Lời mở đầu
Trong kế hoạch hành động bảo vệ môi trờng và phát triển bền vững giai
đoạn 2000-2001 của Việt Nam thì mục tiêu chiến lợc đợc đặt lên hàng đầu là
bảo vệ và phát triển vốn rừng.
Nh chúng ta biết rừng có vai trò rất quan trọng trong đời sống loài ngời.
Từ khi con ngời xuất hiện trên trái đất thì rừng là một ngời mẹ chở che, nuôi
dỡng. Rừng đã cho con ngời cái ăn, cái mặc, nơ c trú v. v Con ngời đã sinh
sôi nảy nở và phát triển ở khắp mọi nơi trên thế giới đã có khả năng rời bỏ rng
xuống đồng bằng, vào sa mạc và đến ngày nay con ngời đã vợt ra khỏi trái đất
bay vào không gian. Nhng con ngời đã quá lợi dụng vốn rừng khai thác bừa
bãi, kiệt quệ tài nguyên rừng và rừng của trái đất đã đang kê cứu và bảo vệ
rừng cũng chính là bảo vệ cho tơng lai của chúng ta. Theo thống kê hiện nay
trên thế giới có 3.300 triệu ha rừng trong đó rừng ẩm nhiệt đới có 1.120 triệu
ha, rừng ngập mặn 20 triệu ha nhng chỉ có 8% rừng ẩm nhiệt và 9% rừng
ngậm mặn đợc bảo vệ
ở Việt Nam hiện năm 1992 tỷ lệ rừng che phủ 27.7% đến năm 2000 tỷ lệ
rừng che phủ là Theo thống kê hàng năm chúng ta bị mất từ 110.000 ữ
150.000 ha rừng. Vì vậy để bảo vệ và giữ gìn vốn rừng cũng nh các nguồn gen
cho các thế hệ con cháu mai sau chúng ta phải dành ra một số khu vực làm hệ
thống các khu bảo tồn thiên nhiên; Vừơn Quốc gia, Khu văn hoá lịch sử.
Vờn quốc gia Ba Bể thuộc tỉnh Bắc Cạn là một trong 11 vờn quốc gia của
Việt Nam hiện nay. Đây là một di sản rừng núi đá vôi và núi đất của thiên
nhiên từng bao phủ toàn bộ dãy núi từ phiá Đông sang phía Tây Bắc lu vực
sông Hồng. Diện tích vờn là 23.340 ha trong đó có 13.340 ha đợc bảo vệ
nghiêm ngặt và 96000 ha rừng tái sinh, ngoài ra rừng còn có một vùng đệm
rộng 9538 ha nằm ở phía Đông của vờn. Rừng của Vờn vẫn mang nhiều nét tự
nhiện hoang sơ với thảm thực vật dày đặc và động vật phong phú đặc trng. Hệ
thống thực vật còn lu giữ nhiều loài quý cả ở trên cạn và dới nớc. ở giữa rừng
còn có một hồ nớc tự nhiên gọi tên là Hồ Ba Bể. UNESCO đã xếp vờn Quốc
gia Ba Bể là một trong 6 khu di sản quan trọng của thế giới ở Việt Nam. Ngời
Tày và một số dân tộc khác đã sinh sống ở vùng Hồ Ba Bể từ lâu. Từ khi Vờn
khu vực đất đai ở ngoài vờn quốc gia, khu bảo tồn cho ngời dân địa phơng sử
dụng, khai thác nhằm giảm bớt tác dụng của con ngời, tạo một vành đai bảo
vệ bổ sung cho khu bảo tồn. Trên cơ sở đó trong việc xây dựng các kế hoạch
quản lý khu bảo tồn, vờn quốc gia đã gắn đến các hoạt động của khu vực
vùng đệm.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về Vùng đệm. Theo Mackinnon
(1981-1986) Vùng đệm là: Vùng đất nằm ngoài khu bảo tồn hay vờn quốc gia.
Tại đó việc sử dụng đất đai phần nào đợc hạn chế, nhằm tạo ra một vành đai
bảo vệ bổ sung cho khu vực bảo tồn. Đồng thời giúp cho nhân dân sinh sống
trong vùng đợc bù đắp phần nào những thiệt thòi do việc thành lập các khu
bảo tồn gây ra.
Còn Sayer (1991) đã đa ra một định nghĩa nh sau: Vùng đệm là vùng rìa
một Vờn hay khu dự trữ, tơng đơng với một nơi mà những hạn chế về sử dụng
tài nguyên hoặc các biện pháp phát triển đặc biệt đợc thực hiện để tăng cờng
giá trị bảo tồn của khu đó.
Theo Quyết định số 1586 LN/KL ngày 13/09/1993 của Bộ Lâm nghiệp:
Vùng đệm là vùng tiếp giáp với khu bảo vệ xung quanh toàn bộ hay một phần
của khu bảo vệ, Vùng đệm nằm ngoài diện tích khu bảo vệ và không thuộc
quyền quản lý sử dụng của Ban quản lý bảo vệ.
Từ những định nghĩa trên ta thấy Vùng đệm có những đặc trng sau:
- Là khu vực có điều kiện tự nhiên, đặc điểm động thực vật tơng tự nh
khu bảo vệ nhng con ngời đã khai thác quá mức.
- Có dân c sinh sống và yêu cầu phát triển kinh tế của ngời dân là chính
đáng. Vì vậy vấn đề phát triển bền vững Vùng đệm là rất quan trọng. Sự phối
hợp với các hoạt động nhằm phát triển kinh tế cộng đồng sao cho giảm thiểu
áp lực khai thác tài nguyên khu bảo tồn. Sử dụng tối đa các nguồn lực, lợi thế
của Vùng đệm. Đó chính là cách tiếp cận nguyên tắc cùng chung sống và phát
triển.
1.1.2. Ranh giới và quy mô vùng đêm
Nh vậy, vùng đệm có mục đích tạo ra một vành đai bao quanh khu bảo
và vờn quốc gia.
Trong thực tiễn, việc hoạch định vùng đệm cho các khu bảo tồn thiên
nhiên và vờn quốc gia đã phổ biến ở nhiều nớc trên thế giới. ở Việt Nam, lần
đầu tiên vùng đệm đợc đa vào quy hoạch cho Vờn quốc gia Cúc Phơng và sau
đó là các khu bảo tồn thiên nhiên và Vờn quốc gia khác. Tuy nhiên, khó có
một ranh giới rõ rệt đợc xác lập giữa vùng đệm và khu bảo tồn nội vi. Điều đó
cho thấy sự tồn tại của vùng đệm có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển
bền vững của các khu bảo tồn thiên nhiên và vờn quốc gia.
Theo Võ Quý (1993, 1997) chức năng chính của vùng đệm gồm:
Chức năng vùng đệm xã hội: Việc quản lý vùng đệm trớc hết nhằm
cung cấp các sản phẩm thiết yếu đối với cuộc sống của ngời dân địa phơng.
Việc sử dụng những sinh vật hoang dã của vùng đệm có tầm quan trọng thứ
yếu. Tuy nhiên, việc sử dụng đất đai của c dân ở đây không đợc mâu thuẫn với
mục tiêu chính của khu bảo tồn.
Chức năng vùng đệm mở rộng: Việc quản lý vùng đệm nhằm mục đích
mở rộng phạm vi của môi trờng sống có trong khu bảo tồn sang vùng đệm,
nhờ đó mà mở rộng môi trờng sống của các loài hoang dã có trong khu bảo
tồn.
Từ đó có thể hiểu, vùng đệm chính là khu vực diễn ra sự trao đổi lợi ích
giữa các hoạt động kinh tế dân sinh của cộng đồng dân cơ địa phơng và các
hoạt động của các loại sinh vật hoang dã vốn có trong khu bảo tồn, trên cơ sở
đôi bên cùng có lợi.
1.2. Các yêu cầu phát triển trong vùng đệm
Các hoạt động phát triển trong vùng đệm là rất khó khăn và phát triển
phải đợc cân nhắc kỹ. Bất kỳ một hoạt động phát triển nào cũng phải xem xét
các yêu cầu sau:
- Đảm bảo nâng cao điều kiện kinh tế xã hội của các dân c sống trong
vùng đệm, nhằm giảm sự phụ thuộc của họ vào các nguồn tài nguyên thiên
nhiên trong các khu bảo tồn.
- Phải đợc sự tham khảo, thống nhất ý kiến của cộng đồng ngời dân địa
kế hoạch phát triển của huyện có thể lồng ghép đề làm việc này. Những kế
hoạch nh thế có thể chuyển tiếp thành các kế hoạch xã. Một cách tiếp cận và
tạo điều kiện quy tụ các bên có liên quan chủ chốt từ huyện, xã, Ban quản lý
và Vờn quốc gia, lâm trờng quốc doanh, các dự án đặc biệt và các đơn vị thích
hợp khác.
Quyền lực chính để thực hiện các hoạt động trong vùng đệm phải nắm
trong tay các cán bộ và chính quyền địa phơng. Tuy nhiên, họ có thể làm việc
với các cơ quan quản lý khu bảo tồn khác nhau, để các hoạt động phát triển đ-
ợc thực hiện theo cách xác định và lồng ghép các mục tiêu bảo tồn vào các kế
hoạch phát triển.
Sự tập trung vào việc lập kế hoạch phát triển ở cấp huyện và xã, cũng có
thể tạo cơ hội để làm rõ (đặc biật là quyền lực và trách nhiệm) của các cơ
quan khác nhau hoạt động trong vùng đệm, nhằm giảm thiểu sự trùng lặp.
1.5. Những khó khăn trong việc quản lý vùng đệm.
Điều khó khăn nhất gặp phải trong việc quản lý khu bảo tồn ở Việt Nam
là số dân sinh sống phía ngoài sát với khu bảo tồn và tạo sức ép nặng nề lên
khu bảo tồn. Họ phát nơng làm rẫy, săn bắn, chặt gỗ, thu lợm các sản phẩm
của rừng và do đó ảnh hởng lớn đến công tác bảo vệ. Nguyên nhân chính của
mất rừng là đói nghèo và dân số tăng nhanh. Rừng và tài nguyên nh ngời ta th-
ờng nói là "bát cơm" trớc mắt họ là không thể đợc và thậm chí không cho
phép về phơng diện nhân đạo. Con đờng hợp lẽ nhất cho công tác bảo vệ ở đây
là tìm cách thay thế "bát cơm" đó bằng "bát cơm" khác cho ngời nghèo. Sau
đây là một số khó khăn đã gặp phải trong khi tổ chức và quản lý vùng đệm:
- Vùng đệm thuộc quyền quản lý của chính quyền địa phơng (xã,
huyện, tỉnh), nhng chính quyền đại phơng ít quan tâm đến khu bảo tồn, vì họ
không hiểu rõ tầm quan trọng của khu bảo tồn đối với địa phơng họ; họ không
hiểu đợc lợi gì, mà còn mất đi một số quyền lợi vì họ không đợc quản lý khu
vực đó nh trớc; không hiểu ý nghĩa của vùng đệm đối với khu bảo tồn và
không rõ trách nhiệm của họ về vùng đệm; không cấp trên giao nhiệm vụ và
cũng không có hớng dẫn cụ thể về cách quản lý.
chúng ta đa thấy đợc ý nghĩa quan trọng của nó trong công tác bảo vệ khu bảo
tồn thiên nhiên.
Vờn quốc gia Cúc Phơng giải quyết công tác vùng đệm bằng những dự
án nhỏ. Nguồn tài trợ cho những dự án này là quốc gia và quốc tế. Mối dự án
giải quyết một vấn đề của vùng đệm: dự án đầu t phát triển nuôi ong lấy mật,
dự án xây dựng xóm Khanh thuộc xã Âu Nghĩa nằm trên vùng đệm trở thành
xóm phát triển về nông lâm kết hợp với du lịch sinh thái hoặc dự án nâng cao
nhận thức bảo tồn của công đồng đợc triển khai trên toàn vùng đệm.
Vờn quốc gia Ba vì giải quyết vấn đề vùng đệm bằng việc giao đất vùng
đệm hoặc khoán bảo vệ cho nhân dân, xây dựng làng sinh thái. Mục đích của
những hoạt động này là nhằm nâng cao đời sống của ngời dân sống trên vùng
đệm, giảm tác động của họ vào khu bảo tồn.
Vờn quôc sgia Yok - Don coi trọng việc chuyển giao kỹ thuật nông lâm
kết hợp cho ngời dân sống trong các buôn làng trong vùng đệm. Những kỹ s
lâm nghiệp và cán bộ kỹ thuật đợc cử về các buôn làng để hớng dẫn kỹ thuật
canh tác nông lâm nghiệp, thực hiện dự án đầu ta theo chơng trình 327
(Nguyễn Bá Thu 1997).
Ngoài ra, còn rất nhiều các dự án đã và đang triển khai tại các vùng
đệm ở một số khu bảo tồn: Bạch Mã, Nam Cát Tiên, Pù Mát, Kẻ Gỗ và cách
giải quyết vấn đề vùng đệm, rất linh hoạt trong các khu dự trữ thiên nhiên và
vờn quốc gia.
Sự tham gia của ngời dân địa phơng vào việc bảo tồn vờn quốc gia Bạch
Mã. Ví dụ ở thôn Khe Su ở xã Lộc Bì là một ví dụ điển hình của sự thành
công. Thôn Khe Su nằm trong danh giới của Vờn quốc gia Mã Bạch có tới
70% dân trong thôn khai thác rừng tự nhiên bất hợp pháp với thời gian 3 tháng
1 năm (1993) trình độ kinh tế, dân trí thấp, đời sống khó khăn. ban quản lý V-
ờn quốc gia Mã Bạch chọn thôn Khe Su để thí điểm, nếu thành công sau đó sẽ
nhân rộng. Vờn quốc gia Bạch Mã đã khoán bảo vệ rừng cho toàn cộng đồng
và đợc nhân dân ủng hộ. Đến năm 1997, diện tích rừng nhận bảo vệ là 400 ha.
Sau 3 năm thực hiện đã thu đợc nhiều kết quả, 98% dân số đã huyển đổi từ
bền vững trong thời gian dài, dân tộc Dai đã hình thành nền văn minh canh tác
riêng của họ. Ngời Dai đã hiểu ra lợi ích của việc bảo vệ rừng: "không có rừng
thì không có nớc, không có nớc thì không có đất, không có đất thì không có
thức ăn và không có thức ăn thì không có sự sống" và "Đốn cây làm bạn giầu
lên trong thời gian ngắn, nhng những quả đồi trọc làm thế hệ sau nghèo khổ
bần cùng".
Nh vậy đa dạng sinh thái có ảnh hởng đến đa dạng văn hoá, và đa dạng
văn hoá bảo tồn và thức đẩy đa dạng sinh học.
Nhiều nớc trên thế giới nh Australia, New Zealand, Canada,
Inđônêxia có những kinh nghiệm trong việc phối hợp giữa Nhà nớc với ngời
dân địa phơng trong quản lý các Vờn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. ở
Inđônêxa vẫn có 13 bản làng ngời dân địa phơng sinh sống ở đó và việc sn bắn
cổ truyền của họ vẫn tồn tại. ở khu bảo tồn Nerfu ở Zambia Luangua, các
cộng đồng địa phơng vẫn đợc quyền thực hiện việc săn bắn truyền thống. ở
Vờn quốc gia Sagarmatha tại vùng núi Everest, ngời ta đã đem lại quyền lợi
cho ngời dân tộc Sherpa và thu hút họ vào làm cho Vờn quốc gia theo chế ddộ
ngời gác rừng.
Các dẫn chứng trên cho ta thấy rằng vai trò to lớn của cộng đồng dân
địa phơng trong việc bảo vệ rừng và khu bảo tồn. Họ gìn giữ những tri thức
bản địa vô cùng phong phú và đa dạng tự nguyện bảo vệ nơi sinh sống một
cách bền vững.
Chơng 2
Khái quát vờn quốc gia ba bể
2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên
2.1.1. Lịch sử vờn quốc gia Ba Bể
Rừng cấm quốc gia Ba Bể đợc thành lập theo quyết định số 41/ TTg ngày
10 tháng 1 năm 1977 của Thủ tớng chính phủ do một đơn vị trực thuộc hạt
kiểm lâm của huyện (Tỉnh Bắc Thái cũ )quản lý. Từ năm 1978 đến 1989 thành
lập ban quản lý rừng cấm vờn quốc gia Ba Bê thuộc chi cục kiểm lâm tỉnh Cao
Hơng đến ranh giới huyện Ba Bể và Chợ Đồn thuộc đông núi Hoa Sơn.
+Phia tây và nam là ran giới giữa hai tỉnh Bắ Kạn Tuyên Quang, huyện
Ba Bể và Chợ Đồn.Với ranh giới này, vờn quốc gia Ba Bể mở rộng bao gồm
diện tích rừng và đất rừng của 9 xã huyện Ba Bể, thuộc vùng núi đá vôi cacxtơ
đặc trng. Khu đông bắc và các dãy núi đất thuọc dãy Pia Biooc .
2.1.3.Địa hình địa mạo .
Vừơn quốc gia Ba Bể bao gồm một phức hệ sông suối, núi đá vôi, núi
đất có đọ cao từ 150 đến 1500m so với mặt nớc biển. Hồ Ba Bể là phần cuối
của sông Chợ Lèn mở rộng, trớc khi đổ vào sông Năng. Do đó,hồ vừa mang
tính chất sông vừa mang tính chất hồ, với tổng diện tích mặt hồ là 301,4ha, h-
ớng dòng chảy từ nam lên bắc. Phía bắc là sông Năng chảy theo hớng đông
tây bắc và đổ vào sông Gâm. Sông Gâm bắt nguồn từ dãy Pia Biooc, trớc khi
đổ xuống thác Đầu Đẳng chảy qua động Puông dài 300m ở núi Lũng Nham .
ở phía tây còn có 2 suối Tả Han và Pó Lù. Suối Pó lù bắt nguồn từ
huyện Chợ Đồn, chảy ngầm qua dãy núi đá vôi đổ ra cửa động Nà Phòng và
chảy vào hồ Ba Bể .
Hồ Ba Bể có một số đảo đá vôi nhỏ: An Mã ,Khẩu Cúm,Pò Già Mải(đảo
bà goá).Đáy hồ không bằng phẳng, có nhiều đỉnh đá vôi ngầm, có chổ sâu tới
30m, trung bình từ 15 đến 20m, chổ nông nhất đạt 9 đến 10m.Ven hồ phần lớn
là vách đá hiểm trở, nhiều chỗ dựng đứng. Bao quanh hồ chủ yếu là các núi đá
vôi: phía bắc là núi Lũng Nham, núi An với các đỉnh cao 689m,765m, 822m
phia đông là núi Keo Dìu, Khau Vạy,với các đỉnh cao 600m,799m và
642m.Phía tây là núi Pù Nộc Chấp,Pù Che với các đỉnh cao
1043m,975m,694m và 677m. Hai đỉnh cao nhất trong khu vực là núi đất .
Phía nam và phía đông nam là núi đá Quảng Khê và núi cao trung bình
của dãy Pia Biooc, với các đỉnh Pia Biooc 1502m,Hoa Sơn 1517m và 1525m.
Đây là thợng nguồn của con sông Chợ Lèn.Xen kẽ vùng núi đất là một vài núi
đá vôi nhỏ.Vì vậy vờn quốc gia Ba Bể là tổng thể bao gồm một vùng núi đa
vôi dốc mạnh và vùng đất cao trtung bình, kết hợp với sông hồ tạo nên cảnh
quan đa dạng và phong phú.
0
C mùa đông 1
0
C. Mùa lũ thờng tập trung
vào các tháng ma nhiều (tháng 6 -9).Khi sông Năng có lũ lớn đột ngột, nớc
trong hồ Ba Bể không chảy ra sông Năng, sẽ dâng lên có khi đến 2,8m. Khi lũ
sông Năng hạ xuống, nớc hồ lạichảy vào sông Năng và đổ vào sông Gâm.
2.1.6. Địa chất thổ nhỡng.
Hồ Ba Bể nằm trong vùng cacxtơ Chợ Rã - Hồ Ba Bể-Chợ Đồn với hai
khối là đá vôi Givét nằm trên đá phiến Protezoi. Tuổi tuyệt đối của đá Granit
là kỷ Krate muộn, khoảng thời gian là 200 triệu năm. Điều này giải thích sự
già nua của địa hình cacxtơ ở đây, mà ảnh hởng của tân kiến tạo cũng không
làm cho địa hình cacxtơ trẻ lại nh nơi khác.
Trong vùng Chợ Rã - Ba Bể, phổ biến là những thung lũng và các cánh
đông cacxtơ, dới dạng nuíi cacxtơ sót. Độ cao trung bìnhcủa núi cacxtơ ở đây
là 800-900m. Do địa hình độ cao nên địa hình đáy sông Năng không bằng
phẳng có dạng xẻ sâu. Đặc biệt, ở khu vực núi Lũng NHam sông Năng chảy
ngầm dới hang cacxtơ trên chiều dài 300m rộng 40-60m gọi là động Puông.
Tại nhiều nơi sông Năng đã đào sâu tới các lốp đá phiến Protezoi, cắt qua
nhiều lớp đá có đọ rắn khác nhau, tạo thàh thác ghềnh, điển hình là thác Đầu
Đẳng bao gồm 3 bậc mỗi bậc chênh nhau 7-8m. Hồ Ba Bể hiện nay là một
cánh đông cacxtơ nằm trên đờng đứt gãy đã bị tụt xuống do ảnh hởng của hoạt
động tân kiến tạo. Đới tân kiến tạo trung bình rộng 500m, rộng nhất là 800m,
chạy thoeo hớng Bắc Nam, thắt lại tạo thành ba hồ nên có tên gọi là hồ Ba Bể .
Nguồn gốc của cánh đồng cacxtơ cũng đợc chứng minh bằng sự tồn tại
của các bán đảo đá vôi nh An Mã, Khẩu Cúm, Pò Già Mải. Ngoài ra các cánh
đông cacxtơ Chợ Rã trên đờng Phủ Thông, còn thấy các núi đá vôi sót lại. Bên
cạnh khối núi đá vôi này là khối Granit Pia Biooc, hình thành sau hoạt động
nâng lên Inđôxini. Vận động tân kiến tạo sau đó tạo thành các khối xâm nhập
Granit thuộc phức hệ Pia Biooc và Gabro thuộc phức hệ núi Chúa. Hệ núi này
canh
tác
nông
nghiệp
Hồ
sông
suối
Rừng
nguyên
vẹn
Rừng
đã bị
tác
động
Cây bụi
gỗ rải
rác
Rừng
đã bị
tác
động
Cây
bụi gỗ
rải rác
Diện tíchVQG 23340 614 7129 1885 5472 7020 158 687 375
1. Cao Thợng 4550 1172 532 611 2036 199
2. Cao Trĩ 592 281 311
3. Nam Mộu 5161 614 2976 821 195 75 105 375
4. Khang Ninh 911 518 393
5. Quảng Khê 1229 830 212 187
Vờn quốc gia Ba Bể 23.340 602
Vờn quốc gia Cát Bà 15.200 745
Vờn quốc gia Cúc Phơng 22.200 1880
Vờn quốc gia Yokdon 58.200 464
Vờn quốc gia Tam Đảo 36.883 490
Vờn quốc gia Bến én 16.634 462
Nguồn: Báo cáo chuyên đề hệ thực vật vờn quốc gia Ba Bể 1997
2.1.9. Khu hệ động vật.
Kết quả điều tra năm 1995-1997 do PTS Phậm Nhật và các cộng sự
Viện điều tra qui hoạch rừng, đã thống kê đợc 65 loài thú, 140 loài chim, 30
loài bò sát, 15 loài ếch nhái, 49 loài cá. Với tổng số 299 loài thuộc các họ, bộ
và nhóm động vật trên cạn, dới nơc và biết bay.
*Lớp thú có 65 loài thuộc 7 bộ, 23 họ và 52 giống với 22 loài có trong
sách đỏ của Việt nam. Trong đó có một số loài cần đặc biệt là Voọc mũi hếch,
Gấu chó, Hổ, Báo hoa mai, Gấu ngựa, Voọc đen má trắng.
*Lớp chim có 140 loài thuộc 17 bộ, 47 họ và 110 giống với 6 loài trong
danh sách đỏ Việt nam nh:Cốc đế,Hồng hoàng.
*Lớp bò sát có 30 loài thuộc 2 bộ, 11 họ và 23 giống với 12 loài trong
danh sách đỏ của Việt nam nh:Kỳ đà nớc, Rùa hít.
*Lớp lỡng c có 15 loài thuộc 1 bộ ,4 họ và 6 giống với 2 loài trong danh
sách đỏ của Việt nam nh:Êch ang, Êch gai.
*Lớp cá có 49 loài trong đó có 10 loài trtong danh sách đỏ của Việt
nam nh: Chép kính, Trảu, Chày đất .
Bảng . Số liệu tổng hợp các loại động vật có xơng sống trên cạn vờn quốc
gia Ba Bể
Lớp nhóm
Số bộ Số họ Số giống Số loài
Số l-
ợng
Tỷ lệ % Số lợng Tỷ lệ % Số lợng
Việt nam
2.2. Đặc điểm kinh tế xã hội.
2.2.1.Dân số dân tộc và lao động.
Tình hình dân số dân tộc và lao động của các xã vờn quốc gia Ba Bể
đựơc tổng hợp và trình bày trong bảng sau.
Bảng . Tổng hợp tình hình dân số dân tộc và lao động các xã trong vùng
TT Xã Số hộ
Nhân
khâu
Lao
động
Thành phần dân tộc
Kinh Tày Nùng Dao Hmông
1 Chu Hơng 673 3890 1949 284 2522 50 1034
2 Yến Dơng 380 2151 1078 179 1202 30 740
3 Quảng Khê 525 2958 1482 47 2337 18 556
4 Đông Phúc 403 2483 1244 48 1791 580 64
5 Cao Trĩ 392 2237 1121 52 1784 9 392
6 KhangNinh 579 3289 1648 60 2123 114 992
7 Nam Mẫu 432 3119 1563 9 1481 110 1519
8 Hoàng Trĩ 205 1312 657 821 17 474
9 CaoThợng 435 2810 1407 22 1141 797 850
Tổng 4024 24.249 12.148 701 15.202 238 5675 2443
Nguồn: Kết quả điều tra tình hình kinh tế - xã hội VQG Ba Bể 1997
Thành phần dân tộc của các xã vờn quốc gia Ba Bể bao gồm ngời Kinh,
Tày, Nùng, Dao, Hmông. Trong đó đông nhất là ngời Tày 15.202 ngời, tiếp
đến là ngời Dao 5675ngời Hmông 2433, Kinh 701ngời, Nùng 238 ngời. Diện
tích đất lâm nghiệp chiếm 88,3% diện tích tự nhiên, trong khi đó chỉ có 2%
lao dộng sản xuất lâm nghiệp. Đây là sự mất cân đối nghiệm trọng giữa tiềm
năng lao động và đất lâm nghiệp. Tập quán du canh du c làm rãy của đồng bào
chiếm 17,7% trong nông nghiệp, bình quân mỗi hộ mới nuôi 1,5 con trâu;
0,44 con bò và 2,2 con lợn.
Tổng diện tích đất có khả năng lâm nghiệp của vùng là 38.817,4ha tuy
nhiên ngời dân vẫn chủ yếu khai thác tài nguyên rừng mà cha quan tâm tới
trồng và bảo vệ rừng. Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 91,4% diện tích tự
nhiên. Diện tích đất trống đồi núi trọc chiếm 49,2%. Diện tích rừng tự nhiên,
rừng trồng chiếm 42,2%. Đây là diện tích cần đợc bảo vệ nghiêm ngặt bởi
nếu bị khai thác sẽ có rất ít khả năng phục hồi đợc, ảnh hởng nghiêm trọng
môi trơng sinh thái toàn vùng .
2.2.4. Giao thông.
Ba Bể cách Hà nội 240km, cách Phủ thông (quốc lộ 2) 60km và thị trấn
Chợ Rã 18km. Trong vờn quốc gia việc đi lại chủ yếu bằng thuyền máy,thuyền
độc mộc và đi bộ trên những con đờng mòn xuyên qua các xã. Từ Chợ Rã đi
Chợ Đồn một đoạn đờng phải qua vờn quốc gia Ba Bể. Đây là một khó khăn
trong công tác bảo vệ vờn cần phải có phơng pháp khắc phục.
Ngoài ra còn có các con đờng mòn, xe máy đi đợc mới làm:
+Đờng Pắc Ngòi đi Quảng Khê, Hoàng Trĩ và Đồng Phúc
+Đờng mòn theo sông Năng ở phía bắc từ Chợ Rã đi cao Trĩ, Cao Th-
ợng qua Tà Kèn sang Tuyên Quang.
Việc đi lại bằng thuyền gắn máy ,nhất là máy dầu Diesel ngày càng gia
tăng làm tăng thêm ô nhiễm vùng lòng hồ và mất đi vẻ đẹp tự nhiên.
Chơng 3
Hiện trạng dân c, kinh tế xã hội
vùng đệm Vờn quốc gia Ba Bể
3.1. Đặc điểm tự nhiên
3.1.1. Vị trí địa lý:
Vùng đệm Vờn quốc gia Ba Bể nằm ở phía Tây và Tây Nam của huyện
Ba bể bao gồm 4 xã: Khang Ninh, Cao Trĩ, Đồng Phúc, Quảng Khuê.
Toàn bộ diện tích của Vùng đệm là 17.996 ha trong đó đợc chia ra làm
nhiệt trong năm và biên độ nhiệt ngày đêm quá lớn (13,4C năm và trên 12C
ngày đêm). Nhiệt độ cao nhất cũng không vợt quá 40C và nhiệt độ thấp nhất
cũng không xuống dới 0C. Hiện tợng sơng muối hay sơng mù thờng xuyên
xảy ra trong tháng đặc biệt là về mùa đông.
- Lợng ma ở Vùng đệm khá thấp (1378mm) và phân bố không đều
trong năm. Mùa ma kéo dài từ tháng 4-10 chiếm 91% tổng lợng ma cả năm.
Mùa khô từ tháng 11-3 năm sau chiếm 9% cả năm. Với lợng ma tập trung theo
mùa cờng độ ma lớn có ngày lợng ma đạt tới 183mm để gây ra xói mòn đất,
rửa trôi chất dinh dỡng đặc biệt là những nơi có địa hình dốc, không có thảm
thực vật rừng che phủ. Điều này cho thấy để đảm bảo an toàn môi trờng đất
cần phải phục hồi rừng, xây dựng những hệ canh tá đất dốc bền vững, lâu dài
cho ngời dân.
- Độ ẩm không khí trung bình cao, nhất là vào các tháng mùa ma, giảm
dần vào các tháng khô, thấp nhất vào tháng 2-3.
3.2. Đặc điểm kinh tế xã hội
3.2.1. Dân số, dân tộc và lao động
a. Dân số dân tộc
Toàn bộ vùng đệm có 1899 hộ với 10.967 ngời chiếm 16,3% dân số
toàn huyện Ba Bể. Tỷ lệ tăng dân số khá cao: 2,5%
Mật độ dân số trong vùng 61,9 ngơi/Km2. Trình độ dân trí của nhân dân
trong vùng đệm thấp, tỷ lệ mù chữ và tái mù chữ chiếm 30% theo số liệu ở
bảng sau:
Bảng . Dân số, dân tộc và lao động các xã vùng đệm Vờn quốc gia Ba Bể
Xã Số
hộ
Nhân
khẩu
Lao
động
Thành phần dân tộc
Vào những tháng đói trong năm họ phải vào rừng đào bới tìm kiếm các loại củ
cây có chất bột hay các loại lâm sản ngoài gỗ nh măng, nấm để nuôi gia
đình mình. Đời sống của nhân dân không ổn định đã trực tiếp tác động đến tài
nguyên rừng và đa dạng sinh hoạc của Vờn quốc gia.
Cân đối về ngân sách thu chi của xã thâm hụt nặng nề, tổng ngân sách
trên địa bàn huyện chỉ đảm bảo cho chi 10% năm. Do vậy sự phát triển kinh tế
của vùng có điểm xuất phát thấp, sự đầu t của Nhà nớc là rất cần thiết và quan
trọng Nhà nớc cần có sự hỗ trợ vốn để phá vỡ caí vòng luẩn quản (Nghèo-Đói-
Phá rừng-Mất rừng-Nghèo)
b. Cơ cấu phát triển kinh tế.
Tỷ trọng nông lâm nghiệp vẫn là chủ yếu, chiếm trên 90%. Ngành công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp dịch vụ và tất cả các ngành nghề khai thác tỉ
trọng rất thấp.
* Ngành sản xuất nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp của vùng vẫn còn
rất kém, trình độ canh tác lạc hậu các xã phía Bắc vẫn còn giữ nếp canh tác
một vụ, một số xã phía Nam đã áp dụng giống lúa mới cho năng suất cao. Vụ
đông xuân có giống CR203 cấp 1, cấp 2, cấp 3, vụ mùa có bao thai lùn, ải lùn,
đoàn kết giống tạp giao 5 Trung Quốc.
Trong sản xuất nông nghiệp thì sản xuất chăn nuôi và trồng trọt ở các
xã có sự khác nhau.
ở các vùng cao của xã trong vùng đệm cũng nh vùng lõi thì do thời tiết
không thuận lợi cấy lúa chỉ đợc một vụ còn là làm nơng rẫy. Diện tích trồng
ngô, khoai sắn và các hoa màu khác chiếm 50% diện tích trồng trọt, hoạt động
chăn nuôi cũng do địa hình cao nhiều đồi núi nên số lợng trâu bò chiếm cao
60% vật nuôi. Ngoài ra còn có thêm các gia súc gia cầm nh lợn, vịt
ở các thôn vùng thấp, nơi gần hồ, suối có điều kiện về đất đai thì cấy
lúa đợc nhiều hơn (chiếm 70% diện tích trồng trọt) nhng do diện tích đất đai
nhỏ manh mùn, trình độ canh tác thấp nên vẫn không đảm bảo đợc lơng thực
cho tiêu dùng.
* Ngành sản xuất lâm nghiệp: Diện tích đất sử dụng cho lâm nghiệp là