nghiên cứu đánh giá hạn hán vùng đồng bằng sông hồng - Pdf 10


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Lê Thị Hiệu

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HẠN HÁN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2011 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CÚU HẠN HÁN TRÊN THẾ
GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
Hạn hán là một loại thiên tai phổ biến trên thế giới. Biểu hiện của nó là lƣợng
mƣa thiếu hụt nghiêm trọng, kéo dài, làm giảm hàm lƣợng ẩm trong không khí và hàm
lƣợng nƣớc trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nƣớc ao hồ, mực
nƣớc trong các tầng chứa nƣớc dƣới đất, Theo tổ chức Khí tƣợng Thế giới (WMO)
hạn hán đƣợc phân ra 4 loại:
1. Hạn khí tƣợng: thiếu hụt lƣợng mƣa trong cán cân lƣợng mƣa - bốc hơi;
2. Hạn thủy văn: dòng chảy sông suối giảm rõ rệt, mực nƣớc trong các tầng
chứa nƣớc dƣới đất hạ thấp;
3. Hạn nông nghiệp: thiếu hụt nƣớc mƣa dẫn tới mất cân bằng giữa lƣợng nƣớc
thực tế và nhu cầu nƣớc của cây trồng;
4. Hạn kinh tế - xã hội: thiếu hụt nguồn nƣớc cấp cho các hoạt động kinh tế - xã
hội.
Hạn hán khác với các loại thiên tai khác ở nhiều khía cạnh. Điểm đặc trƣng nhất
là tác động của hạn hán thƣờng tích lũy một cách chậm chạp trong một khoảng thời
gian dài và có thể kéo dài trong một đoạn nhất định. Hình 1 trình bày sơ đồ mô tả quá
trình phát sinh và diễn biến hạn hán. Theo đó hạn khí tƣợng xảy ra trƣớc tiên do không
mƣa hoặc mƣa không đáng kể trong thời gian đủ dài, đồng thời những yếu tố khí
tƣợng đi kèm với sự thiếu hụt mƣa gây bốc thoát hơi nƣớc gia tăng. Sự thiếu hụt mƣa
và gia tăng bốc hơi sẽ dẫn đến sự suy giảm/suy kiệt độ ẩm đất – hạn đất và hạn nông
nghiệp ở vùng không đƣợc tƣới xảy ra. Sự suy kiệt độ ẩm đất cũng đồng thời dẫn đến

Mitigation Center - NDMC). Các dạng thông tin về hạn hán đƣợc phát hành thƣờng
xuyên cho các ngành ở Mỹ, đặc biệt là cho nông nghiệp, bao gồm:
Đánh giá các điều kiện hạn gần đây và hiện trạng hạn hán dựa trên sự phối hợp
giám sát hạn hán toàn diện giữa các cơ quan của Bộ Nông nghiệp và Trung tâm
Quốc gia về Giảm nhẹ hạn hán;
Các bản đồ chỉ số hạn của Cơ quan Khí quyển Đại dƣơng Quốc gia (NOAA)
cho 6, 12 tuần trƣớc;
Nhận định về hạn hán mùa do Trung tâm Dự báo Khí hậu thuộc NOAA (đƣợc
cập nhật hàng tháng);
Tính toán của NOAA về lƣợng mƣa cần có đến cuối các đợt hạn hán trên toàn
nƣớc Mỹ;
Giám sát độ ẩm đất: Hiện trạng độ ẩm đất trên các bang/các khu vực;
Giám sát hạn hán của NOAA thông qua các chỉ số hạn, bao gồm: Chỉ số chuẩn
hoá lƣợng mƣa, tỷ chuẩn lƣợng mƣa hàng tháng; Chỉ số hạn khắc nghiệt theo
Palmer (cập nhật hàng tuần); Chỉ số ẩm cây trồng (cập nhật hàng tuần).
Hiện nay, ở Mỹ đã có trên 30 bang lập kế hoạch phòng chống hạn hán hàng
năm với 10 bƣớc nhƣ sau: 1) Bổ nhiệm 1 Ban phòng chống hạn hán; 2) Xác định mục
tiêu và nội dung của kế hoạch phòng chống hạn hán; 3) Tìm kiếm sự tham gia của các
đối tác và giải quyết các mâu thuẫn; 4) Kiểm kê nguồn tài nguyên và xác định các
nhóm có nguy cơ chịu rủi ro; 5) Phát triển cơ cấu tổ chức và chuẩn bị kế hoạch chống
hạn; 6) Xác định nhu cầu nghiên cứu và kiện toàn các thể chế; 7) Liên kết khoa học và
chính sách; 8) Quảng bá kế hoạch phòng chống hạn; 9) Phổ biến kiến thức cộng đồng
về hạn hán; 10) Đánh giá và điều chỉnh kế hoạch phòng chống hạn hán. Tóm lại, ở Mỹ
tập trung vào 3 hoạt động bắt buộc của kế hoạch phòng chống hạn hán là: 1) Giám sát
và cảnh báo sớm; 2) Đánh giá nguy cơ rủi ro và tác động; 3) Giảm nhẹ và ứng phó với
hạn hán.
b) Ở Úc
Từ năm 1965 đã thành lập tổ chức theo dõi và phục vụ phòng chống hạn hán
(Bureau's Drought Watch Service) với sự liên kết giữa cơ quan khí tƣợng Úc (BOM)
và cơ quan nông nghiệp trên toàn quốc đến tận các bang. Tổ chức này cung cấp thời

hán.
d) Một số nước và tổ chức khác
Đƣợc sự hỗ trợ tài chính của Chƣơng trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP),
Tổ chức Khí tƣợng Thế giới cũng đã thành lập các Trung tâm Giám sát hạn ở Nairobi
(Kenya), ở Harare (Zimbabwe) từ năm 1989 để cảnh báo sớm hạn và đƣa ra các giải
pháp giảm nhẹ tác động của các thiên tai khí tƣợng đến sản xuất nông nghiệp và nguồn
nƣớc cho các nƣớc vùng Đông và Nam Phi.
Nhiều nƣớc khác nhƣ Nigeria, India, Brazil, Hungaria, Bồ Đào Nha, cũng đã
có các hệ thống cảnh báo sớm hạn hán.
Các nƣớc ASEAN từ năm 1987 đã triển khai thử nghiệm nghiệp vụ Hệ thống
theo dõi hạn hán (Drought Watch System - DWS) giống nhƣ ở Úc đặt tại Kedah,
Malaysia: lúc đầu chủ yếu tính toán lƣợng mƣa tháng theo các tỷ lệ phần trăm, sau đó
đƣa ra thông tin vùng “thiếu hụt lượng mưa trầm trọng” (severe rainfall deficiency) và
các “đợt hạn” (drought spell).
Philipines cũng đã xây dựng một hệ thống giám sát và cảnh báo hạn hán trên
toàn quốc. Một số chỉ số hạn hán đang đƣợc sử dụng trong nghiệp vụ nhƣ chỉ số khả
năng ẩm MAI, chỉ số cực đoan mƣa REI,
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu hạn hán ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hạn hán là một thiên tai thƣờng xuyên xảy ra ở một vài vùng ít
mƣa và hay xảy ra vào mùa khô tại nhiều vùng khác nhau. Những năm qua, Nhà nƣớc
đã ƣu tiên thực hiện nhiều giải pháp phòng chống hạn hán nhờ đó đã giảm thiểu thiệt
hại do hạn hán gây ra. Tuy nhiên, tình hình hạn hán diễn biến ngày càng phức tạp, đặc
biệt do biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ làm thiên tai hạn hán gay gắt hơn. Có thể nêu các
ví dụ điển hình về thiệt hại do hạn hán gây ra những năm gần đây ở nhƣ sau:
Năm 1992, hạn nặng ở Miền Trung và đồng bằng Nam Bộ đã làm cho 6.000 ha
rừng đặc dụng ở Quảng Nam - Đà Nẵng bị cháy, 300.000 ha lúa hè thu ở Nam
Bộ bị hại, mất trắng 10.000 ha. Ƣớc tính thiệt hại trên 50 tỷ đồng;
Đông xuân 1992/1993, đồng bằng sông Cửu Long bị hạn nặng. Lƣợng mƣa ở
hầu hết các tháng trong vùng đều thấp hơn trung bình nhiều năm từ 75 - 90%.
Hạn hán và sâu bệnh đã làm năng suất lúa giảm 6,2 tạ/ha so với vụ trƣớc (chỉ

làm cho hầu hết các hồ nƣớc ở khu vực này bị khô kiệt;
Những tháng trước mùa mưa năm 2003, hạn hán bao trùm hầu khắp Tây
Nguyên, gây thiệt hại cho khoảng 300 ha lúa ở Kon Tum, 3000 ha lúa ở Gia Lai
và 50.000 ha đất canh tác ở Đắk Lắc; thiếu nƣớc cấp cho sinh hoạt của 100.000
hộ dân. Chỉ tính riêng cho Đắk Lắc, tổng thiệt hại ƣớc tính khoảng 250 tỷ đồng.
Hạn hán thiếu nước năm 2004-2005 xảy ra trên diện rộng nhƣng không
nghiêm trọng nhƣ năm 1997-1998. Ở Bắc Bộ, mực nƣớc sông Hồng tại Hà Nội
vào đầu tháng 3 xuống mức 1,72 m thấp nhất kể từ năm 1963 đến năm 2005. Ở
Miền Trung và Tây Nguyên, nắng nóng kéo dài, dòng chảy trên các sông suối ở
mức thấp hơn trung bình nhiều năm cùng kỳ, một số suối cạn kiệt hoàn toàn;
nhiều hồ, đập dâng hết khả năng cấp nƣớc.
Trong năm 2006, từ những tháng đầu năm cho đến những tháng cuối năm, do
lƣợng mƣa bị thiếu hụt so với trung bình nhiều năm nên tại nhiều nơi tình trạng
thiếu nƣớc dẫn đến khô hạn rồi hạn hán cục bộ xảy ra liên tục, rải rác ở một số
tỉnh trong cả nƣớc.
Trong 4 tháng đầu năm 2007 và 3 tháng IV, V, VI của năm 2008 hạn hán cục
bộ xảy ra ở nhiều nơi trên phạm vi cả nƣớc, trong đó nặng nề nhất là các tỉnh
thuộc Tây Nguyên và Nam Bộ
Mùa khô năm 2009-2010 là năm rất nhiều khu vực trên thế giới, trong đó có
Việt Nam, chịu ảnh hƣởng của đợt hạn hán nghiêm trọng bất thƣờng. Mực nƣớc
sông Mê Kông giảm xuống mức thấp nhất trong 40 năm qua làm đình tr
. Trên các hệ thống sông, suối toàn quốc, dòng
chảy đều thiếu hụt nhiều so với trung bình nhiều năm, có nơi tới 60-90%; mực
nƣớc nhiều nơi đạt mức thấp nhất lịch sử nhƣ
, mực
nƣớc xuống mức thấp lịch sử nên đã gây thiếu nƣớc cho sản xuất nông nghiệp,

diện rộng, nhiều nơi còn nghiêm trọng hơn năm 1998.
Để phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do hạn hán gây ra, trong những năm vừa
qua, ở nƣớc ta các nhà khoa học đã thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu về hạn hán, bao

các biện pháp phòng chống và giảm nhẹ hạn hán.
Đề tài cấp Nhà nƣớc “Nghiên cứu dự báo hạn hán vùng Nam Trung Bộ và Tây
Nguyên và xây dựng các giải pháp phòng chống” do GS.TS. Nguyễn Quang Kim
(2005) thực hiện. Đề tài đã nghiên cứu hiện trạng hạn hán, thiết lập cơ sở khoa học cho
quy trình dự báo hạn thông qua 2 chỉ số SPI và chỉ số cấp nƣớc mặt SWSI với hạn dự
báo 1 và 3 tháng. Việc dự báo hạn đƣợc dựa trên nguyên tắc phân tích mối tƣơng quan
giữa các yếu tố khí hậu, các hoạt động ENSO và các điều kiện thực tế vùng nghiên
cứu.
Đề tài cấp Nhà nƣớc “Nghiên cứu xây dựng bản đồ phân vùng tai biến môi
trường tự nhiên lãnh thổ Việt Nam” do GS.TS. Nguyễn Trọng Yêm (2006) thực hiện.
Trong đề tài này những đặc điểm cơ bản về hạn hán ở Việt Nam đƣợc phân tích đúc
kết dựa trên các đặc trƣng hạn nhƣ chỉ số khô hạn tháng, năm và tần suất hạn tháng.
Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu và xây dựng công nghệ dự báo và cảnh báo sớm
hạn hán ở Việt Nam” do TS. Nguyễn Văn Thắng (2007) thực hiện. Đề tài đã đánh giá
đƣợc mức độ hạn hán ở các vùng khí hậu và chọn đƣợc các chỉ tiêu xác định hạn hán
phù hợp với từng vùng khí hậu ở Việt Nam, đồng thời xây dựng đƣợc công nghệ dự
báo và cảnh báo sớm hạn hán cho các vùng khí hậu ở Việt Nam bằng các số liệu khí
tƣợng thủy văn và các tƣ liệu viễn thám để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, trọng
tâm là sản xuất nông nghiệp và quản lý tài nguyên trong cả nƣớc;
Đề án cấp Bộ “Xây dựng bản đồ hạn hán và mức độ thiếu nước sinh hoạt ở
Nam Trung Bộ và Tây Nguyên” của PGS.TS. Trần Thục (2008) đã đánh giá mức độ
hạn hán và thiếu nƣớc sinh hoạt ở 9 tỉnh thuộc Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Trên cơ
sở đó đã xây dựng đƣợc các bản đồ hạn hán thiếu nƣớc sinh hoạt trong vùng nghiên
cứu.
Đề tài cấp Nhà nƣớc “Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ
phòng chống hạn hán phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững ở các tỉnh miền
Trung” do TS. Lê Trung Tuân (2009) thực hiện. Đề tài đã triển khai với mục tiêu
nghiên cứu ứng dụng các giải pháp phòng chống hạn cho các tỉnh miền Trung. Các
giải pháp đề xuất ứng dụng đƣợc chia thành 3 nhóm: (i) Thu trữ nƣớc, bảo vệ đất và
giữ ẩm; (ii) Quản lý vận hành công trình thủy lợi trong điều kiện hạn hán, chế độ tƣới

đất nƣớc.
Hệ thống sông Hồng là hệ thống sông lớn thứ hai ở Việt Nam, chỉ sau hệ thống
sông Mê kông, nằm trong phạm vi toạ độ địa lý: (100
o
00'-106
o
35') kinh độ đông,
(20
o
00'-25
o
30') vĩ độ bắc; phía bắc giáp hai lƣu vực sông Trƣờng Giang và sông Nậm
Pàn và Tả Giang thuộc hệ thống sông Châu Giang ở Trung Quốc; phía đông giáp lƣu
vực sông Thái Bình, phía tây giáp hai lƣu vực sông Mê kông và sông Mã, phía nam
giáp vịnh Bắc Bộ. Phần lƣu vực hệ thống sông Hồng thuộc lãnh thổ Việt Nam nằm
trong phạm vi toạ độ địa lý: (102
o
10'-106
o
35') kinh độ đông, (20
o
00'-23
o
07') vĩ độ bắc.
Diện tích lƣu vực hệ thống sông Hồng khoảng 155.000 km
2
, trong đó có 82.300 km
2

nằm trong lãnh thổ Trung Quốc (81.180 km

Minh trong lƣu vực sông Lô.
Địa hình đồi dạng bát úp, cao dƣới (50-100) m, đặc trƣng cho cảnh quan vùng
trung du, phân bố rộng khắp trong lƣu vực.
Xen kẽ giữa những cao nguyên và đồi núi có những bồn địa nhƣ ở Nghĩa Lộ,
Quang Huy.
Vùng đồng bằng nằm ở hạ lƣu sông Hồng, địa hình bằng phẳng, nghiêng ra biển
theo hƣớng tây bắc - đông nam. Đồng bằng bị chia cắt thành những khu bởi các bờ đê
chạy dọc theo các triền sông.
Địa chất
Lƣu vực sông Hồng trong địa phận Việt Nam là nơi gặp gỡ của hai hệ thống địa
chất - kiến tạo lớn,.Đó là nền địa chất Hoa Nam và địa máng Mezozoi, nối hai phƣơng
kiến tạo khác nhau và cắt nhau: đông bắc nằm trên và tây bắc nằm dƣới. Ranh giới của
2 hệ thống này là đƣờng đứt gãy kiến tạo lớn và sâu chạy theo hƣớng tây bắc - đông
nam ra tận vịnh Bắc Bộ. Sông Thao và sông Chảy chảy trên đƣờng đứt gãy này. Hệ
thống đứt gãy này chia lƣu vực sông Hồng thành 2 miền uốn nếp khác nhau: Việt -
Trung nằm ở đông bắc và Ấn - Trung nằm ở phía tây nam. Vì thế, cấu tạo địa chất
trong lƣu vực rất phức tạp.
Thổ nhƣỡng
Vùng núi cao đƣợc cấu tạo bằng các loại đá nhƣ: granít, đá phiến, sa diệp thạch,
phiến thạch, sa thạch, cát kết, cuội kết và đá vôi. Đất trong lƣu vực đƣợc phát triển trên
các loại đá mẹ khác nhau, gồm các loại đất nhƣ: Đất mùn trên núi cao, đất feralít trên
các loại đá mác ma, đá vôi và các loại đá khác với các màu vàng nhạt, vàng, đỏ, đỏ
vàng, nâu đỏ, đất đá vôi, đất phù sa và cát ven sông, ven biển, đất phèn và đất mặn.
Thực vật
Thực vật trong lƣu vực sông rất phong phú, với nhiều loại thực vật và phân bố
theo độ cao khác nhau nhƣ sau:
- Ở độ cao từ trên 1.700 m có rừng nhiệt đới núi cao, cây cao thƣờng dƣới 20 m, lớp
mùn rất giàu, cây sống trong sƣơng mù nên có rêu.
- Ở độ cao (700-1.700) m có rừng nhiệt đới thƣờng xanh, gồm rừng kín hỗn hợp cây
lá rộng; lá kim á nhiệt đới và rừng kín thƣờng xanh mƣa ẩm á nhiệt đới, cây cao

2
, cân bằng bức xạ trung bình năm khoảng (40-70) kcal/cm
2
.
- Số giờ nắng trung bình năm từ 1.400 giờ ở vùng núi cao đến hơn 2.000 giờ
ở thung lũng sông Đà.
- Nhiệt độ không khí trung bình năm biến đổi trong phạm vi từ dƣới 14
o
C ở
vùng núi cao đến (20-24)
o
C ở vùng trung du và đồng bằng. Nhiệt độ cao
nhất tuyệt đối có thể trên 40
o
C (Lai Châu: 42,5
o
C, Phú Hộ: 40,7
o
C, Láng:
42,8
o
C (V/1926)). Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có thể dƣới 0
o
C ở vùng núi
cao: -4,5
o
C tại Sìn Hồ, -5,7
o
C tại Hoàng Liên Sơn, dƣới 10
o

trong vùng đồng bằng hạ lƣu.
Hệ thống sông Hồng do ba nhánh sông lớn tạo thành là các sông: Đà, Thao và
Lô. Cả 3 nhánh sông này đều bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) rồi chảy vào
địa phận nƣớc ta với nhiều nhánh. Sông Thao (ở địa phận Trung Quốc có tên là sông
Nguyên) bắt nguồn từ hồ Đại Lý ở độ cao gần 2.000 m trên đỉnh Ngụy Sơn thuộc tỉnh
Vân Nam - Trung Quốc, theo hƣớng tây bắc - đông nam chảy vào lãnh thổ Việt Nam ở
huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai, tiếp nhận sông Đà ở Trung Hà và sông Lô ở Việt Trì, rồi
chảy vào đồng bằng châu thổ sông Hồng. Sông Thao đƣợc coi là dòng chính của sông
Hồng và phần hạ lƣu từ Việt Trì đến cửa Ba Lạt đƣợc gọi là sông Hồng. Đồng bằng
châu thổ sông Hồng có mạng lƣới sông ngòi kênh rạch chằng chịt. Ở đây, sông Hồng
có các phân lƣu nhƣ: Đuống, Luộc chảy sang sông Thái Bình, sông Trà Lý, sông Đào
Nam Định và sông Ninh Cơ. Nhƣ vậy, ngoài cửa Ba Lạt ra, nƣớc sông Hồng còn chảy
ra vịnh Bắc Bộ tại các cửa Trà Lý, Lạch Giang , Đáy và một số cửa của hệ thống sông
Thái Bình.
Cũng cần chỉ ra rằng, đồng bằng châu thổ sông Hồng là phần hạ lƣu của hai hệ
thống sông Hồng và Thái Bình. Do địa hình bằng phẳng, mạng lƣới sông ngòi kênh
rạch chằng chịt đan xen nhau, nên khó có thể phân chia ranh giới lƣu vực giữa 2 hệ
thống sông này ở vùng đồng bằng.
Lƣu vực sông Thao có dạng dài, hẹp ngang, mở rộng ở phía thƣợng lƣu và thu
hẹp ở trung và hạ lƣu. Ở phần phía bờ trái thuộc lãnh thổ Việt Nam, lƣới sông kém
phát triển. Một số sông nhánh chính ở phía bờ phải của sông Thao ở nƣớc ta nhƣ: Ngòi
Bo (F =587 km
2
), Ngòi Nhù (F=1.550 km
2
), Ngòi Hút (F=632 km
2
), Ngòi Thia
(F=1.570 km
2

), Nậm Bú (F = 1.410 km
2
), Nậm Sập (F = 1.110 km
2
) Do điều kiện địa hình nên
lƣu vực sông Đà có dạng dài và hẹp ngang - dạng hình lông chim.
Sông Lô bắt nguồn từ vùng núi cao trên 2.000 m ở phía tây nam tỉnh Vân Nam,
Trung Quốc. Phần ở Trung Quốc sông Lô có tên gọi là sông Bàn Long, chảy theo
hƣớng tây bắc - đông nam vào địa phận huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, qua các tỉnh
Tuyên Quang, Phú Thọ, nhập vào sông Thao tại Việt Trì. Dòng chính sông Lô dài 470
km và diện tích lƣu vực 39.000 km
2
, trong đó ở nƣớc ta sông Lô dài 275 km và diện
tích lƣu vực 22.600 km
2
. Lƣu vực sông Lô hẹp ngang ở thƣợng và hạ lƣu, mở rộng ở
trung lƣu. Trong lãnh thổ Việt Nam, sông Lô có một số nhánh chính nhƣ: Miện
(F=1.930 km
2
), Gâm (F=17.200 km
2
), Nhiên (F=6.500 km
2
), Phó Đáy (F=1.610 km
2
).
Sông Đáy cũng đƣợc coi là sông nhánh của sông Hồng ở phía hữu ngạn, bắt
nguồn từ vùng núi Ba Vì, chảy theo hƣớng tây bắc - đông nam và đổ ra biển tại cửa
Đáy.
Lƣới trạm thuỷ văn

Nhìn chung, chất lƣợng số liệu đo đạc là đáng tin cậy, nhất là đối với số liệu
quan trắc từ thập niên 60 của thế kỷ trƣớc đến nay.
Dòng chảy năm
Do ảnh hƣởng của các yếu tố khí hậu và mặt đệm, đặc biệt là địa hình và mƣa,
nên dòng chảy sông suối biến đổi mạnh trong không gian và theo thời gian. Nhìn
chung, sự phân bố của mô đun dòng chảy năm (M
n
, l/s.km
2
) trong lƣu vực tƣơng tự
nhƣ sự phân bố của lƣợng mƣa năm trung bình nhiều năm (X
n
, mm). mà bản thân sự
phân bố của X
n
lại chịu ảnh hƣởng rất lớn của địa hình ( hình 1.3 ).
Trong phần lƣu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam, gía trị M
n
biến đổi trong phạm vi
từ dƣới 10 l/s.km
2
đến trên 120 l/s.km
2
. Các trung tâm M
n
lớn đều xuất hiện ở các
sƣờn núi đón gió mùa ẩm (gió đông năm hay gió tây nam), nhƣ ở vùng núi Tây Côn
Lĩnh ở trung lƣu sông Lô (M
n
>120 l/s.km

2
đến trên 80 l/s.km
2
;
- Lƣu vực sông Lô: Từ dƣới 10 l/s.km
2
đến trên 20 l/s.km
2
;
- Đồng bằng hạ lƣu: 15-30 l/s.km
2
.
Trên cơ sở chuỗi số liệu quan trắc lƣu lƣợng nƣớc tại các trạm thuỷ văn và bản
đồ đƣờng đẳng trị M
n
có thể tính đƣợc tổng lƣợng dòng chảy năm trung bình nhiều
năm (W
o,n
) của hệ thống sông Hồng. Kết quả tính toán cho thấy, giá trị W
o
của sông
Hồng khoảng 127 km
3
, trong đó từ nƣớc ngoài chảy vào 48,7 km
3
(chiếm 38,3%) và
78,6 km
3
đƣợc hình thành trong lãnh thổ Việt Nam. Tổng lƣợng dòng chảy năm của
các sông nhánh chính nhƣ sau : Sông Đà: 55,1 km

diện tích lƣu vực hệ thống sông
Hồng khoảng 821.10
3
m
3
/km
2
, trong đó 592.10
3
m
3
/km
2
ở ngoài nƣớc và 1.080.10
3

m
3
/km
2
trong lãnh thổ Việt Nam. Mức bảo đảm nƣớc bình quân năm trên các sông
nhánh nhƣ sau: sông Đà: 1.040 .10
3
m
3
/km
2
, sông Thao: 494.10
3
m

văn trong hệ thống sông Hồng và hình 1.1.3 là sơ đồ phân phối lƣu lƣợng trung bình
tháng trong năm của một số sông.
Ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng - Thái Bình, chế độ nƣớc sông còn chịu
ảnh hƣởng của thuỷ triều. Càng gần cửa sông thì ảnh hƣởng của thuỷ triều càng mạnh
và là nhân tố chủ yếu chi phối chế độ nƣớc sông ngòi, kênh rạch. Chế độ thuỷ triều ở
vùng này thuộc loại nhật triều đều. Khoảng cách mà thuỷ triều xâm nhập vào sông có
thể tới 185 km trên sông Hồng, 210 km trên sông Đáy.
Hệ thống sông Thái Bình nằm ở phía đông bắc lãnh thổ Việt Nam, trong phạm
vi toạ độ địa lý: 105
0
29'-107
o
10' kinh độ đông, 20
0
20'-22
0
27' vĩ độ bắc; phía tây tiếp
giáp với hệ thống sông Hồng, phía bắc và đông bắc tiếp giáp với hệ thống sông Kỳ
Cùng - Bằng; phía đông tiếp giáp với các lƣu vực sông vừa và nhỏ ở vùng ven biển
Quảng Ninh và phía nam tiếp giáp vịnh Bắc Bộ (hình 1.1.1). Nhƣ vậy, lƣu vực hệ
thống sông Thái Bình bao gồm toàn bộ hay một phần địa phận các tỉnh: Bắc Kạn, Thái
Nguyên, Bắc Giang, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, thành phố Hà Nội, Hải Dƣơng,
Thái Bình và thành phố Hải Phòng.
Địa hình
Địa hình trong lƣu vực chủ yếu là đồi núi ở trung và thƣợng lƣu, đồng bằng ở
hạ lƣu. Địa hình đồi núi thành 4 cánh cung: cánh cung Sông Gâm ở phía tây và tây
bắc, 2 cánh cung Ngân Sơn - Yên Lạc và Bắc Sơn ở giữa và cánh cung Đông Triều ở
phía đông nam. Các cánh cung này tạo thành vòng cung mở rộng về phía đông bắc và
quy tụ về dãy núi Tam Đảo ở phía tây nam. Cánh cung Sông Gâm hạ thấp dần về phía
Định Hoá (Chợ Chu); trên cánh cung này có một số đỉnh núi cao trên 1.000 m nhƣ:

vực sông Thƣơng và sông Lục Nam là hƣớng đông bắc - tây nam. Độ cao trung bình
của lƣu vực sông Cầu và sông Thƣơng xấp xỉ nhau, khoảng 190 m, còn lƣu vực sông
Lục Nam cao hơn 207 m.
Địa chất
Phần lớn diện tích lƣu vực đƣợc cấu tạo chủ yếu bởi đá phiến, thạch anh, sa
thạch, cát két và đá vôi. Đá vôi tập trung phân bố ở các cánh cung sông Gâm, Ngân
Sơn - Yên Lạc và Bắc Sơn trong 2 lƣu vực sông Cầu và sông Thƣơng, tạo thành các
dạng địa hình karst với mức độ phát triển khác nhau. Diện tích đá vôi trong lƣu vực
sông Cầu là 279 km
2
(chiếm 4,6% diện tích lƣu vực), trong lƣu vực sông Thƣơng là
929 km
2
(chiếm 25,9%). Một số lƣu vực sông nhánh có diện tích đá vôi khá lớn, nhƣ
lƣu vực sông Nghinh Tƣờng (một nhánh của sông Cầu) có diện tích đá vôi là 170 km
2
,
chiếm 36,6% diện tích lƣu vực, lƣu vực sông Trung (một nhánh của sông Thƣơng) là
651 km
2
, chiếm 51,3%.
Địa hình karst với mức độ phát triển khác nhau đã làm cho lƣu vực sông không
khép kín và sự trao đổi nƣớc mặt với nƣớc ngầm rất phức tạp.
Thổ nhƣỡng
Trong lƣu vực hệ thống sông Thái Bình có những loại đất chính dƣới đây:
- Đất feralít phát triển triển trên đá phiến thạch và biến chất, phân bố rộng khắp trong
lƣu vực;
- Đất feralít vàng đỏ phát triển trên đá mác ma axít, phân bố ở vùng núi phía tây và
tây nam lƣu vực sông Cầu;
- Đất feralít trên núi, phân bố ở độ cao từ 300 m trở lên trong lƣu vực sông Thƣơng

o
C tại thị xã Bắc Kạn, 39,5
o
C tại thành phố Thái Nguyên,
39,1
o
C tại thành phố Bắc Giang. Nhiệt độ không khí tối thấp tuyệt đối có thể dƣới
0
o
C: -1
o
C tại thị xã Bắc Kạn, 2,8
o
C tại thành phố Bắc Giang, -2
o
C tại Ngân Sơn,
0,2
o
C tại Tam Đảo.
- Lƣợng mây tổng quan trung bình năm khoảng (7-8)/10 bầu trời; trong các tháng
mùa xuân (I-III) lƣợng mây tổng quan có thể tới (8-9)/10 bầu trời, còn trong các
tháng mùa thu đông (IX-XI) trời thƣờng trong xanh với lƣợng mây tổng quan chỉ
khoảng (6-7,5/10 bầu trời).
- Độ ẩm tƣơng đối của không khí trung bình năm khoảng (80-85)%.
- Tốc độ gió trung bình năm khoảng (0,9-1,7) m/s, tƣơng đối nhỏ ở những thung lũng,
sƣờn núi khuất gió. Tốc độ gió lớn nhất có thể trên 30 m/s, thậm chí ở vùng đồng bằng
ven biển còn lớn hơn: 40 m/s tại thành phố Thái Bình, 51 m/s tại Phủ Liễn.
- Lƣợng bốc hơi trung bình năm (đo bằng ống Piche) khoảng (700-1.100) mm, lớn trong
các tháng V-VII, và nhỏ trong các tháng I-III.
- Lƣợng mƣa năm trung bình nhiều năm biến đổi trong phạm vi(1.200- 2.600 )(0)

2
),
sông Thƣơng (F = 6650km
2
).
Sông Thƣơng bắt nguồn từ dãy núi Na-Pa-Phƣớc cao 600 m ở huyện Chi Lăng
tỉnh Lạng Sơn, chảy theo hƣớng đông bắc - tây nam qua thành phố Bắc Giang, tiếp
nhận thêm sông Lục Nam rồi chảy vào sông Cầu ở thƣợng lƣu Phả Lại. Sông Thƣơng
dài 157 km, diện tích lƣu vực 3.580 km
2
, mật độ lƣới sông trung bình toàn lƣu vực
khoảng 0,82 km/km
2
. Một số sông nhánh chính của sông Thƣơng nhƣ sau: sông Hoá
(F = 385km
2
), sông Trung (F = 1270km
2
), sông Sỏi (F = 303km
2
), sông Lục Nam (F =
3070km
2
)
Sông Lục Nam bắt nguồn từ vùng núi Kham, cao 700 m ở huyện Đình Lập tỉnh
Lạng Sơn, chảy theo hƣớng đông bắc - tây nam qua các huyện Sơn Động, Lục Ngạn,
Lục Nam tỉnh Bắc Giang rồi đổ vào sông Thƣơng ở Tứ Yên, cách Phả Lại 10 km về
phía thƣợng lƣu. Sông Lục Nam dài 175 km, diện tích lƣu vực 3070 km
2
, mật độ lƣới

đó chỉ còn 2 trạm đo lƣu lƣợng và cát bùn lơ lửng đang hoạt động (trạm Gia Bảy trên
sông Cầu, trạm Chũ trên sông Lục Nam). Gần đây, cũng đã khôi phục hoạt động một
số trạm đo lƣu lƣợng ở vùng chịu ảnh hƣởng thuỷ triều (trạm Bến Bình, Trung
Trang ). Nhìn chung, chất lƣợng số liệu quan trắc thuỷ văn là đáng tin cậy.
Dòng chảy năm
Về cơ bản, sự phân bố của dòng chảy năm trong lƣu vực tƣơng tự nhƣ sự phân
bố của lƣợng mƣa năm. Giá trị mô đun dòng chảy biến đổi trong phạm vi 15-35
l/s.km
2
, tƣơng đối lớn ở vùng núi cao, nơi có lƣợng mƣa năm trên 2000 mm, nhƣ ở
vùng núi Tam Tao, thƣợng nguồn sông Cầu, vùng núi Yên Tử và dãy núi Tam Đảo.
Mô đun dòng chảy năm tƣơng đối nhỏ ở những thung lũng, sƣờn núi khuất gió mƣa
ẩm và vùng đồng bằng có lƣợng mƣa năm nhỏ nhƣng lƣợng bốc hơi lớn ( hình 1.3 ).
Tổng lƣợng dòng chảy năm của hệ thống sông Thái Bình khoảng 9,70 km
3
,
trong đó sông Cầu khoảng 4,50 km
2
(46,4%), sông Thƣơng và sông Lục Nam): 2,48
km
3
(25,6%) và vùng hạ lƣu 2,72 km
3
/24 /.
Tổng lƣợng dòng chảy năm của hệ thống ông Thái Bình chỉ chiếm 1,2% tổng
lƣợng dòng chảy của các sông của Việt Nam /24/, xấp xỉ với tỷ lệ diện tích lƣu vực hệ
thống sông Thái Bình so với tổng diện tích của các sông chảy qua lãnh thổ Việt Nam.
Mức bảo đảm nƣớc trong 1 năm trên 1 km
2
diện tích lƣu vực khoảng 640.10

20% lƣợng nƣớc đƣợc sinh ra trong lƣu vực hệ thống sông Thái Bình. Đây là một đặc
điểm cần đƣợc xem xét đầy đủ khi khai thác, sử dụng tài nguyên nƣớc hệ thống sông
Thái Bình.
Chế độ dòng chảy
Dòng chảy của các sông trong hệ thống sông Thái Bình cũng biến đổi theo mùa.
Mùa lũ thƣờng vào các tháng V, VI- IX,X, mùa cạn vào các tháng X, XI- XII, I-IV, V.
Lƣợng dòng chảy mùa lũ chiếm khoảng (65-90)% lƣợng dòng chảy năm. 3 tháng liên
tục có lƣợng dòng chảy lớn nhất thƣờng xuất hiện vào các tháng VII-IX, trong đó
tháng VIII thƣờng là tháng có lƣợng dòng chảy trung bình tháng lớn nhất. 3 tháng có
lƣợng dòng chảy nhỏ nhất thƣờng xuất hiện vào các tháng I- III và tháng II là tháng có
lƣợng dòng chảy trung bình tháng nhỏ nhất.
Chế độ nƣớc sông ở vùng hạ lƣu còn chịu ảnh hƣởng của thuỷ triều với chế độ
nhật triều đều.
CHƯƠNG 3
ĐÁNH GIÁ HẠN HÁN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

Hạn hán là một hiện tƣợng hết sức phức tạp mà sự hình thành và phát triển là
do cả hai nguyên nhân: Tự nhiên và con ngƣời. Về đại thể, công tác đánh giá hạn hán
có định hƣớng chung sau đây:
Lựa chọn các chỉ số hạn thích hợp và tiến hành giám sát hạn trên cơ sở các chỉ
số đã lựa chọn.
Trên cơ sở kết quả giám sát hạn tiến hành phân tích đặc điểm cơ bản của hạn
hán về phân bố không gian trong đó có xây dựng các bản đồ hạn với tỉ lệ khác
nhau và về diễn biến thời gian, trong đó có xác định mùa hạn và dự kiến xu thế
tƣơng lai của hạn.
Phân vùng hạn nhằm xác định nguy cơ hạn trên từng bộ phận lãnh thổ.
Xây dựng công nghệ dự báo, cảnh báo hạn.
3.1 Chỉ tiêu hạn hán
Có nhiều nguyên nhân gây ra hạn hán và mức độ hạn nặng hay nhẹ cũng phụ
thuộc vào nhiều yếu tố. Cho nên xác định chỉ tiêu hạn hán là một vấn đề phức tạp. Các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status