trình hoặc sau ngày giao hàng
- L/C chấp nhận: Là loại L/C trong đó ngân hàng phát hành L/C thực hiện
chấp nhận hối phiếu hoặc chỉ định bên thứ ba chấp nhận hối phiếu, với điều kiện
1.2.3.5 Thanh toán bằng thẻ ngân hàng.
Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành và bán cho
khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hóa, dịch vụ, các khoản thanh toán khác hoặc
rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động.
* Các loại thẻ.
- Thẻ ghi nợ: là loại thẻ gắn liền với tài khoản tiền gửi thanh toán hay tài
khoản séc của khách hàng. Khách hàng sử dụng loại thẻ này thì giá trị giao dịch
được khấu trừ ngay vào tài khoản của khách hàng, đồng thời có ngay vào tài khoản
cảu người thụ hưởng.
- Thẻ tín dụng: là loại thẻ được sử dụng phổ biến, ngân hàng cho phép chủ
thẻ sử dụng một hạn mức nhất định. Đối với những khách hàng có quan hệ thường
xuyên với ngân hàng, có tình hình tài chính tốt, luôn đảm bảo khả năng thanh toán
thì ngân hàng cho phép sử dụng thẻ tín dụng.
- Thẻ rút tiền mặt
Với chức năng chuyên biệt chỉ để rút tiền mặt, nên chủ thẻ phải kí quỹ một
số tiền bằng một số tiền bằng số tiền trên thẻ. Hiện nay thẻ ATM dùng để rút tiền tại
các máy ATM, chủ thẻ có thể thực hiện giao dịch thanh toán các phí như điện,
nước, điện thoại…
a. Quy trình thanh toán thẻ.
(2)
Chủ sở hữu thẻ Cơ sở chấp nhận thẻ
(3)
(1b) (1a) (5)
(6) (4)
Ngân hàng
phát hành thẻ
Ngân hàng đại lý
thanh toán thẻ
phẩm này đang được các NHTM đưa ra ngày càng nhiều trên thị trường, có tính tiện
ích cao và tính cạnh tranh mạnh mẽ.
Khi một NHTM mở hoạt động thanh toán trực tuyến thì ngân hàng đã thay
mặt khách hàng trả cho các nhà cung cấp dịch vụ (bưu điện, công ty bảo hiểm, nhà
cung cấp nước, cung cấp dịch vụ Internet, các siêu thị…) một khoản tiền liên quan
đến các dịch vụ mà họ đã cung cấp cho khách hàng của NHTM. Dịch vụ ngân hàng
trực tuyến được tiến hành nhờ kênh nối trực tiếp này nên NHTM thực hiện được
theo yêu cầu của khách hàng.
*Dịch vụ trả lương tự động
Hình thức trả lương này gắn liền với việc sử dụng tài khoản các nhân tại
các NHTM và sử dụng công cụ thanh toán hiện đại là thẻ thanh toán cùng với sự hỗ
trợ của hệ thống mày rút tiền tự động ATM
Có thể mô tả khái quát việc trả lương tự động của NHTM nư sau:
- Chủ doanh ngiệp (chủ tài koản) thoả thuận với NHTM các nội dung về tổ chức
trả lương trực tiếp theo định kì vào tài koản của người lao động
-Người lao động được NHTM trả lương trực tiếp phải mở tài khoản cá nhân
tại NHTM và sử dụng dịch vụ Atm của ngân hàng
- Định kì (đến thời điểm trả lương) chủ doanh nghiệp phải gửi bản sao kê
thanh toán cho cán bộ công nhân viên của đơn vị mình cho ngân hàng. Đây là cơ sở
cho ngân hàng thực hiện trả lương từ tài khoản của doanh nghiệp vào các tài khoản
cá nhân sử dụng dịch vụ ATM của ngân hàng.
-Dựa vào bản sao kê thanh toán lương cùng với giấy uỷ nhiệm chi, NHTM
trích tài khoản của chủ doanh nghiệp để chuyển tiền vào các tài khoản cá nhân của
người lao động
Ý nghĩa của việc trả lương tự động cho người lao động: