Công nợ và giải pháp quản trị công nợ tại công ty cổ phần giầy Hà Nội - Pdf 10

Luận văn tốt nghiệp Trờng đại học Thơng Mại
Mục lục
Lời mở đầu
Chơng 1: lý luận chung về công nợ và quản lý công nợ
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.1 Công nợ và cơ sở hình thành công nợ trong doanh nghiệp
1.1.1Khái niệm
1.1.2Cơ sở hình thành công nợ
1.1.3Nội dung công nợ của doanh nghiệp
1.1.3.1Công nợ phải thu
1.1.3.2Công nợ phải trả
1.2 Nội dung công tác quản lý công nợ
1.2.1 ý nghĩa công tác quản lý công nợ
1.2.2 Nội dung công tác quản lý công nợ
1.2.2.1 Phân tích tình hình thanh toán
1.2.2.2 Phân tích khả năng thanh toán công nợ
1.2.2.3 Phòng ngừa rủi ro đối với khoản phải thu
Chơng 2: Thực trạng công tác quản lý công nợ tại Công ty
cổ phần giầy Hà Nội
2.1 Tổng quan về công ty
2.1.1 Một vài nét về quá trình hình thành và phát triển Công ty
2.1.2 Chức nằng và nhiệm vụ của Công ty
2.1.2.1 Chức năng
2.1.2.2 Nhiệm vụ
Bùi Thị Hải Ngọc - 1 -
Luận văn tốt nghiệp Trờng đại học Thơng Mại
2.1.3 Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty
2.1.4 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của toàn Công ty
2.1.4.1 Tổ chức sản xuất kinh doanh
2.1.4.2 Kết quả hoạt động của Công ty những năm gần đây
2.2 Tình hình tổ chức công tác quản lý công nợ của Công ty năm 2002-2003

Lời mở đầu
Đất nớc ta đang trong thời kỳ đổi mới, dới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc thông
qua đờng lối cải cách kinh tế đúng đắn, nền kinh tế nớc ta ngày càng khởi sắc và đạt đợc
những thành tựu to lớn. Đây chính là môi trờng thuận lợi cho các doanh nghiệp nói chung
và doanh nghiệp kinh doanh thơng mại nói riêng, đồng thời đó cũng là một thách thức to
lớn bởi vì nền kinh tế phát triển kéo theo cạnh tranh trong kinh doanh diễn ra mạnh mẽ
quyết liệt nh một tất yếu khách quan. Sự cạnh tranh không chỉ diễn ra trong phạm vị một
quốc gia mà trên toàn thế giới , đó là xu hớng quốc tế hoá toàn cầu hoá. Chính vì vậy để
có thể đứng vững và phát triển, góp phần vào sự phát triển chung của đát nớc mỗi doanh
nghiệp Thơng mại cần tìm cho mình một hớng đi đúng đắn trong hoạt động kinh doanh
đặc biệt là trong quản lý tài chính. Tài chính doanh nghiệp lành mạnh sẽ tạo điều kiện cho
sự phát triển bền vững và ổn định của chính doanh nghiệp.
Khi xem xét đánh ghá hiệu quả quản lý tài chính, có một yếu tố quan trọng không thể
không đề cập đến đó là tình hình quản lý công nợ của doanh nghiệp, bởi nó góp phần phản
ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp định nghĩa Doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt
động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả
năng thanh toán nợ đến hạn . Nh vậy từ phá sản doanh nghiệp thờng đợc đề cập tới
những doanh nghiệp rơi vào tình trạng hỗn loạn tài chính không có khả năng thanh toán
các khoản nợ đến hạn. Sự hỗn loạn về tài chính có thể là do doanh nghiệp không trả đợc
nợ đến hạn mặc dù số tài sản doanh nghiệp vợt quá số nợ hoặc tổng số nợ của doanh
nghiệp vợt quá tài sản của nó.
Thực trạng phát sinh khả năng thanh toán công nợ là một trong những mối quan tâm
hàng đầu của các nhà đầu t, ngời vay vốn, ngời cung ứng, khách hàng,..trớc khi họ quyết
định có nên đầu t hay tài trợ vốn cho doanh nghiệp hay không. Điều này ảnh hởng trực
tiếp đến nguồn vốn huy động, đây là nguồn vốn kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp.
Qua đây ta có thể thấy công tác quản lý công nợ góp phần quyết định sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp, nó thể hiện khả năng và trình độ quản lý tài chính của nhà quản
Bùi Thị Hải Ngọc - 4 -
Luận văn tốt nghiệp Trờng đại học Thơng Mại

mình. Công nợ không bao giờ tách khỏi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
dù doanh nghiệp ở bờ vực phá sản hay đang trên đà tăng trởng vững mạnh. Tuy nhiên, tình
hình công nợ của các doanh nghiệp là không giống nhau, nó phản ánh tình hình tài chính
của các doanh nghiệp thông qua các tỷ suất và các con số tuyệt đối. Liệu doanh nghiệp có
phải đối đầu với các khoản công nợ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn không.
Doanh nghiệp có tự chủ trong quá trình sản xuất kinh doanh hay không? Vấn đề công nợ
thực sự cần đến sự chú tâm của các nhà quản trị tài chính bởi nó có ý nghĩa quan trọng đối
với sự sống còn của doanh nghiệp. Vậy công nợ là gì mà liên quan chặt chẽ đến tình hình
tài chính của doanh nghiệp đến nh vậy?
Công nợ phản ánh nghĩa vụ thanh toán của khách nợ (con nợ) với ngời thụ hởng (chủ
nợ)
Công nợ trong doanh nghiệp bao gồm: công nợ phải thu và công nợ phải trả. Đây là
hai mặt trái ngợc của một vấn đề nhng tồn tại song song và khách quan với nhau, chúng
có ảnh hởng tới công tác tài chính của doanh nghiệp.
1.1.2 Cơ sở hình thành công nợ:
Công nợ là mối quan tâm của các doanh nghiệp bởi một lẽ công nợ có liên quan trực
tiếp đến tình hình tài chính và khả năng tự chủ của doanh nghiệp.
Bùi Thị Hải Ngọc - 6 -
Luận văn tốt nghiệp Trờng đại học Thơng Mại
Ngay từ khi bớc vào hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phải có
trong tay một số vốn nhất định phù hợp với ngành nghề mà doanh nghiệp đã đăng ký với
bộ chủ quản. Số vốn mà doanh nghiệp nắm giữ không phải hoàn toàn là vốn tự có mà bao
gồm cả nguồn vốn tín dụng. Chính vì huy động vốn từ bên ngoài cho nên doanh nghiệp có
trách nhiệm hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho các tổ chức tín dụng, các chủ nợ của doanh nghiệp
tại một thời điểm nào đó đã đợc hai bên thoả thuận.
Nh vậy từ khi mở đầu, doanh nghiệp đã có các khoản công nợ phải trả có liên quan
đến nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sau này, các ph-
ơng thức thanh toán của doanh nghiệp áp dụng cũng đã trực tiếp hình thành nên các khoản
phải thu của doanh nghiệp với các bạn hàng, các cá nhân hay các khoản phải trả đối với
chủ nợ. Nếu các khoản phải trả của doanh nghiệp qúa lớn thì có nghĩa là doanh nghiệp

Công nợ phải thu là toàn bộ phần tài sản của doanh nghiệp đang bị các đơn vị khác
hoặc các cá nhân chiếm dụng mà doanh nghiệp có trách nhiệm thu hồi.
Các đơn vị ở đây có thể là các doanh nghiệp mà trong quá trình mua hàng đã nợ tiền
của doanh nghiệp hoặc các đơn vị mà doanh nghiệp đã ứng trớc tiền mua hàng của đơn vị
đó.
Các cá nhân có thể là cá nhân bên trong hoặc bên ngoài doanh nghiệp, họ chiếm giữ
tiền hoặc tài sản của doanh nghiệp.
Toàn bộ phần tài sản của doanh nghiệp đang bị các đơn vị hoặc các cá nhân khác
chiếm dụng mà doanh nghiệp có trách nhiệm thu hồi ở đây có thể là tiền, tài sản, các loại
hình vật chất có thể quy đổi ra tiền, các khoản thiệt hại mà các cá nhân hoặc tổ chức gây
ra và có trách nhiệm phải bồi thờng.
Công nợ phải thu bao gồm:
- Các khoản phải thu khách hàng.
- Các khoản phải thu nội bộ khác.
- Các khoản tiền tạm ứng.
- Các khoản thế chấp, ký cợc, ký quỹ, và các khoản phải thu khác.
- Các khoản phải thu từ ngời bán
Bùi Thị Hải Ngọc - 8 -
Luận văn tốt nghiệp Trờng đại học Thơng Mại
* Các khoản phải thu khách hàng:
Các khoản phải thu khách hàng là các khoản cần phải thu do doanh nghiệp bán chịu
hàng hoá, thành phẩm hoặc do cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng cạnh tranh gay gắt và khốc liệt giữa các doanh
nghiệp mọi thành phần kinh tế thì việc bán sản phẩm của doanh nghiệp mình sản xuất ra
không còn dễ dàng nh thời bao cấp nữa. Doanh nghiệp không thể cứ sản xuất ra sản phẩm
của mình không cần chú trọng đến chất lợng, thị hiếu của ngời tiêu dùng sản xuất ra
bao nhiêu ắt sẽ có ngời mua hết bấy nhiêu. Nếu doanh nghiệp muốn tồn tại và đứng vững
trên thơng trờng thì không chỉ phải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác về chất lợng sản
phẩm, mẫu mã, chế độ hậu mãi mà còn phải cạnh tranh về các chính sách u đãi trong
việc thanh toán tiền hàng đó là trả tiền sau khi mua hàng, chính vì chính sách này đã hình

của ngời cho thuê nhằm mục đích ràng buộc trách nhiệm cho ngời đi thuê phải quản lý sử
dụng tốt tài sản đi thuê và hoàn trả đúng hạn. Số tiền ký cợc do bên cho thuê quy định có
thể bằng hoặc lớn hơn giá trị tài sản cho thuê.
Ký quỹ là số tiền hoặc tài sản gửi trớc để làm tin trong quan hệ mua bán, nhận làm đại
lý bán hàng hoặc tham gia đấu thầu nhằm đảm bảo sự tin cậy giữa đôi bên và ràng buộc
trách nhiệm của các bên có liên quan trong việc thực hiện đúng hợp đồng đã đăng ký.
Trong trờng hợp bên ký quỹ không thực hiện đúng hợp đồng sẽ bị phạt trừ vào tiền ký
quỹ.
1.1.3.2 Công nợ phải trả:
Công nợ phải trả là số tiền vốn mà doanh nghiệp đi vay, đi chiếm dụng của các đơn vị,
tổ chức cá nhân và do vậy doanh nghiệp phải có trách nhiệm phải trả.
Sự phát triển kinh doanh với quy mô ngày càng lớn của doanh nghiệp đòi hỏi phải có
một lợng vốn ngày càng nhiều. Do vậy, nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh và nhất là
nhu cầu vốn dài hạn của các doanh nghiệp cho sự đầu t phát triển ngày càng lớn. Điều
này đòi hỏi các doanh nghiệp phải huy động cao độ nguồn vốn bên trong đồng thời phải
tìm cách huy động nguồn vốn bên ngoài để đáp ứng nhu cầu phát triển. Tuy nhiên, không
Bùi Thị Hải Ngọc - 10 -
Luận văn tốt nghiệp Trờng đại học Thơng Mại
phải lúc nào nhu cầu về vốn, tiền tệ cũng đợc đáp ứng đầy đủ. Mặt khác, do đặc điểm tuần
hoàn vốn, tiền tệ của các đơn vị sản xuất kinh doanh đựơc vận động liên tục qua các giai
đoạn của quá trình tái sản xuất và lu thông hàng hoá. Do đó, nếu hành vi mua và bán
không khớp nhau về thời gian và về số lợng thì sẽ nảy sinh nhu cầu thiếu hụt tạm thời về
vốn, cần đợc bổ sung ngay để tiến hành sản xuất kinh doanh liên tục.
Công nợ phải trả bao gồm các khoản sau:
- Phải trả các tổ chức tín dụng
- Nợ phải trả ngời bán
- Các khoản phải nộp ngân sách Nhà nớc
- Các khoản phải trả công nhân viên
- Chi phí trích trớc
- Các khoản phải trả trong nội bộ doanh nghiệp

ợc trích trớc vào chi sản xuất kinh doanh kỳ cho các đối tợng chịu chi phí giữa các kỳ đảm
bảo cho giá thành sản phẩm hoặc chi phí sản xuất kinh doanh không tăng một cách đột
biến.
* Các khoản phải trả trong nội bộ doanh nghiệp:
Là các khoản phải trả giữa các đơn vị cấp trên là đơn vị hoạch toán kinh tế độc lập với
các đơn vị cấp dới, là những đơn vị phụ thuộc hoặc giữa các đơn vị phụ thuộc lẫn nhau mà
các đơn vị đều có tổ chức kế toán riêng.
Trong một doanh nghiệp có nhiều đơn vị thành viên thì các đơn vị này thờng sử dụng
tài sản và vốn của nhau. Nó làm giảm thiểu chi phí do sử dụng các tài sản sử dụng chung
trong các đơn vị nh: phơng tiện vận chuyển, kho, bãi và cũng có thể huy động vốn nhàn
rỗi của các đơn vị thành viên khác khi một đơn vị cần vốn để đầu t vào hoạt động sản xuất
kinh doanh. Do đó nó hình thành nên các khoản phải trả trong các doanh nghiệp thành
Bùi Thị Hải Ngọc - 12 -
Luận văn tốt nghiệp Trờng đại học Thơng Mại
viên và đơn vị cấp trên khi các đơn vị này sử dụng tài sản và huy động vốn của đơn vị
khác.
*Các khoản phải nộp khác
Các khoản phải trả phải nộp khác nh tài sản thừa chờ giải quyết, kinh phí công đoàn,
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, phải nộp cấp trên, phải trả phải nộp khác.
+ Tài sản thừa chờ giải quyết:
Là những tài sản doanh nghiệp phát hiện vợt quá số lợng tài sản đợc ghi trên sổ sách
của doanh nghiệp, số lợng tài sản dôi thừa này có thể đợc căn cứ vào nguyên nhân dôi
thừa mà có các biện pháp giải quyết riêng.
Ví dụ: Dôi thừa do kế toán ghi nhầm sổ, dôi thừa do doanh nghiệp bán hàng cho
doanh nghiệp xuất thừa
+ Kinh phí công đoàn:
Là khoản kinh phí nhằm phục vụ cho hoạt động của tổ chức công đoàn đợc thành lập
theo luật công đoàn. Quỹ kinh phí công đoàn đợc thành lập bằng cách trích theo tỷ lệ quy
định trên tiền lơng phải trảvà đợc tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Theo quy
định hiện hành, tỷ lệ trích kinh phí công đoàn tính vào chi phí tiền lơng phải trả là 2%

hiện tốt việc thu trả cần phải có thời gian cho nên việc nợ nần lẫn nhau giữa các đơn vị
kinh doanh trong một thời gian giới hạn nào đó là điều mà các đơn vị không tránh đợc.
Nhng nếu để tình trạng công nợ dây da, chiếm dụng vốn lẫn nhau thì hậu quả là sẽ có một
công ty phá sản dẫn tới nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp khác, đây là hiện tợng vi
phạm kỷ luật tài chính và pháp luật của nhà nớc. Để tránh tình trạng công nợ dây da các
doanh nghiệp nên quan tâm đến các biện pháp tài chính để quản lý công nợ.
1.2.1 ý nghĩa của công tác quản lý công nợ.
Nh chúng ta đã biết công nợ trong doanh nghiệp luôn là một bài toán phức tạp, hóc
búa đòi hỏi doanh nghiệp phải có những điều chỉnh thích hợp thì mới có thể tồn tại và phát
triển trong cơ chế cạnh tranh cuả nền kinh tế thị trờng. Cũng có thể khẳng định rằng công
nợ là con dao hai lỡi, nếu không dung hoà đợc hai mặt nội dung phải thu và phải trả của
Bùi Thị Hải Ngọc - 14 -
Luận văn tốt nghiệp Trờng đại học Thơng Mại
công nợ thì doanh nghiệp rất dễ dẫn tới tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn,
thậm chí có thể bị phá sản. Do đó, câu hỏi đặt ra cho mỗi doanh nghiệp là làm thế nào để
quản lý công nợ một cách tốt nhất, hợp lý nhất mà vẫn duy trì đợc mức tăng trởng và hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong nhiều trờng hợp công nợ phải trả tạo cho doanh nghiệp một khoản vốn chiếm
dụng hợp pháp trong một khoảng thời gian nhất định. Đối với một số doanh nghiệp, ngời
ta đề cao khoản vốn tín dụng này và lấy nó làm giải pháp tín dụng tạm thời, chiếm dụng
vốn càng nhiều càng tốt trong lúc doanh nghiệp thiếu vốn, nếu doanh nghiệp quá lạm
dụng giải pháp chiếm dụng vốn bất hợp lý thì tình trạng tài chính không những không tiến
bộ mà sẽ càng ngày rơi vào ngõ cụt. Do vậy, các doanh nghiệp phải có chính sách quản lý
công nợ thích hợp, từ chỗ theo dõi chi tiết công nợ phải thu, phải trả đến việc phân tích
công nợ hàng quý, hàng năm, cuối cùng phải đa ra quỹ dự phòng phải thu khó đòi nếu xét
thấy cần thiết để doanh nghiệp giải toả đợc những vớng mắc trong việc thanh toán công nợ
và có những quyết định đúng đắn trong việc tự chủ tài chính.
1.2.2. Nội dung công tác quản lý công nợ.
1.2.2.1. Phân tích tình hình thanh toán.
Phân tích tình hình thanh toán để đánh giá tính hợp lý về sự biến động của các khoản

Trong công thức trên, số d bình quân các khoản phải thu tính theo công thức sau:
Thời gian quay vòng các khoản phải thu tính theo công thức sau:
Bùi Thị Hải Ngọc - 16 -
Số vòng luân chuyển
các khoản phải thu
=
Tổng số tiền hàng bán chịu
Số dư bình quân các khoản phải thu
Tỷ lệ các khoản nợ
phải trả so với các
khoản nợ phải thu
=
Tổng số nợ phải trả
Tổng số nợ phải thu
* 100
Số dư bình quân các
khoản phải thu
=
Tổng số nợ phải thu đầu kỳ và cuối kỳ
2
Thời gian quay vòng
các khoản phải thu
=
Thời gian của kỳ phân tích
Số vòng luân chuyển các khoản phải thu
Luận văn tốt nghiệp Trờng đại học Thơng Mại
Thời gian quay vòng các khoản phải thu ngắn chứng tỏ tốc độ thu tiền hàng càng
nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn. Ngợc lại thời gian quay vòng các khoản phải
thu càng dài, chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền càng chậm.
- Tỷ lệ giữa tổng giá trị các khoản phải thu và tổng nguồn vốn.

nợ.Doanh nghiệp cần lu ý các khoản nợ phải trả vì theo luật phá sản thì doanh nghiệp có
thể bị tuyên bố phá sản theo yêu cầu của các chủ nợ khi doanh nghiệp không có khả năng
thanh toán nợ đến hạn. Vì vậy, doanh nghiệp cần duy trì một mức vốn hợp lý để có đợc
các kế hoạch trả các khoản nợ đến hạn. Việc quản lý tốt công nợ phải trả không chỉ đòi
hỏi doanh nghiệp phải thờng xuyên duy trì một lợng tiền mặt để đáp ứng nhu cầu thanh
toán, mà quan trọng hơn là doanh nghiệp cần tổ chức hoạt động kinh doanh hiệu quả để
tạo nguồn thanh toán, từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp với khách hàng. Do đó mục
tiêu cơ bản nhất cần đặt ra trong quá trình quản lý công nợ là phải đảm bảo khả năng
thanh toán của doanh nghiệp, gây dựng và giữ vững lòng tin đối với chủ nợ.
Để phân tích tình hình thanh toán các khoản phải trả, chúng ta dựa vào các chỉ tiêu
sau:
- Số vòng luân chuyển các khoản phải trả:
Chỉ tiêu này cho biết mức hợp lý của số d các khoản phải trả và hiệu quả của việc
thanh toán nợ. Nếu số vòng luân chuyển các khoản phải trả lớn, chứng tỏ doanh nghiệp
thanh toán tiền hàng kịp thời, ít chiếm dụng vốn và có thể đợc hởng chiết khấu thanh toán.
Tuy nhiên, số vòng luân chuyển các khoản phải trả nếu quá cao sẽ không tốt, có thể ảnh
hởng tới kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp do phải huy động một nguồn vốn
trả nợ.
Trong công thức trên, số d bình quân các khoản phải trả đợc tính theo công thức sau:

Bùi Thị Hải Ngọc - 18 -
Số vòng luân chuyển
các khoản phải trả
=
Tổng số tiền hàng mua chịu
Số dư bình quân các khoản phải trả
Số dư bình quân các
khoản phải trả
=
Tổng số nợ phải trả đầu kỳ và cuối kỳ

Tổng giá trị các khoản phải trả
Tổng nguồn vốn
Luận văn tốt nghiệp Trờng đại học Thơng Mại
có khả năng thanh toán cao thì tình hình tài chính sẻ khả quan và ngợc lại, nếu doanh
nghiệp có khả năng thanh toán thấp thì tình hình tài chính xấu, có thể dẫn dến khủng
hoảng tài chính của doanh nghiệp, không thể không xem xét khả năng thanh toán, đặc biệt
là khả năng thanh toán ngắn.
*Phân tích khả năng thanh toán
Để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp cần tính và so sánh chỉ tiêu chung
sau
1. Hệ số thanh toán chung
Hệ số thanh toán chung là chỉ tiêu đợc dùng để đánh giá khả năng thanh toán của doanh
nghiệp trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này có vai trò rất quan trọng trong việc xem xét tình
hình tài chính của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có chỉ số luôn lớn hoặc bằng 1 thì
doanh nghiệp đảm bảo đợc khả năng thanh toán và ngợc lại.
2. Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn
Để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ
báo cáo, chúng ta sử dụng chỉ tiêu hệ số thanh toán nợ ngắn hạn:
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn cho thấy khă năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của
doanh nghiệp là cao hay thấp. Nếu chỉ tiêu này lớn hơn và bằng 1 thì doanh nghiệp có đủ
khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, càng nhỏ hơn 1 thì khả năng thanh toán nợ
của doanh nghiệp càng thấp.
3. Hệ số thanh toán nhanh nợ ngắn hạn
Bùi Thị Hải Ngọc - 20 -
Hệ số thanh toán
chung
=
Tổng giá trị tài sản
Tổng số nợ phải trả
Hệ số thanh toán

dễ chuyển đổi thành tiền
Tổng số nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán
nợ dài hạn
=
Giá trị còn lại của TSCĐ hình thành bằng
nguồn vốn vay dài hạn hoặc nợ dài hạn
Tổng số nợ dài hạn
Luận văn tốt nghiệp Trờng đại học Thơng Mại
Ngoài các chỉ tiêu trên khi phân tích cần xem xét chỉ tiêu vốn hoạt động thuần (vốn
luân chuyển thuần). Vốn hoạt động thuần là chỉ tiêu phản ánh mức chênh lệch giữa tổng
giá trị tài sản lu động với các khoản nợ ngắn hạn. Một doanh nghiệp muốn hoạt động
không bị gián đoán thì cần thiết phải duy trì một mức vốn hoạt động thuần hợp lý để thoả
mãn việc thanh toán nợ ngắn hạn và dự trữ hàng tồn kho. Vốn hoạt động thuần của doanh
nghiệp càng lớn thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng cao. Ngợc lại khi vốn
hoạt động thuần giảm sút thì doanh nghiệp mất dần khả năng thanh toán. Trờng hợp vốn
hoạt động thuần của doanh nghiệp nhỏ hơn không chứng tỏ một bộ phận tài sản cố định
của doanh nghiệp đợc hình thành từ nguồn vốn ngắn hạn, dẫn đến cán cân thanh toán mất
cân bằng, doanh nghiệp phải dùng tài sản dài hạn để thanh toán nợ đến hạn. Nói cách
khác khi vốn hoạt động thuần nhỏ hơn không doanh nghiệp sẽ có nguy cơ phá sản.Sau đó dựa vào các số liệu hoạch toán tiến hành thu thập các số liệu liên quan đến các
khoản có thể dùng để thanh toán ( khả năng thanh toán ) với các khoản phải thanh toán
( nhu cầu thanh toán) của doanh nghiệp sau đó sắp xếp các chỉ tiêu này vào một bẳng
phân tích theo một trình tự nhất định. Còn với khả năng thanh toán các chỉ tiêu lại đợc sắp
xếp theo khả năng huy động( huy động ngay, huy động trong thời gian tới).
Trên cơ sở bảng phân tích này nhà quản lý sẽ tiến hành so sánh giữa khả năng thanh
toán trong tháng tới, quý tới Doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh toán trong từng giai
đoạn nếu các khoản có thể dùng để thanh toán lớn hơn các khoản phải thanh toán. Ngợc

-Tiền Việt Nam
-Vàng, bạc, đá quý
-Ngoại tệ
2. Tiền gửi ngân hàng
-Tiền Việt Nam
-Vàng, bạc, đá quý
Bùi Thị Hải Ngọc - 23 -
Luận văn tốt nghiệp Trờng đại học Thơng Mại
-Phải trả nội bộ
-Phải trả khác
2. Các khoản nợ đến hạn
-Nợ ngân sách
-Nợ ngân hàng
v.v..
II. Các khoản phải thanh
toán trong thời gian tới
1. Tháng tới
-Ngân sách
-Ngân hàng
v.v
2. Quý tới
-v.v
-v.v
-Ngoại tệ
3. Tiền đang chuyển
4. Các khoản t ơng đ ơng tiền
II. Các khoản có thể thanh toán
trong thời gian tới
1. Tháng tới
-Đầu t ngắn hạn khác

giao ngay ngày thực hiện hợp đồng thì doanh nghiệp đã có lợi khi thực hiện phòng ngừa.
Còn nếu hai loại tỷ giá này bằng nhau thì việc thực hiện phòng ngừa hay không phòng
ngừa là nh nhau, doanh nghiệp sẽ không bị thiệt thòi do tỷ giá không thay đổi. Nếu tỷ giá
chuyển đổi ghi trong hợp đồng nhỏ hơn tỷ giá giao ngay ngày thực hiện thì doanh nghiệp
không thực hiện phòng ngừa sẽ tốt hơn vì nếu thực hiện doanh nghiệp sẽ bị lỗ do nhận đợc
khoản tiền ít hơn.
- Đối với khoản phải trả: Nếu tỷ giá chuyển đổi ghi trong hợp đồng nhỏ hơn tỷ giá
giao ngay ngày thực hiện hợp đồng thì doanh nghiệp sẽ có lợi khi thực hiện phòng ngừa.
Còn nếu hai loại tỷ giá này bằng nhau thì việc thực hiện phòng ngừa hay không phòng
ngừa là nh nhau, doanh nghiệp sẽ không bị thiệt thòi do tỷ giá không thay đổi. Nếu tỷ giá
chuyển đổi ghi trong hợp đồng lớn hơn tỷ giá giao ngay ngày thực hiện hợp đồng thì
doanh nghiệp không thực hiện phòng ngừa sẽ tốt hơn vì nếu thực hiện doanh nghiệp sẽ bị
lỗ do nhận đợc khoản tiền ít hơn.
Nếu phòng ngừa bằng hợp đồng quyền chọn tiền tệ thì doanh nghiệp phải mua quyền
chọn bán hoặc phải mua quyền chọn mua đồng tiền phải thu phải trả trong tơng lai với kỳ
hạn tơng ứng.
Gọi E là tỷ giá chuyển đổi ghi trong hợp đồng
S là tỷ giá giao ngay tại ngày thực hiện hợp đồng
P là giá quyền chọn bán
- Đối với khoản phải thu
Bùi Thị Hải Ngọc - 25 -

Trích đoạn Tình hình quản lý công nợ phải thu Phân tích khả năng thanh toán nợ dài hạn Những mặt đạt đợc trong công tác quản lý công nợ Những mặt còn tồn tại trong công tác quản lý công nợ Thực trạng ngành Da-Giầy Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status