Lời nói đầu
Phát triển kinh tế là vấn đề quan trọng nhất từ trước tới nay của xã hội
loai người. Kể từ khi con người xuất hiện , xã hội loài người đã trải qua và
hình thành xã hội : cuộc sống nguyên thuỷ , chiếm hữu nô lệ , phong kiến , tư
bản chủ nghĩa và đỉnh cao đang huớng tới xã hội chủ nghĩa . Tương ứng với
mỗi tình thái xã hội trong một hình thái kinh tế mang nét đặc trưng riêng . Tư
bản chủ nghĩa cũng vậy , đây là một giai đoạn mà của cải vật chất của xã hội
được sản xuất ra nhiều hơn tất cả các giai đoạn trước cộng lại . Một giai đoạn
chứng kiến bao sự biến đổi cả về mặt chất lẫn về mặt lượng của xã hội loài
người : kinh tế , khoa học kĩ thuật , chính trị , văn hoá Tuy nhiên trong giai
đoạn này cũng là một giai đoạn phát triển còn nhiều thiếu sót như phân biệt
giàu nghèo , khủng hoảng king tế , chiến tranh bất công bằng trong xã hội
Từ những khuyết tật đó , con người muốn hướng tới một xã hội ở đó con
người có quyền bình đẳng , không còn đói nghèo và áp bức bóc lột , vật chất
sản xuất ra có thể đáp ứng mọi nhu cầu của con người đó chính là chế độ xã
hội chủ nghĩa.
Nhưng liệu xã hội tiến lên cộng sản chủ nghĩa bằng con đường nào và
trong bao lâu , đây là một bài toán nan giải đã đang và sẽ đặt ra với tất cả
nhân loại. Để tiến lên xã hội chủ nghĩa thì cần phải trải qua hai giai đoạn : đó
là giai đoạn chủ nghĩa xã hội và giai đoạn chủ nghĩa cộng sản. Hiện nay nước
ta đang ở trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ; một thời kì mang tính
chất quá độ , cái mới thì chưa thành cái cũ thì chư hoàn toàn dứt bỏ , thời kí
này có sự giao nhập của nhiều tư tưởng . Dưới ngọn cờ của Đảng là kim chỉ
nam la Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta cúng khong thể đốt
cháy giai đoạn hay phủ nhận hoàn toàn những thành tựu mà chủ nghĩa tư bản
đạt được , nhất là c3 chủ nghĩa tư bản nhà nước . Theo Lênin thì trong giai
đoạn quá độ lên xã hội chủ nghĩa , chúng ta không thể vuứt bỏ hoàn toàn chủ
1
nghĩa tư bản nhà nước mà phải thấy được những điểm mạnh của nó dể phát
huy.
chiến nhằm lật đổ chế độ thành quả cách mạng vừa đạt được . Một nước nga
vừa bước ra khỏi cuộc nội chiến với nền kinh tế lâm vào tình trang khủng
hoảng trầm trọng : Thiếu lương thực , thiếu năng lượng , sản xuất đình đốn ,
nông dân nghèo đói , khối liên minh công nông có nguy cơ tan vỡ thì chỉ
sau một thời gian ngắn hầu hết các ngành đều đã đạt và vượt mức trước chiến
tranh , nền kinh tế được phục hồi dần , nhân dân hăng hái thi đua lao động sản
xuất . Nước Nga như được thổi một luồng sinh lực mới kể từ khi chính sách
kinh tế mới ra đời . Thực tiễn đó đã bác bỏ những kể thù của Nhà nước Xô
viết và những bọn hoài nghi khách coi chính sách kinh tế mới như là một
chính sách quay về chủ nghĩa tư bản .
Khi kế thừa những lý luận của Mác- Anghen , Lê Nin đã nói đến một
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là
những nhân tố của xã hội mới và những tàn tích của xã hội cũ tồn tại đan xen
lẫn nhau , đấu tranh với nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế,
văn hoá, xã hội , tư tưởng , tập quán trong xã hội trong giai đoạn này, chưa
có một lực lượng nào thắng thé tuyệt đối , có nghĩa là việc tiếp tục áp dụng
phương thức sản xuất và phân phối cộng sản chủ nghĩa là một sai lầm đáng
3
tiếc và ngay giai đoạn thấp của Chủ nghĩa cộng sản chúng ta cũng không thể
đạt tới được .
Sự thiên tài của Lê Nin được thểhiện ở việc người đã nhận ra sự ấu trĩ
ấy và đã phát triển ngay lý luận của Mác khi cách mạng Xã hội Chủ nghĩa
mới giành được thắng lợi chỉ trong một thời gian rất ngắn . Lênin nhấn mạnh
việc cần phải xác định xem mình đang ở giai đoạn nào của quá trình phát
triển. Những xí nghiệp nhỏ trước đây bị Quốc hữu hoá nay cho tư nhân thuê
hay mua lại đẻ kinh doanh tự do , chủ yếu là xí nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng . Cho phép mở rộng trao đổi hàng hoá giữa thành thị và nông thôn , giữa
công nghiệp và nông nghiệp cho thương nhân được tự do hoạt động ( chủ yếu
là bán lẻ ) để góp phần khôi phục kinh tế thay thế chính sách trưng thu lương
thực bằng chính sách thuế lương thực . Theo chính sách này người nông dân
kinh tế công sản thời chiến không còn thích hợp là một điều tất yếu và cần
phải được thay thế bằng một chính sách khác phù hợp hơn với quy luật của sự
phát triển
Theo Lênin , nền kinh tế xã hội chủ nghĩa vẫn cần phải được tổ chức
theo kiểu sản xuất hàng hoá và vận động theo các quy luật kinh tế hoàng hoá ,
kinh tế thị trượng . Giai cấp vô sản lãnh đạo cần thiết phải biết sử dụng tốt các
quan hệ hàng - tiền , các phạm trù kinh tế của sản xuất hàng hoá để thực hiện
được mục đích của mình . chính sách kinh tế mới ( NEP ) ra đời . Vậy thực
chất của chính sách này là như thê nào và nó có ưu điểm gì hơn so với chính
sáchsách cộng sản thời chiến.
Có thể khái quát toàn bộ nội dung của chính sách kinh tế mới thành
chính sách phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất , đặc biệt đối với một nước
tiểu nông quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây được coi là nhiệm vụ cơ bản và
bức thiết nhất , phù hợp với cương lĩnh mà Đảng đã đề ra .
5
Chúng ta biết rằng bất cứ một lí luận nào đưa ra đều phải dựa trên những
cơ sở thực tế khách quan . Nước Nga lúc bấy giờ là một nước trung nông ,
nông dân chiếm đại đa số nhưng sau chiến tranh nó lại rơi vào tình trạng thiếu
lương thực trầm trọng , nạn đầu cơ tích trữ lúa mì gia tăng khiến cho chính
phủ không thể kiểm soát được tình hình . Các hoạt động sản xuất đều bị đình
trệ , toàn bbộ nền đại công nghiệp bị phá huỷ toàn bbộ sau chiến tranh , công
nhân thiếu việc làm , thiếu lương thực , đời sống hết sức khó khăn . Kể cả đối
với một nước giàu nhất và phát triển nhất thì sau cuộc chiến tranh đế quốc tàn
phá cũng chỉ có thể khôi phục được nền đại sản xuất công nghiệp sau nhiều
năm . Vậy với một nước tiểu nông , giải pháp tối ưu để khôi phục nền kinh tế
phải chăng là cải thiện đời sống của người nông dân và nâng cao lực lượng
sản xuất của họ , đồng thời trong một chừng mực nào đó có thể khôi phục nền
tiểu công nghiệp để giúp đỡ ngay một phần nào đó cho nền king tế nông
dân ?
Lênin khẳng định
không hay chỉ là một bước lùi mang tính chiến lược mà chính quyền Xô Viết
thi hành nhằm đạt được cái mà mình muốn .
Cần thấy ngay rằng với chính sách tự do trao đổi , từng lớp sản xuất
nhỏ đã phát triển nhanh chóng và chủ nghĩa tư bản là cần cho đông đảo quần
chúng nông dân và cho tư bản tư nhân là người phải buôn bán để thoã mãn
nhu cầu nông dân . Để vừa khuyến khích sản xuất phát triển mà vẫn giữ được
bản chất chuyên chính của mình , giai cấp vô sản chỉ có thể thừa nhận cho chủ
nghĩa tư được phát triển ở một chừng mực nào đó . Tư bản tư nhân cần phải
được phát triển theo sự điều tiết của Nhà nước , và điều đó tất dẫn đến sự ra
đời của chủ nghĩa tư bản Nhà nước .
Một nguyên nhân nữa dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa tư bản nhà nước
là ở ngay tình trạng sản xuất của nước Nga lúc bấy giờ . Mác và Anghen dự
báo rằng : Cách mạng vô sản và do đó chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng
sản sẽ nổ ra và thắng lợi cùng một lúc , hoặc trong phần lớn các nước tư bản
tiên tiến ở tây âu . Thế nhưng nước Nga là một nước tư bản trung bình - theo
cách đánh giá của Lênin - đang muốn tiến lên con đường chủ nghĩa xã hội .
Nó không phải là nước Anh xã hội chủ nghĩa hay nước Đức xã hội chủ
nghĩa . Vì vậy nếu chỉ muốn không thôi mà không có nền tảng kinh tế vững
7
chắc thì con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội đột phá vào tương lai là một điều
không tưởng . Lênin nói rõ thêm không có kĩ thuật tư bản chủ nghĩa đựoc xây
dựng trên những trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại thì
không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được . Nhiệm vụ của chính quyền vô sản
Nga là hết sức nặng nề . Làm sao để nước Nga vốn lạc hậu về khoa học kĩ
thuật , trình độ dân chí thấp lên một nước có trình độ khoa học kĩ thuật phát
triển , khoa học kĩ thuật tiến tiến khi mà đại đa số nhân dân là nông dân
nghèo chỉ có biết sản xuất nông nghiệp . Mối quan hệ giữa công nghiệp và
nông nghiệp , nông dân với công nhân không chỉ mang tính chất một chiều
mà người nông dân cũng cần những sản phẩm , hàng hoá của công nghiệp và
thủ công nghiệp, điều đó sẽ kích thích cả công nghiệp và nông nghiệp phát
phần . Nhờ đó , trong một thời gian ngắn , Nhà nước Xô Viết đã khôi phục
được nền kinh tế quốc dân bị chiến tranh tàn phá , ã tiến được một bứoc dài
trong việc củng cố khối liên minh công nông ; một Nhà nước công nông nhiều
dân tộc đầu tiên trên thế giới đã được thành lập , đó là liên bang cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Xô Viết .
Chính sách kinh tế mới còn có ý nghĩa quốc tế của nó . Đối với các nước
tiên tiến lên chủ nghĩa xã hội đều cần thiết vận dụng tinh thần cơ bản của
chính sách đó bchẳng hạn như vấn đề quan hệ hàng hoá - tiền tệ , nguyên tắc
liên minh công nông , sử dụng nền kinh tế nhiều thành phần .
Chính sách kinh tế mới được quán triệt trong các ngành kinh tế và lấy
việc khôi phục nông nghiệp làm nhiệm vụ hàng đầu , là vấn đề cấp bách trước
mắt . Đến cuối xuân năm 1922 , Liên Xô đã vượt qua được nạn đói và
đếnnăm 1925 , nông nghiệp Liên Xô đã vượt mức trước chién tranh .
9
Tổng sản lượng công nghiệp năm 1925 so với năm 1913 mới đặt 75.5%.
tuy nhiên ngành iện và cơ khí chế tạo vượt mức trước chiến tranh , nhiều xí
nghiệp công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm đã đặt và vượt mứ trước
chiến tranh . Trong việc thực hiện chính sách kinh tế mới , Lênin coi thương
nghiệp là mắt xíchtrong chuỗi dây xích các sự biến lịch sử mà Nhà nước phải
đem toàn lực ra mà nắm lấy nó . Do đó thương nghiệp đã được tăng cường
mạnh mẽ .
II-Chủ nghĩa tư bản nhà nước
1.Khái niệm:
Chủ Nghĩa Tư Bản là một hình thái kinh tế xã hội lớn của xã hội loài
người với các giai đoạn phát triển khác nhau.Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước là
một trong những giai đoạn lịch sử quan trọng của Chủ Nghĩa Tư Bản .Không
một ai có thể phủ nhận thành quả của Chủ Nghĩa Tư Bản đã đạt được ,đó là
một bứơc ngoặt của lịch sử.
C.Mac đã có nhận xét xác đáng rằng trong vòng chưa đầy một thế kỷ
thống trị của mình Chủ Nghĩa Tư Bản đã tạo ra một mức sản xuất khổng lồ
Nghĩa Tư Bản độc quyền Nhà Nươc cộng sản thể nói tư bản dẫ tạo ra phần
một nền tảng kinh tế vững chắc với cơ sở khoa học kĩ thuật tiên tiến,nền sản
xuất cơ khí ,tự động hoá tạo ra một khối lượng vật chất khổng lồ.
Lênin đã từng so sánh nước nga với nước Đức lúc bấy giờ và cho rằng
nếu nước Nga có đầy đủ vật chất kỹ thuật như nước Đức thì có thể chuyển
tiếp lên Chủ Nghĩa Xã Hội mà không phải trải qua bất kì một giai đoạn trung
gian nào. Người nhận định rằng “Chủ Nghĩa Tư Bản đọc quyền Nhà nước là
sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho Chủ Nghĩa Xã Hội ,là phòng chờ đi vào
11
Chủ Nghĩa Xã Hội mà giữa nấc thang đó với nấc thang Chủ Nghĩa Xã Hội
không còn một nấc thang nào nữa cả” .Như vậy xã hội cộng sản chỉ có thể
xuất hiện một cách tự nhiên khi những tiền đề vật chất và tiền đề xã hội được
chuẩn bị đầy đủnhất , một “phòng chờ” lý tưởng cho Chủ Nghĩa Xã Hội đã
sẵn sàng.
Nhưng thắng lợi của Cách Mạng Tháng 10 Nga không xuất phát từ
tiền đè nói trên.Là một nước tư bản phát triển trung bình và còn nhiều mặt
hạn che , nước Ngak có cơ sở vật chất kĩ thuật , không có lực lượng sản xuất
phàt triển nhằm tạo tiền đề vật chất cho Chủ Nghĩa Xã Hội ra đời .Chính vì
vậy nó không thể quá độ trực tiếp lên Chủ Nghĩa Xã Hội mà phải lấy mô
hình gián tiếp đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội .người nói trong bối cảnh đó ,phải
biết bắc chiếc cầu nhỏ xuyên qua Chủ Nghĩa Tư Bản lên Chủ Nghĩa Xã
Hội ,đó là Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà nước _một sự trở lại con đường phát triển
hợp quy luật kinh tế.
Khi LÊ_NIN đã đưa quan niệm về Chủ Nghĩa Tư Bản nhà nước ,đã có
rát nhiều người hoang mang giao động .ngay cả bản thân LÊ_NIN cũng bất
ngờ về “thứ Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà nước” không ai dự kiến này .Mọi người
cho rằng” Chủ Nghĩa Tư BảnNhà nước là Chủ Nghĩa Tư Bản “,và ta có thể
cần hiểu như thế thôi .LÊ-nin đã thuyết phục mọi người rằng đó là cách hiểu
kinh viện ,sai lầm vi rơi vào cái bệnh trí thức và chủ nghĩa tự do .bây giờ
muốn xây dựng thành công Chủ Nghĩa Xã Hội thì chúng ta phải thẳng thắn
sẽ hướng sự hoạt động của các doanh nghiệp theo tay lái của nhà nước xã hội
chủ nghĩa .Bởi vậy Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước theo cách nói của Lê-nin
“là cái không đáng sợ “là sản phẩm tất yếu “là một “bước tiến trong sự phát
13
triển của lịch sử đối với các nước quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội tư một nền
kinh tế lạc hậu
Có thể nói nội dung của Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước qua các mặt
sau :
-Sự kiểm kê ,kiểm soát đối với các thành phần kinh tế .
_Các hình thức kinh tế quá đô dựa trên các hình thức sở hữu hỗn hợp về
vốn giữa nhà nước XHCN với nen kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước.
-Việc học tập ,sử dụng có chọn lọc những thàng tựu khoa học công nghệ và
chuyển giao khoa học kỹ thuật,công nghệ ,khoa học kinh tế và quản lý kinh tế
ở các nước tư bản tiên tiến.
-Việc coi trọng lợi ích kinh tế ,hiệu quả kinh tế thông qua việc nhà nước vận
dụng cơ chế thị trường với tư cách là động lực kinh tế của sự phát triểnnề kinh
tế quốc dân.
Từ các khía cạnh trên có thể quan niệm sự hình thành và phát triển Chủ Nghĩa
Tư Bản.Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội ,về nội dung
gắn liền với 3 mức độ:
-Ở mức cao nhất và toàn diện nhất , Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước được
quan niệm như là một hình thức kinh tế-xã hội quá độ
-Ở mức hẹp và thấp hơn ,Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước được quan niệm là
một chính sách,một công cụ mà nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa dùng để điều
tiết và quản lý hoạt động của các thành phần kinh tế ,nhất là kinh tế tư bản tư
nhân trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội .
-Dưới góc nhìn kinhtế,Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước được quan niệm là các
hình thức kinh tế trung gian quá độ.Các hình thức này dựa trên hình thức sở
hữu hỗn hợp giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài
nước.
nhà nước ,Sở hữu hợp tác , Sở hữu không mang tính chất Tư bản Nhà
nước .Tương ứng với các loại hình thức khác nhau là sự đa dạng về các thành
phần kinh tế. Đây cũng là một phần nội dung của chính sách kinh tế mới mà
Lênin đã đề ra.Và nó cũng phù hợp với nền kinh tế thời kỳ quá độ.Quan hệ
sở hữu Tư Bản Chủ Nghĩa với hình thức phổ biến nhất là sở hữu cổ phần
đựoc C.Mác coi là bước quá độ để “biến tất cả những chức năng của quá
trình tái sản xuất hiện còn gắn với quyền sở hữu tư bản giản đơn than chức
năng của người sản xuất đã liên hiệp lại với nhau ,tức là thanh chức năng của
xã hội.,và do đó xí nghiệp của nó cũng biểu hiện ra là những xí nghiệp xã hội.
Điều kiện thứ hai để phát triển Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước có sự can
thiệp của nhà nước vào nền kinh tế .Điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì Chủ
Nghĩa Tư Bản Nhà Nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội phản
ánh mối quan hệ giữa giai cấp công nhân và nhà nước của họ với nhà nước tư
bản .Kinh tế tư bản nhà nước là một kiểu tổ chức kinh tế do nhà nước của họ
với các nhà tư bản.Kinh tế tư bản nhà nước là một kiểu tổ chức kinh tế do nhà
nước của giai cấp công nhân chủ động tạo ra để khai thác ,thu hút các nguồn
lực định hướng các thành phần kinh tế khác phát triển theo con đường Xã
Hội Chủ Nghĩa .Khi áp dụng Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước vào nền kinh tế
Nga thì Chủ Nghĩa Tư Bản sẽ có điều kiện phát triển trong lòng một nước đi
theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa .và như vậy thì Chủ Nghĩa Tư Bản hay
giai cấp vô sản sẽ chiến thắng? Liệu rằng nhà nước vô sản có khống chế được
các nhà tư sản mà phát triển theo những định hướng ,kế hoạch mà mình đặt ra
hay không hay lại bi lật đổ và bị chế nhạo.Ở đây vai trò của nhà nước là rất to
lớn .Để định hướng sự phát triển của Chủ Nghĩa Tư Bản theo chế độ Xã Hội
Chủ Nghĩa thì nhà nước vô sản không chỉ đơn thuần đóng vai trò người quản
lý,điều hành kinh tế quốc dân mà còn phải có thực lực kinh tế làm cơ sở .Do
16
đó nhà nước cần trực tiếp đầu tư vào những lĩnh vực , những ngành trọng yếu
, những vị trí “pháo đài” ,”huyết mạch” của nền kinh tế quốc dân như: kết cấu
hạ tầng kinh tế xã hội , hệ thống tài chính ngân hàng, quốc phòng an ninh…
ngắn bằng sự “du nhập”
Chủ Nghĩa Tư Bản từ bên ngoài vào.Và tác dụng đầu tiên của Chủ Nghĩa
Tư Bản Nhà Nước là lợi dụng sự phát triển của khoa học kĩ thuật của các
nước tư bản phát triển để xây dựng nền đại sản xuất công nghiệp.Qua đó giai
cấp công nhân có thể học tập được cách quản lý và tổ chức một nền sản xuất
lớn , dần khôi phục lại tính giai cấp đã bị mất của mình. “Chừng nào giai cấp
công nhân học được cách sắp đặt tổ chức sản xuất với quy mô lớn” , chừng
nào lực lượng sản xuất xã hội được xây dựng trên những phát minh mới nhất
của khoa học hiện đạithì khi đó mới có thể nói đến Chủ Nghĩa Xã Hội được.
Nước Nga tiểu nông bị bao trùm bởi nạn đầu cơ và tình trạng quan liêu chủ
ngiã mang tính hệ thống , xã hội rơi vào khủng hoảng , tín nhiệm của nông
dân đói với chính quyền Xô Viết bị giảm sút nghiêm trọng .Chỉ có Chủ Nghĩa
Tư Bản Nhà Nước mới “cứu nguy”được cho nền chuyên chính vô sản.Chủ
Nghĩa Tư Bản Nhà Nước sẽ là sự liên hợp nền sản xuất nhỏ lại thành nền đại
sản xuất , một đặc trưng của xã hội cộng sản . Một nước tiểu nông với đại đa
số những người sản xuất hàng hoá nhỏ thì “tính tự phát tiểu tư sản chiếm ưu
thế và không thể không chiếm ưu thế” .Chính những người tiểu tư sản này
đang ngấm ngầm phá hoại sự độc quyền của Nhà nước XÔ Viếtbằng việc đầu
cơ tích trữ, chống lại các biện pháp kinh tế của chính quyền.Nhưng khi Lênin
đưa ra thành phần kinh tế tư bản nhà nước thì mội người đều cho răng chính
Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước mới là kẻ thù của giai cấp vô sản .Vậy thực
chất vấn đề ở đây là gì?Chúng ta đều biết rằng cơ sở kinh tế của nạn đầu cơlà
18
tầng lớp những kẻtiểu tư hữu vô cùng rộng rãi ở nước Nga,có đại diện của
mình trong mỗi người tiểu tư sản, ỏ¬ đây không phải là Chủ Nghĩa Tư Bản
Nhà Nước đấu tanh vớic1 mà là giai cấp tiểu tư sản cộng với Chủ Nghĩa Tư
Bản tư nhân đấu tranh chống lại cả Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước và Chủ
Nghĩa Xã Hội .Như vậy trong thời kỳ quá độ Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước sẽ
là một nhân tố quan trọng giuớ giai cấp công nhân sớm hoàn thành lý tưởng
của mình .
tồn tại hai hình thức hợp tác xa tư bản chủ nghĩa và Xã Hội Chủ Nghĩa trong
lòng chế độ XôViết được coi là một hình thức của Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà
Nước
Đặc trưng các xí nghiệp của hình thức này làsự kết hợp giưã tư bản tư
nhân xây dựng trên đất đai thuộc về xã hội với những xí nghiệp kiểu xã hội
chủ nghĩa chính cống .Chủ Nghĩa Tư Bản hợp tác xã giống Chủ Nghĩa Tư
Bản Nhà Nước ở chỗ nó tạo điều kiẹn cho sợkiểm kê kiểm soát theo dõi
những quan hệ đã ghi trong hợp đồng giữa nhà nước với tư bản và tạo điều
kiện cho hàng triệu người và toàn bộ dânchúng chuẩn bị cho bước quá độ
trong tương lai.từ Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước lên Chủ Nghĩa Xã Hội .
Chế hợp tác dựa trên cơ sở nền sản xuất tiểu công nghiệp ,trên nền sản
xuất thủ công mà một bộ phận mang tính gia trưởng.phải cho cá hợp tác xã
hưởng ơu đãi về tài chính ngân hàng .Theo Lênin đây là một hoạt động văn
minh là chế dộ xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa .
*Hình thớc đại uỷ thác :Hình thớc này là nhà nước lôi cuốn nhà tư bản
với tư cách một nhf buôn ,trả cho họ số tiền hoa hồng để họ bán sản phẩm của
nhà nước và mua sản phẩm của nhà sản xuất nhỏ.
20
*Cho nhà tư bản trong nước thuê các xí nghiệp vùng mỏ ,rừng ,đất
:Hình thức này giống như hình thức tô nhượng Nhưng đối với tô người]ơng
không phải là tư bản người[cs ngoài mà là tư bản trong nước .Hình thức nay
được coi là hình thức riêng biệt để phân biệt nó với hình thức tương tự nhưng
đối tượng thuê chỉ là tư bản trong nước.
*Cho công nhân thuê nhưng hầm mỏ nhỏ :Qua thực tiễn Lênin rút ra
một hình thức nữa của Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước là: cho công nhân thuê
những hầm mỏ .nông dân này hoạt đông theo kiểu nộp tô cho nhà nước Đây
cũng là kiểu cho thuê nhưng đối tượng cho thuê theo cách nói của lênin là
nhưng tiểu tư bản .
*Công ty hợp doanh:Hoạt động của các công ty này là trong lĩnh vực
thương nghiệp ,được thành lập theo thể thức tiền vốn một phần là của tư bản
,thành thị -nông thôn giữa trong nước và quốc tế…
Thực hiên chính sách mới (NEP) mà một phần đặc trưng là Chủ Nghĩa
Tư Bản Nhà Nước ,chính quyền XôViết đã giữ những vị trí vững chắc trong
nông nghiệp và công nghiệp và có khả năng tiến lên được .Nông dân vừa lòng
,công nghiệp và nông nghiệp đang hồi sinh và phát triển .Đó là một thắng lợi
của chính quyền Xô Viết nói riêng và của nền kinh tế trong thời kỳ qua độ nói
chung.Tuy nhiên so vứi sự mông muốn ,mục tiêu ban đầu đặt của Lênin thì
kết quả thực hành chế độ này vẫn còn rất thấp .Nguyên nhân quan trọng nhất
là Chủ Nghĩa Tư Bản đế quốc vẫn đang tìm cách bóp chết chính quyền
XôViết ,vì thế sự hợp tác ,đầu tư của Tư bản nước ngoài vào Liên Xôk đạt
được như sự mông muốn.
B-Vân dụng ở Việt Nam.
22
I-Tính tất yếu khách quan phải sử dụng Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước
ở Việt Nam
1.Tình trạng một nền kinh tế từ xuất phat điểm thầp:
-Trước khi Pháp thuộc nước Việt Nam có một nền sản xuất nông
nghiệp phong kiến lạc hậu .Với sợ sâm lược của thực dân Phápvà nay là đế
quốc Mỹ ,Phát xít nhật và hai cuộc kháng chiến trường kỳ đã làm cho nền
kinh tế nước ta ra vào tình trạng kiệt quệ ,chúng vơ vét tài nguyên ,bần cùng
hoá đời sống con người để dễ cai trị ,bên cạnh đó là nền nông nghiệp với cơ
sở hạ tầng thấp kém,trình đọ kỹ thuật công nghệ lạc hậu
Bước ra khỏi cuộc chiên tranh để vực dậy một nền kinh tế đã vốn sẵn
khó lại có một bước phát triển sai lầm của nước ta là duy trì quá lâu chế độ
tập trung bao cấp trì hoãn sự phát triển của nền kinh tế ,làm cho nền kinh tế
không thể phát triển hơn được do áp dụng dập khuôn máy móc mô hinh trước
đây của Liên Xô
Cũng may đảng và nhà nước ta đã sớm nhận ra được sai lầm và kịp
thời sửa sai sau đại hội Đảng lần thứ VIII (1986) đưa ra đưòng lối mở cửa nền
kinh tế ,nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước là một nền kinh tế
kỹ thuật bảo đảm cho sự tồn tại của Chủ Nghĩa Xã Hội .Việc lựa chọn con
đưòng phát triển cũng phải tính đén những yếu tố đặc trưng của thời đại như
trình độ phát triển khoa học kỹ thuạt hay Chủ Nghĩa Tư Bản đã chuyển sang
một hình thức mới .Chủ Nghĩa Tư Bản độc quyền Nhà nước ,tức là tình hình
hiện nay của nước ta đã khác xa thời Lênin .Điều này đòi hỏi Đảng và Nhà
nước Việt Nam phải có những sáng tạo mới trong việc vận dụng tư tưởng của
Lênin để đưa đất nước nhanh chóng thoát khoi khủng hoảng .
24
Nhưng việc sử dụng ngay quan hệ sản xuất Tư Bản Chủ Nghĩa đặt dưói
sự kiểm kê ,kiểm soát của nhà nước để xây dựng nên công nghiệp lớn _cơ sở
vật chất của Chủ Nghĩa Xã Hội sẽ luôn là sự lựa chon đúng đắn .Hơn thế
nữa ,để Chủ Nghĩa Xã Hội hoàn toàn chiến thắn Chủ Nghĩa Tư Bản khi mà
Chủ Nghĩa Tư Bản đã đạt trình độ phát triển cao dựa trên những thành tựa
của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiên đại ,thì lực lượng sản xuất mà
nhà nước ta tạo dựng phải đạt trình độ hiện đại .Vì vậy chỉ còn cách duy nhất
là sử dụng rộng rãi các hình thức kinh tế cua Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước
* Do nhu cầu xây dựng sản xuất theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa của nền
kinh tế hàng hoá .
Cho tơi thời điểm này ,tính chất hàng hoá của nền kinh tế Xã Hội Chủ
Nghĩa đã đực chứng minh là đúng đắn .Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các
nước Đông Au .các nước Xã Hội Chủ Nghĩa còn lại đều thay đổi đường lối
phát triển kinh tế xã hội của mình .Ở Việt Nam ,để nâng cao trình độ xã hôih
hoá sản xuất ,chúng ta chuyển hướng sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước .Thế nhưng
một vấn đề đặt ra là làm thế nào hạn chế được tính tự phát Tu Bản Chủ
Nghĩa ,hương Chủ Nghĩa Tư Bản vào con đường phát triển của Chủ Nghĩa
Xã Hội ,điều đó lại liên quan đến định hướng Xã Hội chủ Nghĩa của nền kinh
tế .Muốn vậy nhất thiết phải hướng các quan hệ sản xuất Tư Bản Chủ Nghĩa
vào con đương Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước ,lam “ mắt xích trung gian” nối
liền giữa sản xuất nhỏ với sản xuất lớn Chủ Nghĩa Xã Hội : phải dung nạp “